Thứ Sáu, 15 tháng 9, 2017

Trong Nhị Nguyên thì cái gì phù hợp với mình cái nấy là Chân Lý.

Ví dụ, con mèo săn con chuột thì săn chuột là chân lý của con mèo. Còn chân lý của con chuột là làm sao để chạy thoát khỏi con mèo. Đứng ở góc độ nào thì có chân lý ở góc độ nấy. Khi nào chuyển góc độ khác thì chân lý sẽ thay đổi. Đó là lý do mà chân lý trong Nhị Nguyên là chân lý tương đối.
Vì vậy trong Nhị Nguyên có rất nhiều chân lý. Chỉ khi nào thấy rõ chỗ đứng của người ôm chân lý ấy thì mới có thể tôn trọng chân lý của họ. Bằng không sẽ dẫn đến tranh cãi triền miên về việc cái gì là đúng, cái gì là sai, cái gì là trái, cái gì là phải, cái gì là chánh, cái gì là tà,……

Do vậy mà cổ đức có câu: Khôn cũng chết, dại cũng chết, chỉ có biết mới sống. Biết ở đây không có nghĩa là gió chiều nào thì theo chiều nấy mà biết ở đây có nghĩa là đặc mình và chỗ đứng của người để tôn trọng chân lý của họ. Còn cố ép người phải đứng vào chỗ của mình để tôn trọng chân lý của mình thì điều đó sẽ dẫn đến chiến tranh và hận thù.

Thứ Năm, 14 tháng 9, 2017

Vì sao cúng dường, khen ngợi, chửi bới hay làm hại một phàm phu thì thọ quả khác với cúng dường, khen ngợi, chửi bới hay làm hại một bậc giác ngộ giải thoát?

So sánh vầy đi nha:
Tâm của một phàm phu như một cái ao nhỏ, còn tâm của một bậc giác ngộ (giải thoát) thì như đại dương. Việc cúng dường, khen ngợi, chửi bới hay làm hại cũng giống như khi mình ném một hòn đá xuống ao hồ hay xuống biển vậy đó. Khi hòn đá được ném đi thì sẽ tạo ra những gợn sóng lăn tăn trên mặt hồ. Hồ nhỏ nên những gợn sóng để lại tác động trong phạm vi nhỏ hẹp của cái hồ thôi. Còn biển thì mênh mông nên những gợn sóng để lại tác động trên phạm vi toàn đại dương. Do hồ nhỏ nên sóng thần từ hồ cũng nhỏ. Do đại dương mênh mông nên sóng thần từ đại dương cũng rất khủng khiếp.
Tâm 1 phàm phu tương thông 1 thế giới nên những khởi ý của mình tác động đến chỉ một thế giới. Tâm một bậc giác ngộ (giải thoát) tương thông nhiều thế giới, nên những khởi ý của mình tác động đến  nhiều thế giới. Cho nên khi mình cúng dường 1 phàm phu thì tương đương mình cúng dường 1 thế giới. Khi cúng dường 1 bậc giác ngộ (giải thoát) (nếu tâm vị này tương thông một ngàn thế giới) thì cũng có nghĩa là mình cúng dường một ngàn thế giới. Khi mình chửi bới 1 phàm phu, tương đương mình chửi bới 1 thế giới. Khi mình chửi bới 1 bậc giác ngộ (giải thoát) thì tương đương mình chửi bới một ngàn thế giới.

Túm lại, khi mình cúng dường, khen ngợi, chửi bới hay làm hại một người mà tâm càng nhiều ngăn ngại thì quả mình thọ nhận càng nhỏ, khi mình cúng dường, khen ngợi, chửi bới hay làm hại một người mà tâm càng ít ngăn ngại thì quả mình thọ nhận càng lớn.

Thứ Tư, 13 tháng 9, 2017

Một bậc giác ngộ khác với một bậc giác ngộ giải thoát như thế nào?

Giác ngộ là mới thấy tánh (hay còn gọi là kiến tánh). Nếu ngay lúc thấy tánh mà nhập Niết Bàn luôn thì xem như hết chuyện. Nhưng nếu không nhập Niết Bàn lúc ấy mà lại ráng tiếp tục duy trì cái thân ngũ uẩn thì dù đã thấy tánh vẫn bị tập khí sai khiến. Cho nên một bậc giác ngộ ngay lúc kiến tánh, chính tại thời điểm ấy thì rũ sạch tập khí, vì vậy nếu chết vào lúc đó thì nhập Niết Bàn. Còn thời cơ nhập Niết Bàn ấy trôi qua rồi, phải tiếp tục sống với thân ngũ uẩn thì phải tiếp tục tu để rũ sạch tập khí. Nếu may mắn có thể rũ sạch tập khí ngay kiếp sống này thì khi nào rời bỏ thân ngũ uẩn sẽ thể nhập Niết Bàn. Bằng không phải tái sanh tới lui thêm tối đa 7 lần nữa. Cho nên chớ nhầm 1 bậc giác ngộ hay một người đã kiến tánh là đã xong chuyện lớn. Chưa xong đâu, còn phải đến giai đoạn thể nhập tánh nữa. Cho nên kiến tánh khởi tu là vậy đó.

Còn một bậc giác ngộ giải thoát là người sau khi kiến tánh tiếp tục tu để thể nhập tánh. Khi thể nhập tánh thì chắc chắn là giải thoát cho nên người này gọi là bậc giác ngộ giải thoát. Người thể nhập tánh là người chứng quả Bất Lai hay còn gọi là Vô Sanh Pháp Nhẫn.

Một vị đã kiến tánh thì phải đi tiếp để thể nhập tánh. Còn vị đã thể nhập tánh rồi thì ung dung tự tại mà khám phá ra sự vi diệu của tánh trong cuộc sống hằng ngày.
Chỉ có bậc giác ngộ giải thoát hay nói cách khác là bậc thể nhập tánh mới có thể thấu tỏ nhân quả, vì thấu tỏ nên không còn lầm nhân quả nữa, hay nói cách khác vị này đã quy phục hoàn toàn nhân quả. Vì quy phục hoàn toàn nhân quả mà không còn trở lui lại nữa. Còn vị kiến tánh hay mới chỉ giác ngộ thì vẫn còn bị nhân quả sai khiến nên vẫn phải tái sanh.

Người đã giác ngộ thì mọi thứ đã an bày. Đúng là vậy, một người giác ngộ rồi thì việc giải thoát là việc tất nhiên. Tất nhiên nghĩa là dù họ có khởi ý muốn tiếp tục tu hay không thì vẫn không thành vấn đề, vì tập khí tự tu chứ không phải họ tu. 

Từ bi vô lượng

Không dừng lại không bước tới Như Lai bước khỏi bộc lưu.
Dừng lại là chống đối
Bước tới là chạy theo
Bộc lưu là dòng chảy luân hồi sanh tử.
Khi đối cảnh, không chống đối cũng không chạy theo cảnh thì bước khỏi luân hồi sanh tử.
Thế nào là không chống đối cũng không chạy theo? Đó là hòa, hòa nhập thành một vào cảnh.
Bậc giác ngộ giải thoát khi đối cảnh thì hòa vào cảnh. Khi hòa vào cảnh thì thành kiến định kiến vắng mặt, tâm phán xét, tâm chỉ trích, tâm sân hận không có cơ hội bộc lộ. Khi ấy từ bi vô lượng tự hiển lộ.

Còn phàm phu khi đối cảnh thì hoặc là chống lại hoặc là chạy theo. Có người chọn thái độ dửng dưng mặc kệ. Dửng dưng mặc kệ cũng là một cách chống đối. Vì khởi tâm chống đối hoặc chạy theo cho nên từ bi với tâm khởi như vậy là từ bi của sự dính mắc hay còn gọi là bi ái, khác hẳn với sự từ bi vô lượng của bậc giác ngộ giải thoát. Từ bi không dính mắc, từ bi do vắng đi sân hận và phán xét, cho nên từ bi ấy mới là vô lượng.

Tự làm kem chuối bá đạo

Nguyên liệu để làm món này đa phần đến từ vườn. Cách làm là như sau:
- Chuối chín cây, đốn đem vào để cho chín rục thì lột vỏ rồi bóp nhuyễn.
- Khoai lang luộc chín rồi lột vỏ, bóp nhuyễn.
- Đậu phộng rang chín vàng rồi cà vỏ, sau đó đâm nhuyễn.
- Dừa khô lột vỏ xong, chẻ đôi lấy nước uống, rồi dùng bàn nạo để nạo cái dừa ra.
Sau khi chuẩn bị hết các thành phần thì cho vào thau trộn chung lại với nhau. Chuối, khoai lang, đậu phộng, dừa nạo, rưới thêm sữa không đường cho thơm thơm.
Trộn đều các thành phần với nhau, sau đó lấy muỗng múc cho vào bịch ny lông, dùng tay ấn cho dẹp dẹp Sau đó cho vào tủ đông.
Xong rồi măm măm thôi.
Chỉ là kem chuối thôi mừ, có cần ngon dữ vậy hem.

Hổng có miếng đường nào cả mà nó ngọt lịm lịm lịm cả người.

Thứ Ba, 12 tháng 9, 2017

Khi bị bắt vào viện tâm thần thì làm thế nào để chứng minh rằng mình không điên?

Có hai cách:
Một là tìm mọi cách nói cho người này người kia biết rằng mình tỉnh táo bằng cách nói những thứ cao siêu, nói những điều chỉ có thiên tài mới biết.
Hai là tuân thủ mọi nội quy luật lệ trong trại, đến giờ nào làm việc nấy, hổng có cần phải chứng minh chứng tỏ gì cả.
Cuối cùng người thứ hai được thả ra trước.
Trong việc học đạo cũng vậy. Càng cố chứng tỏ rằng mình tỉnh giác thì càng chứng mình rằng mình chưa tỏ ngộ. Do chưa thật tỏ ngộ nên chính mình đâm ra nghi ngờ cái sự tỏ ngộ ấy bằng cách tìm sự đồng tình của người khác.
Còn người thật sự tỏ ngộ rồi, biết chắc đó là gì rồi thì đâu cần tìm kiếm sự đồng thuận của người khác làm gì. 

Làm sao để bỏ rượu bỏ hút thuốc?

