A. Mục đích của phương
Pháp tọa thiền.
Tọa thiền là một
phương pháp rất thông dụng, chẳng những trong đạo Phật mà ở ngoại đạo cũng
vẫn có từ xưa.
Tọa thiền tức là ngồi
để tham cứu một vấn đề gì. Thế nên, tọa thiền không phải là một phương pháp
chứng quả thành đạo, mà là một trong vô lượng phương tiện giúp cho thân được
an, để cho tâm không loạn và được chánh niệm chánh quán. Ngoại đạo chỉ chú
trọng nơi thân mà không để ý đến tâm, trong khi thật ra, tâm mới là phần chánh,
đáng chú trọng hơn cả.
B. Phương pháp tọa
thiền.
Phần này chia làm ba:
1. Điều thân:
Thân lúc nào cũng làm
duyên trợ cho tâm . Thế nên, nếu thân có những cử động thô thiển, khí lực sôi
nổi, và lẽ tất nhiên tâm ý sẽ phù động, do đó khó mà nhập định được. Cho nên,
trước khi tọa thiền, cần phải điều hòa thân. Vậy phải điều hòa thân bằng cách
nào ?
a. Phải điều dưỡng sự
ăn uống:
Sự ăn uống đối với
thân rất hệ trọng, vì bệnh thường phát sinh do nơi sự ăn uống. Có những thực
vật hạp với cơ thể người này, nhưng lại không thể hạp với người kia, và trái
lại. Dù sao, không nên dùng những thứ có dầu mở nhiều, tránh những chất hăng,
kích thích thần kinh như càfé đậm, rượu, trà đậm, thuốc hút v.v… mà chỉ nên
dùng những món ăn sơ sài trong sạch.
Trước giờ tọa thiền
không nên ăn quá no mà chỉ ăn vừa đủ,vì nếu ăn quá no sẽ làm mệt dạ dày, ngồi
không yên ổn. Không ăn chiều, lẽ tất nhiên là thích hợp đặc biệt với việc tọa
thiền niệm Phật.
b. Y phục:
Trước khi tọa thiền,
phải tắm rửa cho thân thể được sạch sẽ để tránh khỏi ngứa ngấm trong người. Sau
đó, trời lạnh thì mặc áo ấm, trời nóng thì dùng y phục mỏng, rộng rãi và sạch
sẽ. Đai lưng (lưng quần) lúc nào cũng phải nới rộng ra.
Những điều trên đây
giúp cho sự hô hấp dễ dàng và không bị lay chuyển bởi thời tiết.
c. Giữ thân cho được
ngay thẳng và vững vàng:
(Nghĩa là làm thế nào
mà khi quên nó, không nghiêng ngã hay lay động). Muốn được như vậy, chỉ có cách
duy nhất là ngồi, vì đi, đứng hay nằm không thể đạt được mục đích vừa nói trên
.
Nhưng nếu ngồi mà
thòng hai chân xuống, thì khi quên, thân lại cũng không vững. Hơn nữa lúc ở
trong nhà, thất có bàn, ghế, giường v.v… thì không nói làm chi, nhưng khi ra
ngoài vườn tược, đồng ruộng hay đến núi rừng để tọa thiền, khó tìm ra chỗ ngồi
có thể thòng chân xuống được dễ dàng.
Thế nên, chỉ có cách
rút chân xếp bằng lại, là giúp cho chúng ta ngồi ngay thẳng và vững vàng mà
thôi.
d. Cách ngồi:
Có nhiều cách ngồi mà
hành giả cần phải chọn lựa cho thích hợp với mình.
* Toàn già (cũng
gọi là kiết già hay Kim Cang tọa): Gác bàn chân trái lên đùi bên mặt, gác bàn
chân mặt lên bàn chân trái, gót hai bàn chân đều phải sát vào bụng.
* Bán già,
có hai cách:
- Hàng ma tọa: gác bàn
chân mặt trên đùi bên trái (như Ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát).
- Kiết tường tọa: gác
bàn chân trái lên đùi bên mặt (như Ngài Phổ Hiền Bồ Tát).
Trong ba cách ngồi,
khi ngồi phải tập cho đầu gối sát xuống chiếu như nhau, hai mông cùng chịu đều
như nhau thì mạch máu không bị cấn, chân không bị tê, cũng không nên dùng nệm
quá dày. Một điều nên để ý, là thường lúc ban sơ, khi vừa ngồi kiết già hay nghe
một chân nặng, một chân nhẹ. Để sửa chữa khuyết điểm đó, chỉ có một cách là
dùng hai tay chống xuống chỗ ngồi để nâng toàn thể thân lên và hạ bên chân hay
mông nhẹ xuống trước, bên nặng xuống sau, đôi ba lần thì hai chân hoặc hai mông
sẽ đều, không còn cảm tưởng nặng nhẹ nữa.
Tay: Hai bàn tay để ngửa,
bàn tay mặt đặt trên bàn tay trái, vừa sát bụng và để nhẹ trên hai bàn chân,
hai đầu ngón tay cái đâu lại (Tam Muội ấn)
Phương pháp để bàn tay
như vậy, theo cổ đức nói, làm cho điện lực trong thân lưu thông đều đặn, không
biến thoát ra ngoài, giúp cho Tâm dễ an ổn.
Lưng: Tay chân đều đâu
vào đó rồi, phải lay chuyển thân thể độ ba, bốn lần cho được ung dung và phải
giữ xương sống ngay thẳng, chẳng khác nào một cây cột đối với cái nhà. Nếu cột
xiêu thì nhà đổ vậy.
Đầu, cổ: Đầu và cổ cũng
phải giữ cho ngay, nhưng không được ngước thẳng quá.
Mắt: Mắt hơi nhắm lại,
để chỉ còn thấy tướng trắng hay sáng bên ngoài mà thôi, đừng mở hẳn sẽ tán
loạn; mà cũng đừng nhắm hẳn sẽ bị hôn trầm.
Miệng: Miệng phải ngậm
lại, chót lưỡi để trên chân rằng hàm trên, răng phải để cho thong thả, đừng cắn
cứng lại, nhờ đó hơi thở sẽ nhẹ nhàng.
2. Điều tức:
Khi thân đã nghiêm
chỉnh rồi, bấy giờ hành giả mới bắt đầu thở ra nhẹ nhàng nhưng cho dài, tâm
nghĩ tất cả ô trược trong thân đều tựa theo không khí mà ra ngoài hết. Đến khi
hít vô cũng phải nhẹ nhàng và cho dài, nghĩ bao nhiêu điều thanh tịnh bên ngoài
đều vào trong hết.
Làm như vậy được hai
ba lần hay đến năm bảy lần nếu cần, cho trong thân được khoan khoái. Sau đó
phải giữ hơi thở nhẹ nhàng thong thả, suông êm, dài ngắn cho quân bình.
Nên để ý, khi điều hòa
hơi thở hành giả thường gặp hai lỗi sau:
a. Phong tướng: tức là hơi thở
ra hít vào, nghe có tiếng gió, do vì hơi thở quá mạnh.
b. Suyễn tướng: tức là tuy thở
ra vào không nghe tiếng, nhưng lại gấp rút hoặc rít sáp không thông.
Nếu khi ngồi tĩnh tọa
mà thấy hai tướng trên đây, đó là triệu chứng tâm không được an định.
Nếu khéo điều nhiếp,
dùng sổ tức thở ra hít vào thong thả, ít lâu sẽ thuần thục, tự nhiên hơi thở sẽ
điều hòa, huyết mạch được lưu thông, trong người sẽ được ung dung khoan khoái.
Thế nên, điều hòa hơi
thở là một công phu hệ trọng đối với phép tĩnh tọa.
3. Điều tâm:
Trước khi tọa thiền,
hành giả có phát tâm trước, hoặc sổ tức, hoặc quán bất tịnh, hoặc niệm Phật
v.v…
Nếu đã phát tâm niệm
Phật, thì hành giả phải nghĩ Ta- bà ngũ trược, nhớp nhơ, là nguồn gốc của muôn
ngàn thống khổ, nơi thân và hiện cảnh, phải làm thế nào thoát ly cho được, tức
là phải yểm ly (chán nản) sanh tử nơi Ta bà mà cầu sanh về Cực Lạc.
Hành giả nhớ ngay đến
cảnh Cực Lạc thuần vui không khổ, có đủ thắng duyên, thắng cảnh trợ lực cho
hành giả mau thành Phật quả, quảng độ chúng sanh, đến đức Phật A- Mi- Đà tướng
hảo quang minh, lúc nào cũng duỗi lòng từ tiếp dẫn chúng sanh về Cực Lạc quốc.
Lúc bấy giờ, hành giả
khởi niệm câu dài “ Nam mô Tây Phương Cực Lạc thế giới Đại từ Đại bi tiếp dẫn
Đạo sư A- Mi- Đà Phật”, rồi lần lần thâu ngắn lại còn bốn chữ “ A Mi- Đà Phật”
lúc đầu niệm lớn, sau niệm thầm để nhiếp tâm cho an trụ vào đó. Khi niệm ra
tiếng hoặc thầm, đều cần thiết là phải niệm cho tiếng nổi rõ trong tâm chậm
rãi, tâm ý nghe rõ, nhận rõ từng tiếng, từng chữ, tức là “ Quán trí hiện tiền”.
Nếu không tâm sẽ tạp niệm (tán loạn), hay ngủ gục (hôn trầm).Nếu tán loạn,
không rõ, lơ là hay khi hôn trầm muốn đến, hành giả phải cử tâm ngay bằng cách
chú ý đến câu niệm Phật.