Lúc trước có một vị nói rằng vị này có thể cố gắng để giữ các giới nhưng chỉ có hút thuốc và uống rượu là không bỏ được.
Hút thuốc và uống rượu là thói quen. Để thói quen hình thành thì cần phải có đủ duyên, và để thói quen được loại bỏ thì cũng cần phải có đủ duyên, không thể muốn có hay muốn bỏ thói quen thì cứ thế mà có hay cứ thế mà bỏ là được.
Phải tự quán chiếu thân tâm thì mới biết được do những duyên gì mà mình có thói quen hút thuốc, do những duyên gì mà mình có thói quen uống rượu. Cái này phải tự quán chiếu, không ai làm giùm cho.
Sau khi tìm ra các duyên hình thành thói quen hút thuốc và uống rượu thì tự quán chiếu xem tự mình có thể loại bỏ những duyên ấy hay không. Dùng nguyên lý “Cái này có cái kia có, cái này diệt cái kia diệt.”
Sẳn tiện kể chuyện ở trung tâm thiền Goenka cho mọi người nghe luôn nha! Nghe Goenkaji kể rằng lúc trước có một ông nghiện rượu muốn tham gia khóa thiền 10 ngày tại trung tâm. Bất cứ ai muốn tham gia thì phải tuân thủ nghiêm ngặt các nội quy của khóa thiền, một trong các nội quy ấy là không được hút thuốc, không được uống rượu. Ông nghiện rượu này bắt đầu trả giá với Goenkaji: Con xin được phép tuân thủ tất cả nội quy ngoại trừ uống rượu, cho con uống mỗi ngày 1 ít thôi, không có rượu chắc con chết mất. Goenkaji nói: Không được.
- Mỗi ngày chỉ 1 ngụm nhỏ thôi mà thầy.
- Không được. Phải tuân thủ tất cả các nội quy, không có trường hợp ngoại lệ.
Cái ông ta đi ra ngoài, đi tới đi lui, suy tính ghê gớm lắm, phân vân dùng dằng miết. Rồi ông quay trở vô nói: Được rồi. Con xin hứa tuân thủ nội quy để được tham gia khóa thiền.
Cái ông ta tham gia thiền hằng ngày. Khóa thiền chỉ có 10 ngày thôi. Sau 10 ngày đó, ông ta bỏ hẳn rượu luôn, chẳng những không còn nghiện nữa mà từ đó về sau thấy bạn bè nhậu là ông ta la lên: Tập khí, tập khí. Bỏ đi bỏ đi hì hì hì.
Đó là một trường hợp nhờ thiền quán cảm thọ mà bỏ được rượu, còn có những trường hợp khác bỏ cả luôn nghiện ma túy.

Nhưng việc bỏ được những thói quen đặc biệt là thói quen xấu chỉ là tác dụng phụ thôi. Bước chân vào trung tâm thiền mà đòi tham gia với quyết tâm để chữa bệnh hay để cai nghiện là bị đuổi thẳng cổ. Vì sao? Vì Goenkaji và thầy ổng là U Ba Khin cho rằng: Thiền quán cảm thọ là thiền chân truyền từ ông Thích Ca, mục đích là để giác ngộ giải thoát, đó là mục đích cao cả, kéo cái mục đích cao cả xuống để phục vụ cho mục đích tầm thường là bỏ tập khí xấu hoặc để chữa bệnh là phỉ báng Tam Bảo, cho nên bị đuổi là vậy đó. 

Thứ Hai, 11 tháng 9, 2017

Hỏi: Cõi địa ngục có thật hơm? Cõi Tây Phương Cực Lạc có thật hơm?

Trả lời: Chiếu theo nguyên lý “Cái này có cái kia có, cái này không cái kia không” thì nếu cho rằng cõi người là có thật thì các cõi kia là có thật, nếu cho rằng cõi người không có thật thì các cõi kia không có thật.
Còn cõi người có thật hay không thì tự quán chiếu thân tâm mình sẽ biết có thật hay không thật.
Người giác ngộ giải thoát thì luôn quy phục Nhân Quả, còn phàm phu thì luôn tìm đủ mọi cách chống lại Nhân Quả. Thế nào là chống lại Nhân Quả?
Đó là tin rằng có cõi người mà lại không tin có địa ngục, không tin có cõi cực lạc. Hoặc tin rằng không có cõi người mà lại tin có địa ngục hoặc tin có cực lạc.

Vì luôn tìm cách chống lại Nhân Quả, cho nên phải khổ là vậy đó.

Nhân vô tình thì Quả vô tình.

Nhân hữu tình thì quả hữu tình. Nhân vô tình thì quả vô tình. Đây là sự vận hành của Nhân Quả. Ai nói rằng Nhân Quả là giấc chiêm bao, mở mắt thoát khỏi chiêm bao thì thoát khỏi Nhân Quả là họ lừa mình đó. Vì sao lại như vậy? Vì hổng ai mở mắt chiêm bao to hơn ông Thích Ca đâu, vậy mà cái thân ngũ uẩn của ổng vẫn bị Nhân Quả quýnh cho tơi bời hoa lá hẹ. Thì mình là ai mà đòi thoát khỏi vòng tay của Nhân Quả. Nên nhớ rằng còn ngũ uẩn là còn trong vòng Nhân Quả.
Vì sao tôi biết được điều này? Vì ngày nào mà tôi hổng thọ nhận những quả vô tình. Ví dụ:
-Cái lọ hoa treo trên cao bao lâu rồi hổng sao, bao nhiêu người đi qua đi lại cũng hổng có gì, tôi đi ngang qua có 1 cái mà nó rơi cái bụp trúng ngay đầu tôi cho u chơi. Đó là quả vô tình.
- Ông bác sĩ này xưa nay nổi tiếng mát tay, không bao giờ chẩn đoán sai, 100 người như một, vậy mà đến lượt tôi thì lại chẩn đoán trật lất. Đó là quả vô tình.
Trong số những quả vô tình thì có một chuyện rùng rợn nhất mà tôi từng được kể hồi còn bé. Số là có một người quen làm nghề lái xe tải một thời gian thì chuyển sang nghề dạy lái xe luôn, không bao giờ dám leo lên xe tải lái nữa. Biết sao hông? Chuyện là vầy:
Trong một chuyến chở hàng, ổng chạy bon bon trên đường lộ thì một thèn chạy xe mô tô cứ đánh võng trước xe tải của ổng. Ông này hổng phải dân trẻ trâu, ổng điềm tỉnh như thiền sư vậy đó. Ổng nhường xe mô tô, ổng chạy chậm lại cho xe kia qua trước. Xe mô tô thấy ổng giảm tốc độ thì cũng giảm theo, để rồi lại tiếp tục xuất hiện trước đầu xe ổng. Hai lần nhường đường mà hổng được. Ông tài xế xe tải hơi mất bình tĩnh nơi khi đến một trạm nghỉ chân thì ổng chạy xe vào đó, nghỉ ngơi và uống cà phê cho tỉnh táo. Ổng ở đó khoảng ½ tiếng rồi mới leo lên xe đi tiếp. Chạy bon bon bon bon được một lúc thì đúng cái thèn lái xe mô tô khi nãy hổng biết từ đâu lại xuất hiện và lại đánh võng trước đầu xe ổng. Lần này thì ổng hết làm thiền sư được nữa rồi, làm giang hồ luôn. Ổng nóng máu và nghĩ: Hai lần nhường cũng không được, vào quán nghỉ ngơi cũng không thoát thì tao tránh mày nè con. Ổng tăng tốc lên để chạy qua xe mô tô, vì nghĩ rằng chạy nhanh hơn nó thì mới hy vọng thoát khỏi nó. Lúc này là sáng sớm tinh mơ, ngoài đường hầu như không có ai nha. Ổng tăng tốc lên vượt cái vèo qua mặt thèn mô tô. Vừa qua mặt thì nghe tiếng dây xích rớt loảng xoảng và tiếng xe máy trượt trên đường. Chiếc xe máy nằm sóng xoài giữa lộ. Ổng hoảng hồn thắng xe lại, chạy đến xem. Hóa ra cái dây xích dùng để cột hàng phía sau xe tải tự văng ra rồi chém ngang cổ thèn kia. Rồi từ đó về sau ổng bỏ nghề lái xe tải luôn.

Nhân vô tình thì quả vô tình chứ hổng có vụ chạy làng khỏi Nhân Quả được đâu nha mọi người. Cứ quán sát cuộc sống hằng ngày của mình thì sẽ biết được mỗi ngày mình thọ nhận biết bao nhiêu là quả vô tình.

Chủ Nhật, 10 tháng 9, 2017

Nhân Quả.

Không ai thoát khỏi quy luật vận hành của Nhân Quả. Hễ còn ngũ uẩn là còn chịu sự chi phối của Nhân Quả. Cho dù đó có là Phật Toàn giác Thích Ca Mâu Ni đi chăng nữa, thì còn ngũ uẩn vẫn còn chịu Nhân Quả. Đó là lý do dù là Phật Toàn giác cũng không thể giác ngộ giải thoát giùm cho người khác, bởi vì ngay cả Phật Toàn giác cũng phải quy phục Nhân Quả.
Còn ngũ uẩn là còn chịu Nhân Quả cho dù có là bất kì ai đi chăng nữa.
Nhân Quả thể hiện trong từng cử động của thân khẩu ý. Chỉ cần khởi ý là đã có Nhân Quả trong đó rồi. Vì sao tôi biết điều này? Vì tôi đang chịu sự chi phối của Nhân Quả hằng ngày hằng giờ và hằng phút nên tôi biết.
Quy phục Nhân Quả là quy phục Chân Lý, cũng có nghĩa là quy phục Thượng Đế. Nhân Quả chính là Thượng Đế. Nhân Quả tạo ra Phật, Bồ tát, thánh, chúng sanh đủ loại. Nhân Quả tạo ra thiên hà vũ trụ và tam giới. Nhân Quả chính là Thượng Đế và không ai với thân ngũ uẩn có thể thoát khỏi sự chi phối của Nhân Quả.
Làm sao để thấu tỏ Nhân Quả hay nói cách khác là làm sao có thể gặp mặt Thượng Đế? Chỉ có quay về tự quán chiếu chính mình là con đường độc đạo để thấu tỏ Nhân Quả/để gặp mặt Thượng Đế. Đây là con đường mà chư Phật ba đời đã đi.
Cúng dường mười phương chư Phật cũng không bằng cúng dường chính mình. Cúng dường chính mình nghĩa là tự thân mình thấu tỏ Nhân Quả, quy phục Nhân Quả bằng con đường tự quán chiếu. Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn là như vậy đó.

Sự hình thành bào thai

Pháp chán nản dạy ta suy xét,
Khổ cõi đời số cát sông Hằng,
Tám điều khổ não chi bằng,

Đây lần lượt giải ngọn ngành như sau:

Cõi trần thế ra vào há dễ,
Luật tuần hoàn nào kể chi ai,
Thân ta bất luận gái trai,
Cũng đều mắc phải đọa đày khổ sanh.

Khi nghiệp đến pháp hành cấu tạo,
Thác sanh vào lòng mẹ thành phôi,
Nguyên tố nhỏ nhít vô hồi,
Vốn là chất lỏng, giống dầu mà trong.

Giọt dầu ấy dính lông con thú,
Ta cầm lên rảy giũ bảy lần,
Chỉ còn chút ít dính gần,
Đó nguyên chất tạo nên thân con người.

Bảy ngày đầu còn tươi trong vắt,
Rồi tan dần biến sắc đổi màu,
Đến tuần thứ bảy về sau,
Biến thành một chất trông vào đáng ghê.

Đỏ dợt dợt, mỡ pha lẫn máu,
Bởi nguyên Hành cứ tạo thêm ra,
Lại đến bảy bữa thứ ba,
Hóa thành chất đặc như là thịt dư.

Trong bụng mẹ an cư một chỗ,
Miếng thịt thừa tội khổ xiết chi,
Tuy hình huờn kết thế ni,
Nhưng lại mềm mại như chì rã tan.

Tưởng tượng đến trăm ngàn ghê sợ,
Phôi bây giờ tương tợ trứng gà,
Phôi này còn yếu chưa già,
Tuần tự thay đổi, bảy ngày thứ tư.

Bảy ngày nữa từ từ biến hóa,
Bắt đầu chia tất cả năm nhành,
Tuy hình chưa hẳn thật thành,
Nhưng đã có dạng đầu, mình, chân, tay.

Pháp Hành đã tạo hoài không dứt,
Tuần thứ năm thất nhựt vừa qua,
Nhỏ to hình dáng đẫy đà,
Ba lăm ngày ấy đã ra hình hài.

Ngoài ba tháng thành thai cứng cáp,
Thai loài người nào khác thú đâu,
Cũng đều khổ não âu sầu,
Ở trong bụng mẹ co đầu, rút chân.

Ngồi chồm hổm còn hơn ràng buộc,
Trên đồ ăn vừa được tiêu tan,
Hai tay nắm lại đỡ cằm,
Mặt day lưng mẹ, tối tăm mịt mờ.

Quanh mình vấy chất dơ hôi thối,
Đầu đội đồ mẹ mới ăn vào,
Vừa dơ vừa ngộp xiết bao,
Nên hằng giãy giụa, thân nào đặng yên.

Nếu mẹ chẳng cữ kiêng ăn uống,
Mặc đói no, nuốt bướng nhai càn,
Nóng, cay, nguội, lạnh không màng,
Miễn vừa khẩu dục, ngó ngàng chi con.

Vật thực trúng da non của trẻ,
Nóng giật mình, lạnh sẽ phát run,
Đau thương khổ não khôn cùng,
Như chim bị trận bão bùng mưa sa.

Lại giống khỉ trải qua mưa gió,
Nằm co ro một xó rét run,
Kinh hoàng sợ sệt hết lòng,
Chẳng kham nỗi khổ, day tầm đôi bên.

Hoặc kiếm ở phía trên hay dưới,
Hoặc là nơi mấy bụi gần đây,
Chừng nào tìm được bọng cây,
Chui vào ẩn náu, thân này mới an.

Đủ mười tháng vẹn toàn thân thể,
Gần kỳ sanh, lòng mẹ chẳng vui,
Lo âu dạ luống ngùi ngùi,
Sợ sự tai họa trong hồi khai hoa.

Mãi toan tính đắn đo cân nhắc,
Biển mênh mông chưa chắc đặng qua,
Quẩn quanh công chuyện trong nhà,
Dể duôi nào dám đi xa bao giờ.

Kịp đến lúc ngồi chờ hoa nở,
Quyến thuộc vầy kẻ đỡ, người nưng,
Chịu điều đau khổ từng cơn,
Dầu kiên gan mấy cũng sờn nỗi đau.

Người cả thảy không sao tránh thoát,
Bỗng dường như bão tạt vào thai,
Hài nhi như chớp đã day,
Theo đường kinh huyết ra ngoài sản môn.

May được lúc lâm bồn yên tịnh,
Cả mẹ con khỏe mạnh, vuông tròn,
Ấy nhờ hồng phúc nhà còn,
Chúng sanh kiếp trước gây nhiều thiện căn.

Nếu phước báo không bằng tội ác,
Khi sanh ra chịu các khó khăn,
Dẫu còn sống sót nữa chăng,
Dật dờ dường phải đôi lần đứt hơi!

Vì nhân ác đến hồi trả quả,
Chúng sanh này thảm họa chết non,
Chết ngộp hoặc chết mỏi mòn,
Chết ngoài bụng mẹ, hoặc còn trong thai.

Ngán ngẫm kiếp sanh lai tất tưởi,
Từ thác sanh đến buổi lọt lòng,
Mạng căn nào biết chắc không,
Nhưng đều phải chịu trong vòng khổ lao.
Sưu tầm.

Niệm Phật

Hồi xưa, tôi cũng niệm Phật ghê lắm nha! Biết tôi niệm ai không, tôi niệm ông A Di Đà đó. Mà biết sao tôi niệm ổng không?
Vì hổng biết từ lúc nào 6 chữ Nam Mô A Di Đà Phật bám vào trong tiềm thức. Cái lúc tôi đi hành tẩu giang hồ, tôi leo rừng lội suối, thường xuyên ở nơi xa lạ, có lúc ngủ gần nghĩa địa hoặc ngủ gần xác chết. Chuyện ấy không ghê bằng cái này nè: Lúc ấy tôi lại là người cực kì sợ ma nữa mới gớm chớ. Giữa đêm khuya thanh vắng, 1 mình ở nơi hoang vắng thì cái nỗi sợ ma nó càng trầm trọng, mấy cái bóng cây cứ di di trước mặt, tiếng con này tru con kia hú, con nọ soạt xa soạt xẹt trong bụi rậm, rồi tiếng lá rơi như tiếng chân người đi, tiếng gió thở dài, thanh âm của sự im lặng kì quái, trùi ui là trùi, sợ quá trời sợ, sợ muốn vỡ tim vỡ mật, sợ quá không biết bám víu vào đâu, sợ quá không biết làm gì cho hết sợ, nên chỉ có 6 chữ Nam Mô A Di Đà Phật là mới cứu được. Sợ quá nên niệm, niệm miết niệm miết, lo niệm nên hết sợ hồi nào cũng hổng hay luôn. Hì hì hì.
Túm lại, hợp với ông nào thì niệm tên ông đó. Hợp ông Thích Ca thì niệm ổng, hợp ông A Di Đà thì niệm ổng, hợp Quán Âm Bồ tát thì niệm Quán Âm Bồ Tát, hợp với thánh Alla thì niệm thánh Alla, hợp với Chúa Giê su thì niệm Chúa Giê Su, hợp với thần Shiva thì niệm Om Shri Shiva, hợp với thần Krishna thì niệm Hare Krishna, Hare Hare, …………

Cho nên hợp với ai thì niệm tên người đó thôi!!! Niệm đi mọi người, niệm đến Nhất Tâm Bất Loạn luôn đê!

Hợp với ai thì niệm tên người đó thôi. Hoặc cũng có thể nói rằng: Dính mắc với ai thì phải niệm tên người đó thôi.
 Trong một lần đi hành tẩu giang hồ, tôi dừng chân ở một ngôi chùa Nhật Bản tu theo trường phái Nam Mô Diệu Pháp Liên Hoa Kinh. Họ chỉ đọc duy nhất kinh Pháp Hoa và hằng ngày chỉ tụng niệm duy nhất câu Nam Mô Diệu Pháp Liên Hoa Kinh. Tôi ở đó với họ một thời gian (lý do là tò mò muốn tìm hiểu về trường phái này). Và cũng ở tại đây tôi niệm câu Nam Mô Diệu Pháp Liên Hoa Kinh (tiếng Nhật là Nam Mu Myo He Ren Ge Kyo) đến Nhất Tâm Bất Loạn (vụ này kể ở bài khác nha!)
 Còn vụ Hợp ai thì niệm tên người đó thì kể tiếp như sau. Đây là đoạn trích trong tập hồi kí của tôi (cái này được viết vào thời điểm đó, hổng phải thời điểm này, nghĩa là thời điểm khi sự việc ấy xảy ra). Đoạn hồi kí được đặt trong ngoặc kép:
“““Số là sáng hôm ấy khoảng 8h tôi ôm sách vào cái chòi nhỏ nhỏ gần chánh điện ngồi đọc cho đỡ nóng. Tuy nhiên do lâu ngày không ai ngồi nên bàn ghế đầy bụi bặm. Vậy là tôi hì hục lau dọn. Xong xuôi thì mệt nên chỉ đọc vài dòng là nằm luôn xuống ghế thiu thiu ngủ. Lúc đang thiu thiu, tôi lại thấy mình ngồi dậy và ở băng ghế đối điện là một người đàn ông Châu Á (không biết quốc gia nào) khuôn mặt tròn, tầm 40 tuổi ngồi nhìn tôi cười cười. Hai bên cạnh tôi mỗi bên là một con quỷ đói (hungry ghost) đang đứng. Vì sao tôi biết đó là hai con quỷ đói???? Bởi vì cổ nó dài ngẳng và mỏng như sợi chỉ. Sướng hôn? Tôi ngồi đọc sách có hai quỷ đói “đứng hầu” hai bên hehehehehe.

Nhưng ba nhân vật vô hình này không hề muốn làm tôi sợ đâu các bạn. Dù cả tôi và họ đều không nói gì nhưng tôi lại hiểu ý họ muốn gì: họ muốn tôi ngồi dậy và tiếp tục đọc sách. Nhân vật ngồi đối diện vẫn cười cười còn hai con quỷ đói vẫn ở hai bên. Tôi tuyệt nhiên không hề có cảm giác sợ hãi trước ba nhân vật vô hình này các bạn ạ, mà cảm giác của tôi đối với họ là: thân thuộc như bạn. Chết cha, tôi kết bạn với quỷ đói hồi nào vậy ta?????

(Các bạn ạ, đây là điều mà tôi trải nghiệm đây. Hình như đối với những người thuộc thế giới vô hình thì ngôn ngữ không là rào cản và người ta nói mà không cần mở miệng. Thực tế, tôi không hiểu tôi và ba nhân vật vô hình kia giao tiếp bằng ngôn ngữ gì nhưng tôi lại hiểu ý muốn của họ mới ghê! Tóm lại, khi nào trở thành nhân vật vô hình rồi thì chúng ta không cần học ngoại ngữ hehehehehe. Phấn đấu thành nhân vật vô hình nghen bà con khakhakhakha.)

Dù “bạn” tôi muốn tôi tiếp tục đọc sách nhưng tôi vẫn muốn ngủ nên dùng dằng. Trong lúc ấy thì tôi lại thấy mình nằm xuống và ở phía đầu nằm của tôi khoảng 1 mét, tôi nghe tiếng dây xích lê trên mặt đất. Tôi không nhìn thấy nhưng cảm nhận một sinh vật đang bị xiềng ở cổ chân tiến về phía tôi. Ba sinh vật kia không làm tôi sợ; tuy nhiên đối với sinh vật này dù không nhìn thấy như âm thanh tiếng xiềng lê trên mặt đất làm tôi sợ đến đông cứng cả người. Tôi hoàn toàn tê liệt cả người vì quá sợ và tôi cũng không hiểu vì sao mình lại sợ đến thế! Sợ quá, tôi định niệm: “Nam Mu Myo He Ren Ge Kyo” (Nam Mô Diệu Pháp Liên Hoa Kinh bằng tiếng Nhật) nhưng không niệm nỗi. Tôi định niệm Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật nhưng cũng không niệm nổi. Lúc này thì tôi hoàn toàn hiểu câu: Nỗi sợ làm người ta đông cứng cả suy nghĩ. Niệm bằng tư tưởng chứ có dùng mắt môi miệng hay cử động nào của thân thể đâu mà tôi vẫn không làm nỗi.

Sinh vật kia càng tiến đến gần thì nỗi sợ của tôi càng tăng. Tôi sợ đến nỗi như có ai bóp chặt lấy tim mình lại. Rồi tôi nhớ lại: tôi nắm chặt hai bàn tay lại, để ngón cái vào trong và niệm “Nam Mô Quan Thế Âm Bồ Tát.” Theo truyền thuyết, ai niệm Nam Mô Quan Âm Bồ Tát 3 lần thì sẽ được Ngài giúp nhưng tôi chỉ niệm có 2 lần thôi thì nỗi sợ tan biến hẳn và tôi cảm nhận được một bầu không khí thân thiện từ phía sinh vật kia và từ môi trường xung quanh. Nỗi sợ hãi biến mất hoàn toàn. Thật kỳ lạ!!!!!!!!!! Tôi cảm thấy hình như sinh vật kia muốn “trêu” tôi hay sao ấy???? Vậy ra tôi được những sinh vật vô hình này “chấp nhận” cho “ở chung” rồi à????????????

Lúc ấy thì tôi cũng tỉnh giấc (nhưng tôi không hề có cảm giác là mình vừa ngủ) và ngồi dậy đọc sách tiếp. Tôi không hề có cảm giác sợ hãi cái chòi ấy. Mấy ngày sau tôi cũng đến đấy đọc sách nhưng không bao giờ nhìn thấy những người vô hình ấy nữa. Hình như tôi chiếm chỗ của họ nên họ thử tôi tí xem thế nào và sau khi họ chấp nhận tôi thì tôi không bao giờ gặp họ nữa (dù muốn.) Mấy ngày sau tôi cũng đọc sách và nằm ngủ nhưng chưa bao giờ nhìn thấy họ. Tiếc nhỉ!!!!!!!!!! Thế giới vô hình thật kỳ lạ và làm tôi thấy tò mò quá!!!!””

>>> Bây giờ quán chiếu lại thì tôi nhận ra rằng: Trước đó tôi có lúc đả phá Bắc tông, đặc biệt là hình tượng Quán Âm Bồ tát, dù giai đoạn này rất ngắn và tôi không có chỉ trích từa lưa khắp nơi, tôi chỉ khởi ý và nói với một số người thôi. Tôi chỉ trích cho rằng hình tượng này là giả mạo, hổng có thật. Ờ, đả phá đi cưng, đả phá cái gì thì dính mắc cái đó, cột nút chỗ nào thì phải gỡ ở chỗ nấy. Cho nên dù tôi đã niệm câu Nam Mô Diệu Pháp Liên Hoa Kinh đến nhất tâm bất loạn, vậy mà khi sự việc xảy ra tôi lại không niệm nỗi câu ấy mà chỉ có niệm Nam mô Quán Thế Âm Bồ Tát thì mới thoát ra được. Cột ở đâu thì phải gỡ ở chỗ nấy. Hóa ra tôi đã được trợ duyên để thấm cho được bài học này đấy mọi người!  

Thứ Ba, 5 tháng 9, 2017

Quy luật vận hành của bản ngã

Tất cả mọi thứ đều vận hành theo quy luật của chính nó. Bản ngã cũng vậy. Bản ngã vận hành theo quy luật. Nắm được quy luật vận hành của bản ngã thì không bị bản ngã lừa nữa. Lúc ấy thì mới gọi là bình thản trước mọi sự. Vì sao lại như vậy?

Vì nắm được quy luật vận hành của bản ngã thì biết được một ý/một việc ngay cả trước khi nó khởi sinh và ngay cả trước khi nó bị diệt. Khi mình theo dõi sự khởi sanh và diệt của một ý thì mình vẫn đang bị nó cuốn theo sự sanh và sự diệt ấy. Khi mình biết được trước khi nó sanh và trước khi nó diệt thì mới không bị cuốn. Để làm được như vậy thì phải nắm được quy luật vận hành của bản ngã. Cái này thì không ai dạy ai được, chỉ có mỗi người tự thân trải nghiệm.

Thứ Hai, 4 tháng 9, 2017

Sở tri chướng

Cả cái biết lẫn cái không biết đều là sở tri chướng, chứ sở tri chướng không có nghĩa chỉ là cái biết của bộ não.
Cái biết giống như cái nhà kho tích lũy chất chứa rất nhiều thứ vào.
Cái không biết giống như cái nhà kho hổng có gì trong đó (đây là nói về cái không biết thật sự chứ không phải là cái không biết giả, nghĩa là kho chứa đầy nhóc thứ mà giả vờ là hổng có chứa gì cả.)
Cho nên dù cái kho có chứa hay trống rỗng thì đều là Sở Tri Chướng. Cái kho có chứa cũng như một người đầy kinh nghiệm và kiến thức. Cái kho trống rỗng cũng như một đứa trẻ thơ hổng có kinh nghiệm hay kiến thức gì cả.
Cái vượt qua khỏi cái biết và không biết đó là KHI NÀO CẦN BIẾT THÌ BIẾT, KHI NÀO HỔNG CẦN BIẾT THÌ HỔNG BIẾT. Đây là cái biết thích ứng theo đối cảnh, chứ hổng phải cái biết tích sẳn chờ cơ hội là bung ra, cũng không phải là cái hổng biết gì cả nghĩa là khi cơ hội bung ra đến rồi mà cũng hổng bung ra được.

Vượt qua vượt qua nghĩa là vượt qua được cả cái biết lẫn cái không biết, ấy là VƯỢT QUA.

Chủ Nhật, 3 tháng 9, 2017

Thích ứng

Người thể nhập tánh không cũng giống như nước vậy đó mọi người!
Nước không có hình dạng gì cả. Khi ở trong cái hồ có hình tròn thì nhìn tưởng nước cũng hình tròn. Nhưng không phải, hình tròn là hình của cái hồ không phải hình của nước. Ở trong hồ hình tam giác, nước trông như có hình tam giác. Nhưng tam giác là hình của hồ không phải là hình của nước. Ở trong cái hồ hình vuông thì nước trông như có hình vuông. Nhưng hình vuông là hình của cái hồ không phải là hình của nước,……………..
Khi ở trong hồ hình tròn, hình tam giác hay hình vuông thì nước chỉ việc thích ứng, không chống đối mà cũng không chấp nhận. Thích ứng là bản chất của nước.
Và người thể nhập tánh không cũng vậy, không chống đối cũng không chấp nhận hoàn cảnh mà là thích ứng với hoàn cảnh.
Thích ứng không có nghĩa là chạy theo cảnh mà thích ứng nghĩa là hòa vào cảnh thành một. Khi đã hòa vào cảnh rồi thì không có chạy theo cũng không có đứng lại. Chạy theo là chấp nhận. Đứng lại là chống đối. Đơn giản chỉ là hòa làm một!
Ví dụ, khi gặp người nổi sân, chạy theo cảnh nghĩa là cũng nổi sân theo, chống đối là quán từ bi tâm để đè sự sân xuống. Thích ứng nghĩa là hòa vào cái sân, khi hòa vào cái sân thì không có người sân, không có mình sân cũng không có tập khí sân. Khi hòa vào sân thì sân đoạn diệt. Tương tự, khi hòa vào tham thì tham đoạn diệt. Khi hòa vào si thì si đoạn diệt.

Do vậy người thể nhập tánh không là người thích ứng với hoàn cảnh, thích ứng với tham sân si. Vì thích ứng với tham sân si mà tham sân si đoạn diệt.

Ung dung tự tại

Sự ung dung tự tại của bậc thể nhập tánh không là vầy nè mọi người:
Khi nào cần dính thì họ dính, khi nào cần buông thì họ buông. Do vậy những khái niệm như Vô tâm, Vô Ngã, Như Thị, Giác Ngộ, Chứng Đắc, Giới, Định, Tuệ,….. không còn liên quan gì đến họ nữa. So sánh vầy cho dễ hiểu nha. Giống như một người đã đạt đến tuyệt đỉnh công phu rồi thì khi nào cần dùng vũ khí thì họ dùng, khi nào không cần vũ khí thì họ không dùng. Cho nên dùng vũ khí hay không dùng vũ khí không còn do ý muốn của họ nữa mà do cảnh. Ví dụ có người tay không đánh họ thì họ tay không, có người dùng kiếm đánh họ thì họ dùng kiếm, có người dùng đao đánh họ thì họ dùng đao,…. Cho nên dù vũ khí là tay không, kiếm, hay đao,… đều không còn liên quan đến họ nữa. Ung dung tự tại là vậy đó.
Khi cần dính mà không dính được, khi cần buông mà không buông được thì đó là cảnh giới của phàm phu. Phàm phu còn một cảnh giới nữa là khi cần dính thì tưởng là đã dính nhưng thật ra cái dính ấy là do tưởng mà ra; khi cần buông thì tưởng là đã buông nhưng thật ra cái buông ấy là do tưởng mà ra. Vì cái dính và cái buông do tưởng nên sự khổ vẫn đeo bám là vậy đó.
Còn đối với người thực sự ung dung tự tại thì dính là dính, buông là buông, cái nào ra cái nấy, rõ ràng, dứt khoát, nên khổ không thể đeo bám họ. 

Thứ Năm, 31 tháng 8, 2017

Quy Y Mẹ!

Trên đời này,
 Quy y Mẹ là khó nhất.
Quy y Mẹ là hạnh phúc nhất.
Quy y Mẹ là tối thắng nhất.
Quy y Mẹ là công đức lớn nhất.
Quy y Mẹ là sự cúng dường cao thượng nhất.
Quy y Mẹ là tột cùng của mọi tột cùng.
Quy y Mẹ là thần thông của mọi thần thông.
Quy y Mẹ là diệu dụng của mọi diệu dụng.
Mẹ. Mẹ là tất cả. Mẹ ơi, Mẹ ơi!
Mẹ này là Mẹ của chư Phật ba đời. Ông Thích Ca trước khi ổng nhập Niết Bàn ổng hổng có dặn mình quy y ổng mà ổng bảo là phải Quy Y Mẹ. Mẹ chính là Thầy. Nhưng mà mặt mũi Mẹ như thế nào mình còn chưa thấy thì làm sao mà Quy Y cho nên mới lấy đỡ lời dạy của ổng làm thầy là vậy đó.
Ông Thích Ca ổng hổng có biết cái gì đâu nha mọi người. Ai hỏi gì ổng cũng phải hỏi ý kiến Mẹ xong rồi ổng mới nói. Lúc ổng mới giác ngộ thành Phật toàn giác cũng vậy đó. Ổng muốn nhập Niết Bàn luôn cho rồi. Cái chư thiên thỉnh ổng ở lại. Cái ổng hỏi ý Mẹ, cái Mẹ dạy ổng phải dùng Tứ Diệu Đế và Bát Chánh Đạo mà chuyển pháp luân. Nhờ vậy mà ổng mới chuyển pháp luân được đó.
Bởi vậy ai hỏi cái gì mà mình cũng biết thì đó là cái biết ảo, cái biết của tưởng thức, cái biết của Sở Tri. Còn ai hỏi gì mà mình cũng hổng biết, chỉ biết sau khi hỏi Mẹ thì đó mới là cái biết thiệt. Cái biết của Sở Tri là cái biết tích lũy, cái biết chất chứa. Còn cái biết sau khi hỏi ý kiến Mẹ là cái biết ứng dụng, cái biết theo thời cơ, theo trường hợp, cái biết hổng có tích lũy, hổng có chất chứa.
Túm lại ai mà hỏi gì mà nói hổng biết thì đó chỉ là đối lập lại cái biết Sở Tri thôi. Còn ai hỏi gì cũng hổng biết, muốn biết thì phải hỏi Mẹ cái đã thì đó mới là cái hổng biết thật sự.

Bởi vậy ai hỏi gì cũng bảo họ là: Chờ tôi hỏi Mẹ!

Đúng là lừa con nít!

Ai nói rằng thời này là Mạt Pháp, tu hành hổng dễ, hổng có người kiến tánh, hổng có người đắc đạo, hoặc bậc đắc đạo lặng mất hổng có ra thuyết pháp.
Nói vậy là lừa con nít đó nha!
Thời này mới dễ đắc đạo nè! Hổng thấy hoa ưu đàm nở khắp nơi sao!!!
Hoa ưu đàm nở khắp nơi nghĩa là giờ tu dễ lắm, cứ tu là đắc đạo, dễ ợt hà! Bởi vậy ai nói Mạt Pháp thì đừng có tin nha mọi người. Họ lừa mình đó!
Ai hợp pháp môn nào thì theo pháp môn đó. Ai hợp thầy nào thì theo thầy đó. Theo miết đến khi nào thấy hết hợp nữa thì kiếm pháp môn khác, thầy khác mà theo.
Tu thì dễ mà cái này mới khó nè. Có lại được thân người mới khó nè! Bởi vậy ai bảo tu gieo duyên chờ Phật tương lai là họ lừa mình đó. Mất thân người rồi thì dễ gì có lại được mà nghe lời họ.
Hổng có Mạt Pháp đâu nha! Cũng hổng có tu gieo duyên gì hết. Ai căn cơ dày lắm mới được sinh làm người vào thời điểm này. Tu là tu thật chứ hổng có tu gieo duyên. Bởi vậy tận dụng cơ hội đi mọi người, đừng có nghe lời người ta mà “nhục chí anh hùng.”
Tu đi. Tu nghĩa là đi đứng nằm ngồi ăn ngủ ỉa đái gì cũng đều không rời pháp môn mình đang theo. Theo riết đến khi nào thấy pháp môn này hết có hiệu quả với mình rồi thì tìm pháp môn khác mà theo. Cứ làm vậy miết thì trước sao gì cũng đắc đạo hà. Hổng tin thì làm đi rồi biết!
(Khi mình theo đến tận cùng pháp môn mình đang theo thì theo luật vận hành của nhân quả, mình sẽ tự biết đâu là pháp môn tiếp theo để mà theo. Cho nên hễ bám là bám quyết liệt vào, bám dính hơn cả keo dán sắt. Càng bám chặt thì thời gian chuyển tiếp cho pháp môn tiếp theo càng ngắn. Còn bám theo kiểu hú họa thì thời gian rất dài và rất lâu, có khi chết mất tiêu rồi mà cũng hổng chuyển sang được pháp môn khác luôn.)

Túm lại, ai nói Mạt Pháp thì đừng có tin. Giờ tu dễ ẹt hà. Bởi vậy bám cho thật dính vào pháp môn đi nha mọi người!

Thứ Tư, 30 tháng 8, 2017

Cách Ôm Nghi Tình.

Thực ra Nghi tình là điều rất bình thường, ngay cả trẻ nít cũng có nghi tình. Một trong những người ôm nghi tình giỏi nhất là các nhà khoa học. Nhờ họ ôm nghi tình mà họ mới có phát kiến này nọ, rồi cho ra đủ thứ tiện nghi thiết bị hiện đại. Thực ra ôm nghi tình không chỉ dành riêng cho người tu theo Thiền Tông mà tất cả các tông phái và tôn giáo đều ôm nghi tình nhưng do họ gọi bằng từ ngữ khác nhau nên mới tưởng là họ không có nghi tình.
Nhờ ôm nghi tình mà thái tử Tất Đạt Đa mới bỏ cung điện mà ra đi, và nhờ ôm nghi tình mà ổng mới lang thang hết nơi này đến nơi khác để tìm đạo sư,…….
Thời nay vô số người ôm nghi tình nhưng do không biết cách ôm, đọc sách thấy sao thì làm y chang như người xưa nên ôm hoài hổng thấy bùng vỡ gì cả, mà chỉ thấy tẩu hỏa nhập ma.

Cách ôm nghi tình là như sau:
1. Nghi tình này phải do mình tự nghĩ ra. Ôm lấy những nghi tình đã có lời giải hay ôm nghi tình của người khác thì chỉ là hành hạ bộ não mà thôi. Làm thế nào nghĩ ra nghi tình? Tự tìm cách trả lời cho tất cả những câu hỏi mà mình có khi học đạo. Tìm không ra thì nhờ thiện tri thức khơi cho đầu mối. Nhớ là khơi đầu mối chứ hổng phải trả lời giùm. Từ những cái nghi lặt vặt rồi từ từ sẽ dẫn đến nghi tình lớn. Chính cái nghi tình lớn này mới là mấu chốt cho việc kiến tánh.

2. Khi ôm nghi tình thì một cách vô cùng tự nhiên sẽ tự học được những điều sau:
Thứ nhất là tự biết được cách định. Người ôm nghi tình không cần phải bỏ hết tất cả để ngồi im một chỗ mà ôm đâu. Có thể vẫn làm những công việc hằng ngày, vẫn sinh hoạt bình thường, nhưng do có nghi tình trong đầu, cho nên dù tập trung vào công việc đang làm nhưng vẫn định được vào nghi tình. Do vậy nghi tình có thể bùng vỡ bất cứ lúc nào, bất kể thời điểm nào là vậy đó.

Thứ hai là tự biết được thế nào là thiền ngủ. Một khi đã có nghi tình rồi ngay cả trong giấc ngủ cũng không rời nghi tình. Không có nghĩa là ngủ chập chờn đâu nha. Vẫn ngủ ngon như thường nhưng nghi tình vẫn không rời. Cho nên có khi nghi tình bùng vỡ trong lúc đang ngủ đấy.
Tự cho là mình ôm nghi tình mà không biết được định và thiền ngủ thì đó chỉ là ảo tưởng mà thôi nha!

3. Càng ôm nghi tình thì càng ghiền. Bởi vì càng ôm thì thân tâm càng nhẹ nhàng. Não bộ phát tiết ra hóc môn tích cực. Cho nên dù gọi là ôm nghe có vẻ khổ sở nhưng lại chẳng khổ sở, chỉ có hưng phấn. Vì ôm nghi tình hưng phấn như vậy cho nên ôm nghi tình là một sự tình nguyện tích cực chứ hổng phải bị bắt buộc đâu nha. Ai ôm nghi tình mà thấy giống bị ép thì coi chừng đi lạc rồi đó.
Ngoài ra càng ôm nghi tình thì khả năng định càng cao. Càng dính vào nghi tình thì càng định, dù vẫn sinh hoạt bình thường.

4. Khi nghi tình chuẩn bị bùng vỡ thì hành giả biết được điều đó. Đến lúc này thì hoàn toàn hiểu vì sao thái tử Sĩ Đạt Ta lập nguyện là nếu không giác ngộ thì không rời cội bồ đề. Bởi nghi tình của ổng chuẩn bị bùng vỡ rồi và ổng biết rất rõ điều đó nên ổng mới lập nguyện. Hành giả ôm nghi tình cũng vậy đó. Khi nghi tình chuẩn bị bùng vỡ thì biết trước luôn. Do biết trước nên lúc ấy họ chẳng còn màng đến mạng sống nữa, sẳn sàng làm bất cứ điều gì, thậm chí có thể lao cả xuống vực để cho nghi tình bùng vỡ. Do biết chắn chắn rồi thì họ mới liều mạng chứ họ hổng phải là dân “điếc không sợ súng” đâu nha. Nhưng mà mọi người cũng đừng có sợ hãi rằng Lỡ chết thiệt thì sao? Chết mà kiến tánh thì cũng đáng chết. Nhưng mà đừng có lo, trừ phi dính định nghiệp thôi, chứ lúc ấy thì toàn vũ trụ hợp lực lại để che chở cho một hành giả chuẩn bị bùng vỡ nghi tình đấy. Hổng tin thì cứ tự đi đến giai đoạn ấy đi rồi tự biết.

Lưu ý 1: Nghi tình của ai thì tự ôm, tự giải quyết, còn dùng nghi tình để đi thách đố hết người nọ đến người kia thì đó là bệnh.
Lưu ý 2: Hành giả sau khi bùng vỡ nghi tình thì không có dùng nghi tình ấy để đi thách đố người này người nọ. Nếu nghĩ rằng mình đã bùng vỡ nghi tình mà dùng nó để đi hỏi người thì sự bùng vỡ ấy là ảo tưởng, hổng phải là thật.
Lưu ý 3: Sự trải nghiệm này mang tính cá nhân, viết ra để tham khảo.  

Thứ Hai, 28 tháng 8, 2017

Nước Cam Lồ và nhành dương xỉ

Tôi hiểu được ý nghĩa của bình nước Cam Lồ và nhánh dương liễu trong tay Quán Âm Bồ tát rồi nè mọi người!
Khi sự sân hận bị dập tắt và nguội lạnh thì toàn bộ thân tâm đều tràn ngập bởi sự mát mẻ và thanh tịnh của từ bi. Sự mát mẻ thấm vào từng thớ thịt, từng tế bào, từng giọt máu. Khi ấy thì toàn bộ thân tâm đều trở thành bình nước Cam Lồ. Chỉ có mát mẻ và thanh tịnh. Khi ấy mọi ý nghĩ, mọi lời nói, mọi hành động đều y như nhánh dương liễu được Bồ tát nhúng vào bình nước Cam Lồ và phẩy ra ngoài vậy đó. Sự thanh tịnh và thiện lành có mặt trong từng ý nghĩ, trong từng lời nói, trong từng hành động. Khi ấy thì mọi ngọn lửa sân hận xung quanh đều bị dập tắt.
Cho nên hình ảnh Quán Âm Bồ tát tay cầm bình nước Cam Lồ, tay cầm nhành dương xỉ nghĩa là khi sân hận tắt thì mỗi người đều trở thành Quán Âm Bồ tát, với sự mát mẻ của thân tâm là nước Cam Lồ, sự khởi ý là nhành dương xỉ. Khi ấy thì nghĩ gì cũng thiện, nói gì cũng thiện, làm gì cũng thiện.

Quả là một hình ảnh rất đẹp! Tán thán công đức cho vị nào tạo dựng ra hình ảnh này!

ÔM HAY DỤNG?

Vì lầm tưởng giáo pháp của Đức Phật là Chân Lý nên mới có sự chia rẻ tông phái và tôn giáo. Đức Phật nói về Tứ Diệu Đế và Bát Chánh Đạo. Đó không phải là Chân Lý. Đó là phương tiện để thấy ra Tứ Diệu Đế và Bát Chánh Đạo ngay nơi chính mình. Chúa Giê Su nói về Bình Đẳng và Bác Ái. Đó không phải là Chân Lý. Đó là phương tiện để thấy ra Bình Đẳng và Bác Ái ngay nơi chính mình. Thánh Alla tuyên truyền phụng sự nhân loại. Đó không phải là Chân Lý. Đó là phương tiện để thấy ra sự phụng sự nhân loại ngay nơi chính mình. Không một giáo pháp nào là Chân Lý. Tất cả đều là phương tiện để chỉ Chân Lý. Không một vị thầy, không một bậc đạo sư, không một vị thánh, không một vị thần nào, kể cả Phật Toàn giác, không ai có thể dạy người khác Chân Lý, không ai có thể thấy Chân Lý giùm người khác. Họ chỉ có thể giúp người khác bằng cách cung cấp cho họ phương tiện để họ tự thấy ra Chân Lý.
Tất cả giáo pháp đều là phương tiện. Vì nhầm giáo pháp là Chân Lý nên mới có chia rẻ tông phái, vì nhầm giáo pháp là Chân Lý nên mới có Thánh Chiến, vì nhầm giáo pháp là Chân Lý nên mới có đánh bom tự sát,…….
Ôm phương tiện làm Chân Lý nên mới có chia rẻ và xung đột. Ôm phương tiện làm Chân Lý nên mới có tôn giáo mình, tôn giáo người. Ôm phương tiện làm Chân Lý nên mới có thầy mình, thầy người.
Túm lại tất cả mọi rắc rối của chúng ta đều xuất phát từ CÁI ÔM. Cho nên thay vì ÔM thì hãy DỤNG.
Thế nào là DỤNG?
DỤNG là bất kì ai nói điều gì thì hãy quán chiếu điều ấy ngay nơi chính mình.
Quán chiếu ngay nơi chính mình, đó là DỤNG.

Quán chiếu ngay nơi người, đó là ÔM.

Chủ Nhật, 27 tháng 8, 2017

Chửi và Từ Bi

Người thật sự từ bi không bao giờ chửi người vô tội vạ. Đó là bất khả thi. Vì sao? Vì khi từ bi phát khởi thì miệng không thể nói lời thô tục, ý không thể khởi lên sự chửi bới nào cả. Một khi từ bi phát lộ thì chửi bới là một việc làm bất khả thi. Không thể chửi khi có từ bi.
Còn người từ bi mà vẫn có thể chửi người thì đó chính là đại đại đại bi, vô cùng khó. Vì sao?
Vì từ bi thì không thể chửi, mà để có thể chửi với từ bi thì đó là làm việc không thể làm. Vì làm việc không thể làm mà vẫn làm thì toàn thể thân tâm đều bị rúng động trước hành động đó. Nó ảnh hưởng rõ nhất là lên nhịp tim. Cho nên chỉ trừ những trường hợp cực kì đặc biệt thì người từ bi mới phải dùng phương tiện chửi. Và vì chửi trong sự đớn đau của toàn thân tâm nên người nghe khi nghe chửi không thể khởi lên sự sân hận mà ngược lại cảm thấy cực kì cảm động khi bị chửi. Do đó tiếng chửi ấy có thể cảm hóa người là vậy. Chửi trong từ bi là chửi cùng với sự đau đớn của toàn thân tâm. Còn khi mình chửi người mà chửi xong mình lại thấy khỏe re vì trút bỏ được gánh nặng, hay càng làm cho mình hăng chửi bới thêm nữa, mà hổng thấy được sự đau đớn của thân tâm thì đó là chửi trong sân hận. Tiếng chửi trong sân hận thì chỉ mang lại hận thù mà thôi.
Cái này có thể so sánh với trường hợp một người mẹ có một đứa con duy nhất, bà mẹ yêu thương con hết mực, nhưng đứa trẻ này sanh tật hư đốn quá, bà mẹ buộc phải đánh con. Đánh con mà toàn thân tâm đều đau đớn. Đánh con một roi mà y như tự đánh mình 10 roi. Con đau một mà mình đau mười.
Thì người chửi người khác trong từ bi tâm cũng y chang bà mẹ đánh đứa con một này vậy.

Còn khi mình chửi mà mình hổng thấy đau gì cả thì đó là tiếng chửi vì sân hận, hổng phải vì từ bi đâu nha!

Thứ Sáu, 25 tháng 8, 2017

Đổ máu ở trường thiền.

Đúng là chuyện này vui ghê luôn!
Tôi ở ngoài chửi bới người ta quá trời, vậy mà hổng có bị đổ máu.
Vào trường thiền chỉ ngồi thiền thôi mà bị đổ máu.
Chuyện là vầy:
Tôi tham dự khóa thiền quán cảm thọ ở trung tâm thiền Goenka, khóa thiền 10 ngày, trong 10 ngày không được nói chuyện kể cả nói bằng ánh mắt hay nụ cười.
4h sáng phải dậy và 9h tối mới được đi ngủ.
Nhờ tham dự khóa thiền quán cảm thọ mà tôi phát hiện ra mình sân hận ngút trời. Trước đó ai nói cũng hổng có tin, toàn là tưởng mình đang giúp người ta, toàn là tưởng mình là người thẳng tánh như ruột ngựa, toàn là tưởng mình là người có sao nói vậy, toàn là tưởng mình chửi là chửi vậy thôi chứ làm gì có chuyện sân hận, chửi mà hổng có ghim thì lấy gì mà sân lấy gì mà hận, toàn là tưởng mình nói ra sự thật cho nên ai đó bị nhột mới chửi lại mình, toàn là tưởng mình từ bi bác ái nên mới nói như vậy với người khác,…………….
Những cái toàn là tưởng này cũng chỉ là toàn mà tưởng nếu tôi không may mắn tham gia vào khóa thiền quán cảm thọ. Trong toàn khóa thiền hầu như chẳng có thiền sinh nào giống như tôi cả. Mà cũng có thể tôi là trường hợp mà giáo viên trợ giảng mới gặp lần đầu nên thành ra cũng lúng túng, hổng biết sao mà lần.
Không ai giống tôi ở chỗ này. Trước khi khóa thiền bắt đầu tôi là người cực mạnh khỏe. Ngày đầu tiên vào thiền đường, vài người húng hắng ho, rồi sổ mũi ì xèo. Tôi tỉnh bơ, hổng có bị gì cả. Trước khi đến khóa thiền tôi tham dự một khóa yoga và tập yoga hằng ngày nên khỏe như trâu, cho nên ai bệnh thì bệnh, tôi tỉnh rùi rụi luôn.
Vậy mà qua đến ngày thứ 3 thì tôi lại đổ bệnh, mà khi bệnh rồi thì bệnh còn kinh khủng hơn người khác. Tôi bị ho, tôi bị sổ mũi, tôi bị nóng trong người, dù khi ấy là mùa đông. Tôi than phiền với giáo viên trợ giảng rằng: Trước khi đến đây tôi khỏe như trâu mà giờ bị bệnh thì chắc chắn là mấy thiền sinh khác lây bệnh cho tôi rồi. Giáo viên trợ giảng lại nói: Hổng phải vậy đâu. Ngồi thiền mà bệnh là dấu hiệu rất tốt, chứng tỏ là con đang đi đúng đường đấy. Tập khí bắt đầu xổ ra ngoài qua con đường bệnh đấy. Đừng có bỏ cuộc (bởi vì tôi bắt đầu khởi ý bỏ ra ngoài cho rồi, ở lại lây bệnh thì ở làm gì)
Nghe được khen là đang đi đúng hướng nên khoái, ở lại thiền tiếp .Không ngờ bệnh ngày càng nặng, đặc biệt là bệnh ho.  Cơn ho không dằn được, ho khản tiếng bể phổi. Cứ vào thiền đường là ho, ho ghê gớm, ho dữ dội, ho thành từng tràng, y như mấy người bị ho lao. Tối không ngủ được vì bận ho. Vậy mà giáo viên trợ giảng và các thiền sinh khác không ai nói gì (vì bị cấm nói thì lấy gì mà nói) cũng không ai tỏ thái độ gì (có được phép nhìn thẳng vào mặt ai đâu nên dù họ có tỏ thái độ cũng chả biết luôn.)
Từng ngày trôi qua, tôi khổ sở với những cơn ho. Rồi tôi phải bỏ luôn uống trà và ăn nhẹ vào buổi chiều (thiền sinh mới thì mới được ăn nhẹ chiều còn thiền sinh cũ thì chỉ ăn sáng và ăn trưa thôi), vì tôi nghĩ mấy cái này làm cơ thể tôi bị nóng nên ho. Vậy mà vẫn cứ ho khằn khặc miết. Cơ thể nóng phừng phừng, nóng đổ lửa, dù khi ấy là mùa đông. Tôi ngồi thiền không cần quấn mền, quấn áo ấm gì cả, cứ vậy mà ngồi, vậy mà vẫn nóng. Mỗi khi tôi nhắm mắt lại thì toàn là cảm giác đang ngồi ngoài trời trên bãi biển vào 12h trưa và mặt trời đang chói chang ngay trước mặt.
Dù loại bỏ hết những món mà tôi nghi khiến cơ thể tôi bị nóng, mỗi ngày đề nghị nhà bếp cung cấp cho tôi hai trái chanh tươi để tôi vắt nước uống để loại bỏ cơn nóng đang phừng phừng trong người. Nghĩa là vắt chanh vào thẳng nước mà uống cho dịu cơ thể lại chứ hổng có thêm đường đâu nha. Vậy mà cơ thể tôi vẫn nóng. Rồi một ngày, sau khi đi được khoảng 2/3 hành trình thì tôi phát hiện tôi bị đổ máu cam. Máu chảy ra từ mũi. Tôi lạ lẫm vô cùng bởi vì theo trí nhớ của tôi thì chắc phải hơn chục năm rồi tôi mới thấy mình bị chảy máu cam đấy. Chỉ lúc còn bé tí mới bị thôi. Vậy mà tôi chảy máu tè le ở trường thiền mới ghê chớ!
Ho, cơ thể phừng phừng, chảy máu cam le lét, vẫn chưa hết chuyện đâu nha.
Trong một buổi tối tôi ngủ và mơ một giấc mơ vô cùng kinh dị, một giấc mơ mà khi thức dậy tôi cứ nhớ mãi, tim đập thình thịch, tay chân run rẩy, đổ mồ hôi hột. Đó là trong giấc mơ tôi thấy mình bị một con ma nơ canh (loại mà mấy cửa hàng thời trang hay dùng để mặc quần áo mẫu) và tôi biết tên con ma no canh này luôn. Nó tên là Sân Hận. Nó đi theo sau lưng tôi khiến tôi thất kinh hồn vía, bỏ chạy thục mạng, nhưng nó bám chặt sau lưng, tôi chạy đi đâu nó theo đến đó. Tôi thấy mình băng qua đủ mọi địa hình, từ đồng cỏ, đến rừng núi mà nó vẫn bám theo sau lưng như một bóng ma kinh dị. Tôi càng bị rượt thì càng hoảng loạn, chạy miết chạy miết, rất rất rất là mệt. Rồi tôi chạy vào một khu rừng nọ có một cây cổ thụ với những cái cành to thiệt to. Tôi không thấy con ma nơ canh chạy sau lưng nên chạy chậm lại và thở hổn hển thì từ trên nhánh cây to, một con ma nơ canh khác rớt cái bịch trước mặt tôi và bắt đầu rượt tôi chạy. Tôi biết luôn tên con ma nơ canh này. Nó tên là Yêu Thích. Nó cũng khiến tôi sợ vô cùng nhưng nỗi sợ nhẹ hơn rất rất rất nhiều so với nỗi sợ do con ma nơ canh Sân Hận đem lại. Khi con ma nơ canh Yêu Thích rớt xuống thì con Sân Hận xuất hiện từ đằng xa. Vậy là tôi bị hai con ma nơ canh rượt theo sau lưng. Lúc ấy tôi chợt tỉnh giấc và mừng rỡ vô cùng vì đó chỉ là một giấc mộng, một giấc mộng đầy ma mị và vô cùng ám ảnh.
Nhưng từ đó tôi giải mã được tất cả cơn bệnh mà tôi trải qua trong trường thiền luôn. Sự sân hận trong tôi quá lớn, nên khi thiền quán cảm thọ thì nó có cơ hội bộc lộ ra ngoài qua bệnh tật và ác mộng. Và tôi cũng biết rằng rào cản lớn nhất của tôi chính là sự Sân Hận ngút trời này mà trước đó tôi không hề biết, toàn là tìm lý do khỏa lấp cho nó không hà.
Đúng là đáng sợ thật!
Cho nên nếu ai thấy mình hổng có sân gì cả mà hay chửi bới người khác thì cứ tham gia thiền quán cảm thọ đi, nó sẽ được bộc lộ ra ngoài hết luôn đó. Không ngờ là nó bộc lộ qua việc tôi chảy máu cam tè le nữa mới ghê chớ!

Tôi còn nhớ khi tôi nóng bức quá nên đề nghị giáo viên cho mở quạt máy trong phòng thiền. Giáo viên bảo: Bây giờ là mùa đông, cái nóng ấy đến từ bên trong, không phải từ ngoại cảnh, cho nên hãy quán sát nó. Nhờ vậy mà tôi quán sát được sự sân hận ngút trời của mình. Cho nên tôi đã biết ơn vị trợ giảng này vô cùng.

Chủ Nhật, 20 tháng 8, 2017

Lậm lý thuyết.

Lậm lý thuyết nghĩa là gì?
Lậm lý thuyết nghĩa là nghe thuyết pháp rất nhiều, đọc kinh sách rất nhiều. Do nghe và đọc nhiều quá thành ra tự kỷ ám thị. Nghĩa là tưởng mình đã thật thấy thật biết đúng như kinh sách hay y như người thuyết pháp đã nói.
Đó là cái thấy cái biết do Ngã tạo ra. Hay nói chính xác là chỉ hiểu rồi tâm đắc rồi tự cho rằng mình đã thật thấy thật biết như vậy. Vì vậy có thể thao thao bất tuyệt. Thuật ngữ chuyên ngành gọi đây chính là Sở Tri Chướng. Vướng vào Sở Tri mà không biết mình vướng vào Sở Tri. Chỉ thấy sao mình có thể đối đáp trôi chảy, thao thao bất tuyệt, hiểu rất rõ vấn đề mình đang nói.

Dấu hiệu cho thấy mình lậm lý thuyết:
1.    Thích lý luận, đặc biệt là lý luận vòng quanh
2.    Thích tìm hết kiến giải này đến kiến giải nọ để tích trữ cho Sở Tri càng thêm dày.
3.    Không biết chỗ kẹt của mình nên không có sự tập trung tâm vào chỗ kẹt ấy, thay vào đó thích thảo luận về đủ mọi đề tài, rồi tích trữ thêm tri kiến của người vào kho.
4.    Thiếu sự quán sát thân tâm nên toàn là thấy người chứ chẳng thấy mình. Cái 4 liên quan đến cái thứ 3. Vì không biết chỗ kẹt của mình nên đi lan man, vì đi lan man nên chỉ thấy người.

Người thật sự có hành pháp luôn biết rõ chỗ kẹt của mình. Vì biết rõ chỗ kẹt nên tập trung cả thân và tâm vào chỗ kẹt ấy để tìm cách thoát. Càng biết rõ chỗ kẹt thì sự tập trung càng cao. Khi sự tập trung cao thì tất cả mọi thứ/mọi điều thâu nhận qua mắt tai mũi họng đều trở thành đối tượng thiền quán để giúp họ ra khỏi chỗ kẹt ấy. Do đó họ chỉ ghi nhận hay tập trung vào những gì có liên quan đến chỗ kẹt hay còn gọi là có liên hệ đến mục đích. Những cái không liên quan thì cho qua, không quan tâm để tránh bị loạn tâm.


Còn người lậm lý thuyết thì do không biết chỗ kẹt nên tâm phân tán tứ tung, vì vậy toàn đi lan man. Thuật ngữ chuyên ngành gọi là tâm phóng dật.

Làm sao biết mình thật sự đến được một cảnh giới trí tuệ nào đó?

Do căn nghiệp mỗi người không giống nhau nên cách đi của mỗi người cũng không giống nhau. Nghĩa là khi đến được một nơi thì cái thấy về nơi ấy là giống nhau, nhưng mỗi người đi mỗi con đường khác nhau. Chính vì đường đi khác nhau nên khi mô tả về nơi ấy và con đường ấy thì mỗi người tả một kiểu tùy theo thân tâm mà mình đã trải qua. Chính vì sự trải nghiệm thân tâm là khác nhau nên khi mô tả không ai giống ai, dù cùng nói về một điều. Còn khi sự mô tả của mình y chang sự mô tả của thầy hay của kinh sách thì có khi đấy chính là Sở tri mô tả, chứ không phải là thật đâu. Đó là lý do vì sao từ khi có kinh sách thì có vô số thuật ngữ khác nhau cho cùng một điều hay một cảnh giới.
Do đó, khi nào thấy sự mô tả của mình thật đúng với sự trải nghiệm của thân tâm thì ấy còn thật. Vì nó thật đúng nên những từ ngữ của mình khó giống người khác.  Còn khi mình cố dùng từ ngữ hay kiến giải cho giống kinh sách hay của thầy thì ấy là cái giả.
Bởi vậy tác hại của kinh sách là vậy đó. Dễ làm Sở tri thêm dày. 

Thứ Bảy, 19 tháng 8, 2017

Dấu hiệu cho thấy mình còn kẹt trong Nhị Nguyên.

Dấu hiệu dễ thấy nhất mà ai cũng có thể tự quán sát được cho dù là người hay chư thiên. Đó là khi nào mình khởi ý hành dâm là khi ấy mình kẹt trong Nhị Nguyên. Vì kẹt trong Nhị Nguyên nên mới có âm có dương. Vì có âm có dương nên mới cần phải cân bằng âm dương. Vì cần phải cân bằng âm dương nên mới có nhu cầu hành dâm bằng tâm ý hay bằng thể xác.
Khi không kẹt trong Nhị Nguyên thì âm dương chỉ là 1. Khi âm dương chỉ là 1 thì không có nhu cầu cân bằng. Khi không có nhu cầu cân bằng thì không khởi ý hành dâm.
Điều này tương tự như trời đất chỉ là một nhưng do mình chia chẻ nên mới có trời có đất.
Mọi thứ từ đúng sai, phải trái, chánh tà, đen trắng, xấu đẹp, hay dở,….đều chỉ là 1. Nhưng do mình chia chẻ nên mới thành 2.

Phải mất đến mấy ngàn năm thì tôi mới thật sự hiểu được câu hỏi của Ngài Xá Lợi Phất, A La Hán đệ nhất trí tuệ, thời Phật Thích Ca, hỏi vị nữ du sĩ: Thế nào là 1?
Vị nữ du sĩ tinh thông tất cả các giáo pháp trên thế gian, đi đến đâu thì đấu pháp đến đó và đã đấu pháp với Ngài Xá Lợi Phất. Vị nữ du sĩ hỏi gì Ngài cũng đáp được, nhưng Ngài chỉ hỏi một câu thôi: “Thế nào là 1?” Vị này quy y Phật Pháp Tăng ngay lập tức và sau đó trở thành A La Hán đệ nhất trí tuệ của Ni đoàn.
Khi biết câu chuyện này, lúc ấy chỉ tin Ngài Xá Lợi Phất, chứ để thật sự thấy và biết Thế nào là một thì phải đến mãi tận hôm nay. Đúng là một chặng đường dài dễ sợ dài!

Cũng vậy, khi khởi ý tri ân thầy thì đó là lúc mình kẹt trong Nhị Nguyên. Vì mình chia chẻ nên thấy thầy và mình là hai, chứ thật ra trí tuệ của thầy và mình chỉ là 1. Cho nên tri ân là một trong những thước đo của người tu. Nhưng khi khởi ý tri ân thì có nghĩa là mình kẹt trong Nhị Nguyên. Sự tri ân tối thắng nhất là hòa vào trí tuệ của thầy.

Khi đến được chỗ này mới thật sự hiểu câu nói: “Tất cả chúng sanh đều là Phật sẽ thành” là như thế nào. Vì tất cả chúng sanh đều hòa trong trí tuệ của Như Lai nên tất cả đều có nhân chủng Phật là vậy đó.

Quả là vi diệu! Quả là vi diệu quá!  

Vì sao có Hành dâm?

Vì tham ái nên có hành dâm.
Cách hành dâm ở cõi Dục giới là hành dâm thông qua sự đụng chạm thể xác.
Cách hành dâm ở các cõi trời là hành dâm thông qua tâm ý.
Cho nên khi Đại Bồ tát đầu thai vào bụng của hoàng hậu Maya, thì không có nghĩa là hoàng hậu Maya đã hành dâm với vua Tịnh Phạn mà mang thai Đại Bồ tát. Khi một vĩ nhân kiệt xuất chào đời thì không thông qua hành dâm bằng thể xác của cha mẹ là điều bình thường.
(Hồi xưa nghe người ta chém gió chửi Mẹ Đồng Trinh quá trời luôn bởi vì nói Mẹ có con rồi mà sao vẫn Đồng Trinh. Nghe họ chém cũng có lý. Bây giờ mới thấy, họ chém vậy là do họ vô minh. Bởi vì có con mà vẫn đồng trinh là chuyện bình thường.)

Bây giờ quay lại chuyện hành dâm. Hành dâm là do tham ái. Tham ái mà không biết mình tham ái cho nên tìm cách ngụy biện cho việc hành dâm bằng đủ mọi cách.
Ngoài ra, hành dâm còn là do chưa hưởng được hương vị của Pháp hỷ nên mới hành dâm. Vì sao?
Vì hương vị của Pháp hỷ là tối thắng. Bất cứ ai thưởng thức được hương vị này rồi thì hương vị do hành dâm mang lại chẳng khác gì sắc đẹp của con khỉ mà đem so với sắc đẹp của chư thiên vậy đó.
Tóm lại khi nào thực sự hưởng được Pháp hỷ thì chẳng thiết đến hành dâm nữa đâu.
Túm lại, hành dâm là do:
1.    Tham ái
2.    Chưa nếm mùi Pháp hỷ

Không hành dâm thì con người có bị tuyệt tự không?
Không hề.  Nếu không hành dâm thì con người trở nên thuần khiết hơn và thai được mang do tâm ý chứ không do sự xúc chạm thể xác nữa.

Chính hành dâm mới dẫn con người đến sự hủy diệt. Khoa học vừa chứng minh rằng tất cả các nền văn minh cổ đại bị phá hủy và tàn hoại chính là do sự hành dâm vô tội vạ của con người.

Làm sao để biết mình có thật sự kiến tánh hay không?

Người thật sự kiến tánh thì sau khi kiến tánh các tập khí giảm dần theo thời gian. Nếu cho rằng mình đã kiến tánh mà các tập khí chẳng những không giảm mà còn có xu hướng tăng thì đó chính là mình kiến cái Tánh do Nàng Ngã tạo ra rồi.
Mà Ngã thì lúc nào cũng đẹp, ngay cả khi sân cũng đẹp, cho nên cái gì do Ngã tạo cũng rất là đẹp, rất là quyến rũ lòng người.
Nói vầy cho dễ hình dung nha. Cái Tánh do Ngã tạo ra mê ly y như tiếng hát của mỹ nhân ngư ở mũi Hảo Vọng vậy đó. Ai dính vào tiếng hát này rồi thì chỉ có mà phi thẳng thuyền vào, rồi bị đánh chìm, rồi tự mình nạp mạng cho người đẹp.
Bởi vậy lúc nào cũng nhớ kỹ rằng: Người thật sự kiến tánh thì tập khí ngày càng giảm chứ hổng phải ngày càng tăng.

Đó là điểm thứ nhất của kiến tánh. Điểm thứ hai là: Người thật sự kiến tánh thì do đã thấy Tánh rồi, biết chính xác Tánh là gì rồi, hổng có ảo tưởng nữa. Cho nên họ rất sáng suốt và biết luôn nên dùng phương tiện nào để giảm tập khí, khi nào nên dùng phương tiện nào là phù hợp; khi nào cầm lên, khi nào buông xuống, họ biết rất rõ, chứ hổng có mù mờ nữa. Nếu tự cho rằng mình đã kiến tánh mà không biết rõ phương tiện nào nên dùng, dùng như thế nào và khi nào nên bỏ phương tiện ấy thì ấy là mình kiến cái Tánh do Nàng Ngã tạo ra rồi đấy. Vì đó không thật, cho nên rất mờ ảo, chẳng thể rõ ràng là vậy đó.
Phật cao một thước. Ma cao một trượng. Cái Tánh thật thì chỉ có một, ai kiến rồi thì cái thấy giống nhau, không cần phải cãi hay bàn luận làm chi. Còn cái Tánh do Nàng Ngã tạo ra thì mơ mơ hồ hồ, chính vì nó mơ mơ hồ hồ nên mỗi người kiến một kiểu. Chính vì mỗi người kiến một kiểu, cho nên mới phải bàn luận tới lui.
Cái thật thì chỉ có một và giống nhau ở tất cả, còn cái na ná thì là vô số luôn.

Cho nên người thật sự kiến tánh chẳng cần bàn luận dài dòng. Chỉ cần trong vòng một nốt nhạc (thậm chí là chẳng cần nốt nhạc nào) vẫn có thể hiểu nhau là vậy đó.

Thứ Sáu, 18 tháng 8, 2017

BI ÁI

Trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta thường dính phải bi ái mà mình hổng biết, cứ tưởng là mình đang từ bi. Bi ái nghĩa là do Ái nên mới Bi, vì vậy càng Bi thì càng dính là vậy đó.

Làm sao để biết mình dính phải bi ái? Đó là:
1. Khi khởi ý: Thấy thương ghê. Tội nghiệp ghê.
>>> Ý này khởi là do tập khí kiêu mạn. Thường mình chỉ khởi ý này khi thấy người/vật thua kém mình. Nghĩa là mình thấy mình hơn họ thì mới khởi ý như vậy.
2. Khi khởi ý ganh tị. Người thua mình thì mình thương, người hơn mình thì mình ganh tị. Nhưng do mình được học nên biết rằng ganh tị là không tốt. Cho nên khi gặp người hơn mình, ý ganh ghét trỗi lên; nhưng mình tìm cách đè nó xuống bằng cách cố tìm ra điểm nào đó của họ để “Thấy thương ghê. Tội nghiệp ghê.”
3. Khi khởi ý: Vì lòng từ bi nên tôi mới nói/làm/nghĩ,… việc này nha! Khởi ý này là do xuất phát từ Sân. Và để đối trị Sân thì mình khởi ý từ bi.
Cho nên ba dấu hiệu thường thấy khi mình dính bi ái là do tập khí kiêu mạn, ganh tị và sân.

Còn Từ Bi của bậc giác ngộ là Bi với Tâm bất động. Thế nào là bi với tâm bất động?
Bi với Tâm bất động thì Bi khi vắng mặt đi kiêu mạn, ganh tị và sân hận. Khi không có mặt ba đứa này thì từ bi tự hiển lộ. Còn bi mà thấy mình đang bi thì đó là Bi ái.

Bi ái còn thể hiện rất nhiều trong cuộc sống hằng ngày nữa nha!
Ví dụ: Tôi có thói quen, thấy con gì có đuôi là ẳm lên hun chóc chóc rồi nói: “Cưng lắm đó, biết không vậy!” Cái này xuất phát từ tập khí thích sở hữu. Do mình muốn sở hữu nên mình mới nói như vậy.

Khi nghĩ đến đây thì tôi khởi lên sự tri ân tất cả thiện hữu tri thức đã đang trực tiếp và gián tiếp giúp mình đến được chỗ này. Sự tri ân này được khởi lên là do tập khí thích cái gì có lợi cho mình. Vì tôi thấy tôi được lợi cho nên tôi tri ân.