Có khi hành giả cố
gắng kiềm tâm, nhưng tâm vẫn chạy và nếu tâm chạy mãi, thì có cách phải niệm
Phật và nghĩ ở hai đầu ngón tay cái, đầu hai ngón chân cái hoặc nghĩ ở nơi cái
rún mà niệm.
Làm như vậy, thần kinh
hệ sẽ hạ xuống, tức là cái tâm sẽ hạ xuống mà bớt tán loạn.
Còn nếu bị hôn trầm
thì phải nghĩ ở đỉnh đầu hay ở trán mà niệm thì sẽ hết, vì ý chí phấn khởi.
Hoặc hành giả có thể
niệm theo phương pháp “ Thập niệm ký số”, là khi niệm Phật, phải ghi nhớ rành
rẽ từ một đến mười câu, hết mười câu liền trở lại một, cứ như thế xoay vần mãi.
Nhưng phải niệm trong vòng mười câu mà thôi, không được hai mươi, ba mươi câu,
lại không nên lần chuỗi vì dùng tâm ghi nhớ. Có thể phân làm hai đoạn từ một
đến năm, từ sáu đến mười. Hoặc còn thấy kém sức lại chia ra làm ba hơi, từ một
đến ba, bốn đến sáu, bảy đến mười.
Cần để ý: niệm nhớ và nghe
phải rõ ràng, vọng niệm mới không xen vào được. Dùng phép này lâu sẽ được nhất
tâm.
Điều tâm là pháp môn
tu chủ chánh. Nếu có sự biến chuyển nơi thân, không nên để ý đến, mà phải
chuyên gìn chánh niệm.
C. Phương Pháp giải
tọa (xả thiền)
Khi xả thiền, hành giả
làm ngược lại tất cả. nghĩa là trước hết phải xả nơi tâm, kế xả nơi tức và sau
cùng là xả thân.
1. Xả tâm: Hành giả phải
nhớ lại, coi hiện giờ mình ngồi ở chỗ nào, nãy giờ mình làm gì, nhớ coi mình có
tán loạn hay hôn trầm không, và dù có hay không, cũng vẫn hồi hướng công đức về
Tây Phương để trang nghiêm Tịnh độ.
2. Xả tức: Sau khi xả tâm
xong, hành giả mở miệng thở ra vài hơi thật dài để cho khí nóng trong người
giảm bớt, và để hồi phục lại trạng thái bình thường như trước khi tĩnh tọa.
3. Xả thân: Tâm, tức đều xả
xong, lúc bấy giờ hành giả se sẽ giao động nơi lưng và cổ. Khi mạch lạc chạy
đều, từ từ duỗi hai tay ra, lấy hai bàn tay xoa nhè nhẹ với nhau, rồi xoa lên
mắt. Sau đó uốn lưỡi một vài lần và nuốt chút nước miếng.
Tay và mắt xả xong,
đến lượt hai chân. Trước hết phải lấy tay xoa hai bắp vế, rồi tháo lần lần hai
chân ra, thoa hai bắp chuối và hai bàn chân. Khi nghe hai chân nóng hết rồi,
hành giả chuyển động nhè nhẹ toàn thân rồi đứng dậy, đi tới đi lui.
D. Những điều cần
thiết để tọa thiền có kết quả.
Hôn trầm, ngủ nghỉ là
một chướng ngại trong việc tu thiền, thế nên nơi thân phải bớt ngủ nghỉ.
Phật dạy đầu hôm cuối
đêm thì tham thiền, nửa đêm thì tụng kinh để tự tiêu tức, nhưng nếu mình không
kham nổi thì nên bớt sự ngủ nghỉ. Ban đêm chỉ nghỉ ba canh, từ 11giờ đến 04 giờ
sáng thôi, đó là lời dặn dò của cổ đức vậy. Còn nơi tâm thì phải có sự điều
nhiếp theo hai cách dưới đây:
1. Không niệm tham
dục.
2. Không niệm sân hận.
Nếu thực hành hai cách
này mà không đắc lợi trên đường chánh định, hành giả phải kiểm điểm lại nơi tâm
coi sanh tội lỗi chi không. Hằng ngày phải nói lời dịu dàng, hòa nhã cho tâm
lắng xuống. Đối với người và vật, giữ cho tâm mát mẻ và luôn luôn nhẹ nhàng.
Ngoài giờ tĩnh tọa,
phải giữ câu niệm Phật không rời tâm.Tâm tương ưng với chánh định thì phát ra
khinh an, trong thân sẽ thấy khoan khoái. Thân tâm hiệp nhất, thân cảnh không
hai.
Lúc bấy giờ hành giả ở
trong định vắng lặng sẽ thấy thân tướng Phật, nghe Phật thuyết pháp và những
cảnh giới nhiệm mầu không sao kể xiết… Đó là tướng niệm Phật thiện căn phát
hiện do công phu tọa thiền niệm Phật mà thành công vậy.
-------------------
Trích HƯƠNG SEN VẠN ĐỨC
Tác giả: HT. Thích Trí Tịnh
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét