Hiển thị các bài đăng có nhãn Thể Nhập Tánh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thể Nhập Tánh. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 26 tháng 8, 2020

Tánh Không Chính Là Pháp Ấn Vô Ngã

Mấy ông già Bắc Tông hoặc có người gọi là Phật giáo Đại Thừa đi khắp nơi rêu rao cái gì mà Tánh Không, cái gì mà Chân Không Diệu Hữu từa lưa hạt dưa, kinh nào kinh nấy mô tả Tánh Không dài thòng lòng dày cộm cộm, rồi các bài thuyết pháp bài nào cũng Tánh Không, Tánh Không, riết mọi người bị tẩu hỏa luôn. Suốt ngày bàn luận về Tánh Không, bàn luận làm sao để thể nhập Tánh Không, bàn luận bàn luận bàn luận hết ngày đến đêm, hết năm này đến năm nọ hết kiếp này đến kiếp nọ. Có lần tôi ở Bồ Đề Đạo Tràng, tôi ở trong trại của người Tây Tạng, gặp một anh chàng Tây Tạng, anh này bảo chán đời rồi muốn tìm một bậc đạo sư giảng cho mình về Tánh Không để mình lên núi Hy Mã Lạp Sơn ẩn tu luôn. Lúc đó tôi vừa mới quay lại Ấn độ từ Sri Lanka, nghe anh ta nói xong cái ngẩn người ra luôn. Biết sao ngẩn người không? Bởi Tánh Không mà cũng giảng được sao, vậy là sao ta. Lúc đó có pháp hội của Ngài Đạt Lai Lạt Ma, mọi người nô nức mua đài rà chỉnh về ngôn ngữ của mình để nghe Ngài thuyết về Tánh Không. Tôi lại ngẩn người tiếp. Ông già này cũng biết lừa người dễ sợ luôn. Ặc, nói gì thì nói tôi thích mấy vị Bắc tông vô cùng bởi vì họ rất vui. Ngây thơ trong sự sâu sắc và sâu sắc trong sự ngây thơ. Chính vì vậy nên mới có tên gọi Đại Thừa dành cho họ. Túm lại thì tôi thích họ, tôi thích họ, tôi thích họ. Vấn đề quan trọng nên phải nói ba lần hihihi.

Trong khi mấy ông già Bắc tông ra rả Tánh Không thì mấy ông Nam tông lại gào thét. Đúng là cái đồ tào lao, cái đồ kinh giả, kinh ngụy, cái đồ Ma Vương, vì có đốt hết tất cả kinh Nam tông cũng chả rơi ra được cái được gọi là Tánh Không. Cho nên tụi bây chính là Ba La Môn giả danh, Ma Vương núp bóng (uy, sao giống nói tôi quá vậy, tôi là Quỷ Vương nè!)

Đúng là trong kinh sách Nam Tông chẳng có cái gì được gọi là Tánh Không cả, chỉ có pháp ấn Khổ - Vô Thường – Vô Ngã. Mãi cho đến tận bây giờ tôi mới hiểu được tại sao phải là Khổ - Vô Thường – Vô Ngã mà không phải là Vô Ngã – Vô Thường – Khổ. Cái bẫy nằm ở ngay đây nè mọi người! Công nhận cũng biết bẫy người dễ sợ luôn. Biết sao không?

Nói vầy đi cho dễ hình dung. Khổ - Vô Thường tương đương phần Đức trong Đạo Đức Kinh của Lão Tử, còn Vô Ngã tương đương phần Đạo. Cho nên Khổ - Vô Thường có thể giảng giải, bàn luận, thuyết pháp, có thể hình dung, có thể hiểu, có thể áp dụng trong cuộc sống đời thường. Còn Vô Ngã tương đương phần Đạo cho nên chỉ có thể ngộ hoặc không ngộ chứ không thể thuyết, không thể giảng giải. Nhưng vì ba đứa này đi chung với nhau, cho nên người ta khi nói thì thường nói luôn tên của ba đứa. Đức Phật chưa bao giờ giảng về Vô Ngã, Ngài chỉ giảng về Khổ và Vô Thường, còn cái mà mình tưởng rằng Ngài giảng về Vô Ngã thực ra chỉ là một cái tên gọi khác của Vô Thường, chứ Vô Ngã là Đạo mà đã là Đạo thì làm sao mà giảng.

Chính vì thế bất cứ khi nào mình thấy mình ngộ ra được Khổ - Vô Thường – Vô Ngã rồi thì cái ngộ ấy chỉ là cái hiểu, cái thấu hiểu, cái thẩm thấu triết lý mà thôi. Chứ nếu mà nói chứng ngộ thì không ai có thể chứng ngộ Khổ - Vô Thường trước khi chứng ngộ Vô Ngã cả. Nếu thật sự chứng ngộ thì phải chứng ngộ Vô Ngã trước rồi mới đến Vô Thường và Khổ. Giống như Vô Ngã là nhân còn Khổ và Vô Thường là quả của cái nhân ấy vậy. Nếu chúng ta đi từ quả trước rồi mới đến nhân thì đó là hiểu chứ không phải là chứng ngộ. Còn trình tự của chứng ngộ thì phải là từ nhân rồi mới đến quả.

Chính vì vậy mà thứ tự phải là Khổ - Vô Thường – Vô Ngã. Phải cho chúng nó hiểu trước cái đã, rồi khi chúng nó tu tập chúng nó chứng ngộ lại là Vô Ngã – Vô Thường – Khổ. Đứa nào chứng ngộ xong đứa đó ỉm luôn, không có thài lai mà kêu gào về cái trình tự này, với lại làm gì quỡn mà kêu gào. Cho nên khi trình pháp chỉ cần hỏi: mi chứng ngộ tam pháp ấn thế nào? Dạ, con đã ngộ ra Khổ - Vô Thường – Vô Ngã là biết cái đứa này chứng ngộ giả rồi, chỉ mới hiểu thôi, chứ làm gì mà chứng ngộ được Vô Ngã sau hai đứa kia được chứ.

Bởi vì Vô Ngã quan trọng như thế trong việc chứng đạo cho nên mấy ông già Bắc tông khuếch trương cái này lên cực điểm để lừa người chơi. Họ đổi từ Vô Ngã thành Tánh Không, chỉ độc nói duy nhất về Tánh Không mà không hề đụng chạm gì đến Khổ - Vô Thường. Chính vì vậy mà bên Bắc tông chỉ có Tánh Không và Chân Không Diệu Hữu mà không hề có bất cứ thứ gì liên quan đến tam pháp ấn là vậy đó. Hiểu hơm?

Đã lừa người là lừa cho tới bến cho nên trong khi mấy ông Nam tông suốt ngày ra rả Khổ - Vô Thường – Vô Ngã, còn mấy cha Bắc tông chỉ độc duy nhất Tánh Không, Tánh Không suốt ngày. Tu số nhiều khó tu lắm, tu số ít cho dễ tu nè mấy con. Tam pháp ấn đến 3 lận nên là số nhiều. Tánh Không có một thôi nên là số ít.

Biết sao tôi viết bài này không? Bởi vì tôi ghét là bao lâu nay mình bị lừa, nên viết ra cho bõ ghét. Ghét. Ghét. Ghét. Chỉ biết lừa người.

Túm cái ý lại. Ý nghĩa của hai từ Đại Thừa nghĩa là Lừa Người. Lừa cho chúng mày thất điên bát đảo chơi, ai biểu chúng mày ngu quá mừ. Đồ ngu, đồ ngu, đồ ngu. Ngu quá nên mới bị lừa, lừa đến khi nào hết ngu thì thôi hihi.

P. s 1 Chân Không Diệu Hữu thật ra là rút gọn lại cái ý này trong Lão tử - Đạo Đức Kinh: vô danh thiên địa chi thỉ hữu Danh vạn vật chi mẫu. Ai hiểu được cái này sẽ hiểu được cái kia và ngược lại.

P.s 2 Hỏi: Chụy, vậy làm sao để chứng ngộ Tánh Không?

Đáp: Không biết luôn. Hay là bắt chước mấy đứa bên Nam tông, đi từ Khổ - Vô Thường trước đi, phải hiểu, phải áp dụng trước cái đã. Rồi đến khi nào ngộ thì nó ngộ chứ ai biết làm sao để ngộ hihi. 

Thứ Sáu, 23 tháng 3, 2018

Thế nào là “bản lai vô nhất vật?”

“Bản lai vô nhất vật” là câu nói của Lục Tổ và một số người cho rằng qua câu nói này cho thấy Lục Tổ đã vào được cửa thiền. Và có người dùng câu nói này để diễn giải sự mênh mông vô ngần mé của tâm lượng. Giảng giải như vậy thì chỉ càng làm cho trí tưởng tượng thêm phong phú mà thôi.

Thật ra câu “Bản lai vô nhất vật” là cách nói khác của một câu nổi tiếng trong kinh Kim Cang “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm.”

(Lưu ý: Tôi chưa hề đọc qua Kinh Kim Cang hay Pháp Bảo Đàn Kinh đâu nha mọi người. Nếu gọi là đọc kinh theo đúng nghĩa, là đọc rồi suy gẫm rồi hiểu thì tôi chỉ đọc Tiểu Bộ và Trung Bộ Kinh của Tạng Pali thôi. Còn Kinh Đại Thừa còn gọi là kinh Bắc Tông thì lúc ở chùa Bắc tông tôi có tụng (tụng chứ không phải là đọc) gần như trọn bộ Kinh Pháp Hoa. Chỉ duy nhất Kinh Pháp Hoa là tôi có tụng từ đầu đến cuối, còn lại các bộ kinh Đại Thừa khác thì tôi chỉ nghe nói hay chỉ nghe tụng vài đoạn rồi nhớ thôi nha.)

Tuy nhiên tất cả kinh Bắc Tông cũng chỉ xoay quanh Chân Lý Vận hành Nhân Quả còn gọi là Lý Nhân Duyên. Người nào thực sự thấu được chân lý này thì có thể thấu được tất cả kinh điển Bắc tông mà không cần phải đọc.

Ví dụ câu “Bổn lai vô nhất vật” trong kinh Pháp Bảo Đàn của Lục Tổ Huệ Năng chỉ là một cách nói khác của câu “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” mà thôi. Vì sao? Vì cả hai câu đều là sự thể hiện của Lý Duyên khởi. Thể hiện thế nào?

Có thể diễn giải như sau: Bổn lai vô nhất vật có thể nôm na là Bản thể thì không chứa một vật nào cả. Bản thể nghĩa là Bản lai nghĩa là Phật tánh nghĩa là tánh tự thấy biết thì không chứa một vật nào cả. Vì sao không chứa? Vì không trụ nên không chứa. Có trụ mới có chứa. Tất cả mọi việc diễn ra đều do sự hội tụ của nhân duyên. Đủ nhân đủ duyên thì tự xuất hiện, nhân duyên tan rã thì tự diệt. Sự đến đi liên tục như vậy và do nhân duyên vận hành, đâu có liên quan gì đến mình đâu mà mình đòi trụ. Sanh và diệt là do nhân duyên vận hành. Người nào thấy rõ điều ấy thì không trụ vào bất kỳ sự sanh diệt nào, vì không trụ thì mới là “nhi sanh kỳ tâm” và vì không trụ nên mới là “vô nhất vật.”  Chỉ có bản lai/Phật tánh mới có thể không trụ, do vậy mà “Bản lai vô nhất vật.” Câu “Bản lai vô nhất vật” chính là quả của “Ưng vô sở trụ.” Chính vì “ưng vô sở trụ” là nhân thì mới ra được cái quả là “nhi sanh kỳ tâm” Kỳ tâm ở đây chính là “Bản lai vô nhất vật” ấy vậy.

Bởi, do cách giác ngộ của mỗi người về Lý Nhân Duyên là khác nhau nên cách diễn đạt cũng có vẻ khác nhau, và chỉ ai thật sự ngộ được Lý Nhân Duyên mới thấy được sự giống nhau trong những cái có vẻ khác nhau ấy.

Túm cái ý lại thì để có thể thể nhập kinh điển Bắc tông thì hãy thể nhập Lý Duyên Khởi còn gọi là Chân Lý vận hành Nhân Quả đi nha mọi người. Thể nhập Lý Duyên khởi rồi thì nhìn kinh điển Bắc tông như nhìn lòng bàn tay là vậy đó.

Thứ Bảy, 23 tháng 12, 2017

Thế nào là “trở về ngay thực tại, an lạc ngay tại đây, điềm đạm và thong thả, chẳng việc chi rộn ràng, tùy nghi mà vui chơi”?

Điềm đạm và thong thà trong mọi bối cảnh, trong mọi hoàn cảnh, trong mọi tình huống sống thì ấy mới thực sự là điềm đạm và thong thả, chẳng việc chi rộn ràng đó vậy.

Điềm đạm và thong thả lúc lên voi cũng như khi xuống chó.
Điềm đạm và thong thả lúc mặt trời mọc cũng như lúc mặt trời lặn.
Điềm đạm và thong thả lúc thành cũng như lúc bại.
Điềm đạm và thong thả lúc được cũng như lúc mất.
Điềm đạm và thong thả lúc vui cũng như lúc buồn.
Điềm đạm và thong thả lúc được khen cũng như lúc được chê.
Điềm đạm và thong thả lúc thoải mái cũng như lúc không thoải mái.
……………….
Chỉ khi nào trải qua mọi bối cảnh sống, mọi tình huống sống, khi thuận khi chướng, thì mới thực sự trải nghiệm cái được gọi là điềm đạm và thong thả đó vậy.


Tập khí chia phe/kết bè

Người tu đạo cũng y như người đời, nghĩa là cùng tôn giáo cùng tông phái cùng thầy là cùng phe, rồi cùng ý tưởng cùng suy tưởng là cùng phe. Hễ ai cùng phe mình thì nói gì mình cũng thấy đúng, làm gì cũng hay, mình ca tụng, khen ngợi, còn ai không cùng phe thì mình chỉ trích chê bai. Một mình mình khen tụng thì chưa xi nhê nên mình tìm đồng bọn để cùng khen. Một mình mình chê bai chưa có xi nhê nên tìm đồng bọn để ném đá, dìm cho chết kẻ nào dám không cùng phe với mình. Đó là nhân A Tu La ấy vậy.

Này các ông, khi nào các ông còn thấy mình đúng người sai, mình chánh người tà, mình hiền người dữ, mình giác ngộ người vô minh, mình sáng láng người ngu si,…..thì khi ấy các ông còn mãi vào ra cõi A Tu La ấy vậy. Vì kết bè kết đảng chia phe chia nhóm là nhân cho A Tu La. Cho nên cõi A Tu La thường xuyên có chiến tranh là thế đó.

Còn chia phe, còn kết bè thì còn chưa vào được Bình Đẳng Tánh, còn chưa vào được Bình Đẳng Tánh thì còn ra vào cõi A Tu La thường xuyên đó vậy.

Đã là đại bàng thì không cần tiếng cổ vũ vẫn vút cánh bay cao.
Đã là voi chúa thì không cần bầy đàn vẫn hiên ngang đi lại chốn rừng sâu.
Đã là sư tử chúa thì không cần vây cánh vẫn cất tiếng gầm oai vệ khắp non cao.
Ấy là những phẩm chất của bậc giác ngộ đó vậy.


Thứ Sáu, 22 tháng 12, 2017

Thế nào là không thêm không bớt, không tăng không giảm, không nhơ không sạch?

Tất cả mọi việc diễn ra đều do đủ nhân đủ duyên, không theo ý muốn của bất kì ai cả. Vì vậy nên tất cả đều đúng, đều tròn đầy, đều viên mãn theo đúng nhân duyên của chính nó, không thể thêm cũng không thể bớt, không thể tăng cũng không thể giảm, không thể sạch cũng không thể nhơ.

Vậy cái thêm, cái bớt, cái tăng, cái giảm, cái nhơ, cái sạch đến từ đâu? Những cái ấy đến từ khởi ý, nói cách khác là đến từ tâm phán xét, không liên quan gì đến sự kiện hay sự vật cả.

Thứ Năm, 21 tháng 12, 2017

Thế nào là thấy như không thấy, nghe như không nghe, biết như không biết?

Thấy như không thấy nghĩa là tất cả những gì đi ngang qua mắt của mình sẽ để lại những tín hiệu và mình chỉ đọc những tín hiệu ấy ngay bên trong mình, không quay ra xem cái gì gây ra những tín hiệu ấy. Đấy là thấy như không thấy.

Nghe như không nghe nghĩa là tất cả những gì tác động đến lỗ tai mình sẽ để lại những tín hiệu và mình chỉ đọc những tín hiệu ấy ngay bên trong mình, không quay ra xem cái gì gây ra những tín hiệu ấy. Đấy chính là nghe như không nghe.

Biết như không biết nghĩa là tất cả những gì tác động đến bộ não mình sẽ để lại những tín hiệu và mình chỉ đọc những tín hiệu ấy ngay bên trong mình, không quay ra xem cái gì gây ra những tín hiệu ấy. Đấy chính là biết như không biết.

Ngoài ra còn có chạm như không chạm, ngửi  như không ngửi, nếm như không nếm.

Đó là 6 căn, và 6 căn này nhờ tiếp xúc với trần cảnh thì những gì trong nội tâm mới có cơ hội mà trỗi dậy.

Hằng quay vô đọc những tín hiệu do 6 căn này mang lại thì ấy chính là bản chất tự nhiên của tâm gương đó vậy.


Hỏi – Đáp về cõi A Tu La

Hỏi: Sao tui toàn làm việc có ích cho người ta mà nói tôi gieo nhân A Tu La. Tôi khuyến người ta tu, tôi khuyến người ta theo chánh pháp, tôi khuyến người ta giữ giới mà lại nói tôi gieo nhân A Tu La là sao?

Đáp: Vì lầm tưởng cõi A Tu La là cõi xấu ác, là cõi đọa nên mới hỏi như vậy. Cõi A Tu La là cõi của người được cho là tốt, là có tu, nên cõi ấy phước báo còn hơn cả cõi người. A Tu La là những quỷ thần có cả phép thần thông, vì công đức tu thiện tích đức của họ.

Hỏi: Thế nào là gieo nhân A Tu La?

Đáp: Nhân A Tu La là nhân muốn người khác phải làm theo ý mình. Mà ý mình là ý đúng ý tốt ý thiện chứ có phải là ý ác đâu. Cứ khởi ý muốn người khác phải theo ý mình thì đấy chính là gieo nhân A Tu La. Đó là lý do: Cố chấp, ích kỷ và nóng nẩy là những đặc tính của cõi A Tu La.

Vì sao lại vậy?

Vì cái được cho là thiện là tốt là đúng tùy theo quan điểm của mỗi người mà khác nhau. 9 người 10 ý. Ai cũng cho cái của mình là đúng, ai cũng ôm chấp cái đúng của chính mình. Vì ôm chấp quá chặt nên ích kỷ và nóng nẩy là điều tất nhiên đó vậy.

Cõi A Tu La không chỉ có người tu theo đạo Phật mới vào mà đó là nơi quy tụ người tu ở nhiều tông phái và tôn giáo khác nhau đó vậy. Ai cũng cho tông phái mình là nhất, ai cũng cho tôn giáo mình là số một, ai cũng cho ý mình là đúng nhất. Cho nên cõi A Tu La hằng xảy ra chiến tranh là như vậy đó.

Bất cứ người tu ở bất kì tôn giáo và tông phái nào mà không vào được Bình Đẳng Tánh đều có khả năng đi vào cõi A Tu La là rất rất rất cao.

Mà để vào được Bình Đẳng Tánh nghĩa là thể nhập Chân Lý Nhân Quả, nghĩa là thể nhập Lý Vô thường, nghĩa là thể nhập Lý duyên sanh/duyên khởi thì phải đủ nhân đủ duyên chứ không phải cứ muốn là được. Cho nên hễ tu mà đi vào cảnh giới A Tu La là việc bình thường. Vì cảnh giới A Tu La cũng là duyên quan trọng cho việc thể nhập Bình Đẳng Tánh đó vậy. Hay nói cách khác bất cứ người tu nào cũng từng vào ra cõi A Tu La thường xuyên, rất thường xuyên, rất rất thường xuyên trước khi thể nhập chân lý Nhân Quả đó vậy.


Thứ Tư, 20 tháng 12, 2017

Tâm Gương

Cái được gọi là Tâm gương thật ra nó là vầy nè mọi người. Đó là một cái gương và cái gương này không phải để soi người. Cái gương không thể thấy bất cứ điều gì ngoại trừ chính nó thì đấy là tâm gương. Cái gương còn thấy bất kì điều gì ngoải nó thì đó trở thành tâm phán xét chứ không phải tâm gương.

Thế nào là cái gương chỉ có thể nhìn thấy chính nó?

Một cái gương rất trong thì tất cả những gì đi ngang qua cái gương đều để lại những tín hiệu, và những tín hiệu ấy tác động lên cái gương. Cái gương nhận biết sự tương tác của các tín hiệu ấy mà thấu được tất cả. Và để nhận biết tất cả tín hiệu thì cái gương chỉ có thể thấy chính nó. Vì chỉ thấy chính nó mà nó thâu tóm được tất cả tín hiệu. Vì thâu tóm được tất cả mà không gì ra ngoài cái biết của chính nó. Và vì chỉ thấy chính nó mà những cái thấy cái biết ấy là thật thấy thật biết không có sự xen vào của cái Ta ảo tưởng. Chỉ cần cái gương ấy trong một khắc nhìn thấy sự vật bên ngoài chính nó thì nó mất dấu những tín hiệu ấy ngay. Vì mất dấu tín hiệu nên nó không biết, vì nó không biết nên cái Ta ảo tưởng mới chen vào tạo ra cái biết giả, cái biết giả ấy chính là ảo tưởng do cái TA tạo ra chẳng phải là cái thật thấy thật biết đó vậy.


Người có tâm gương không có nghĩa là không nói chuyện với ai không làm gì cả mà thật ra họ mới là người năng nổ hoạt động và làm việc hiệu quả hơn người khác gấp bội lần. Vì mọi cái họ thấy họ biết đều là sự thật, không phải là cái do ảo tưởng tạo ra.

.........
Hỏi Đáp về Tâm Gương



Hỏi: Tâm gương trong bài viết có giống bài thơ về tâm gương của Thần Tú không.

Đáp: Không hề giống. Cách dùng từ thì giống nhưng lại chỉ về hai sự việc khác nhau. Thấy giống là cái thấy của người thấy không hề liên quan đến bài viết đó vậy.

Hỏi: Khác nhau thế nào?
Đáp: Khi nào đến đó thì tự biết đó vậy. Nhưng cơ bản là cái tâm gương trong bài viết của Thần Tú có chủ thể lau chùi nên đó là TU. Trong bài viết, tâm gương không có chủ thể, nên đó là trạng thái tự nhiên chứ không phải là TU

Hỏi: Tâm gương trong bài viết rằng người hằng quay lại thì đấy là tâm gương và người ấy rất năng nổ hoạt động và làm việc rất hiệu quả. Vì sao hằng quay lại lại năng nổ cho được?

Đáp: Vì thấy gì cũng thật. Do đó là thật thấy, không có ảo tưởng xen vào, nên mọi suy nghĩ, lời nói và hành động đều dựa trên cái thật mà làm mà nói mà nghĩ. Nếu dựa trên cái ảo tưởng thì phải làm đi làm lại nhiều lần thì mới đến cái thật, nên năng lượng tiêu tốn. Còn làm cái gì chính xác cái đó thì làm việc hiệu quả là vậy đó.

Nói tiếp về Tâm Gương

Hằng quay lại chỉ thấy chính mình thì không thể phạm giới, các giới tự giữ, không thể nói lời nặng nhọc, vì bản chất của tâm gương là nhẹ nhàng thanh thoát nên lời nói cũng nhẹ nhàng thanh thoát. Chỉ cần trong một khắc nào đó, quay ra để phán xét thì trong lời nói có độ nặng liền đó. Cái này mỗi người tự quán sát thì sẽ tự thấy thôi hà. Khi thấy lời nói của mình nặng nề thì biết rằng lúc ấy nó mang đầy sự phán xét dù ý thức không hề muốn hay không hề biết. Nhân là tâm gương thì quả là lời nói thanh thoát. Chứ không phải là cái Ta tạo tác ra lời thanh thoát. Lời thanh thoát là kết quả tự nhiên của một Tâm Gương, không dính gì đến cái muốn hay cái Ta tạo tác cả. Lời nói do cái Ta tạo tác dù là ái ngữ thì vẫn có độ nặng nào đó vậy.


Thứ Ba, 19 tháng 12, 2017

TU SAI

Hễ còn thấy có Tu Sai là còn chưa đến cuối đường. Vì sao lại vậy? Vì đã tu thì làm gì có sai! Tu gì cũng là đúng cả. Thấy có tu sai là do mình tự thấy mình đúng. Vì tự thấy mình đúng nên mới thấy người sai. Thấy có sai hay đúng là cái thấy của chính mình, không liên can gì đến việc tu cả. Vì đã tu thì tu kiểu gì cũng là đúng cả.

Đó là lý do ai hợp cái gì thì hành cái nấy. Ai muốn tu sao cũng được. Đến khi nào hết muốn hành cái ấy, hết muốn tu cái ấy thì tìm cái khác mà tu mà hành. Ai muốn đi kiểu gì cũng được, vì đi kiểu gì cũng đúng với họ vào chính giai đoạn ấy. Thấy họ đi sai là do mình áp đặt cái thấy của mình lên người. Áp đặt cái thấy của mình lên người thì đó là điên đảo tưởng của mình. Điên đảo tưởng của mình mà mình không muốn nhận nên đẩy sang cho người. Đó chính là nhân chồng nhân, đầu chồng đầu. Cho nên càng tu càng dễ đi vào cảnh giới A Tu La là như vậy đó.

Túm lại, hễ tu là không sai, chỉ có mình sai chứ bản thân cái tu chẳng sai.


Thứ Hai, 18 tháng 12, 2017

Hỏi: Vì sao bậc giác ngộ chỉ gieo duyên chứ không đốn bất kì ai cả?

Đáp: Vì gieo duyên thì chỉ có duyên nối tiếp duyên, không có người gieo cũng không có người được gieo. Cho nên đủ nhân đủ duyên thì tự ngộ.
 Còn đốn ngộ thì có chủ thể đốn, và đó chính là tự ngã. Vì vậy mà càng đốn người thì tự ngã càng dày là vậy đó. Vì có chủ thể đốn, có tự ngã xen vào trong tiến trình ấy cho nên thấy sự giác ngộ của người khác là do mình, nhờ mình, nên khởi ý hỉ hả, vui mừng, đắc ý. Hỉ hả vui mừng đắc ý ấy chính là nhân A Tu La.
 Vì có chủ thể đốn, có tự ngã xen vào trong tiến trình ấy nên khi thấy người không ngộ theo đúng ý mình thì khởi ý sân hận, buồn bã. Sân hận buồn bã cũng chính là nhân A Tu La.
Còn bậc giác ngộ chỉ gieo duyên, không có chủ thể gieo, không có tự ngã xen vào, cho nên việc ngộ hay chưa ngộ là do nhân duyên, chẳng có gì để hỉ hả vui mừng hay buồn bã sân hận cả.

Bài liên quan:  ĐỐN NGỘ

Thứ Sáu, 15 tháng 12, 2017

THẾ NÀO LÀ TU TỪ BI HỶ XẢ?

Từ Bi Hỷ Xả là bốn hạnh trong vạn hạnh, là bốn pháp môn trong 84 ngàn pháp môn, hay nói cách khác, Từ Bi Hỷ Xả là pháp đối trị, còn gọi là pháp phương tiện.

Vì không Từ nên mới cần tu Từ để đối trị.
Vì không Bi nên mới cần tu Bi để đối trị.
Vì không Hỷ nên mới cần tu Hỷ để đối trị.
Vì không Xả nên mới cần tu Xả để đối trị.

Từ Bi Hỷ Xả là những phương tiện đối trị, còn phải tu Từ Bi Hỷ Xả là còn bị bản ngã thao túng và bị nhân quả dày vò miết.
Vì sao lại như vậy?

Vì một hành giả khi thể nhập chân lý Nhân quả, cũng chính là thể nhập lý Duyên khởi/Duyên sanh và thể nhập Lý Vô thường thì chính ngay tại lúc ấy đã là thâu nhiếp vạn hạnh và 84 ngàn pháp môn. Nghĩa là vạn hạnh và 84 ngàn pháp môn được thâu nhiếp ngay tại sát na ấy. Vì vậy Từ Bi Hỷ Xả là điều tất nhiên, là việc dĩ nhiên khi một hành giả thể nhập chân lý Nhân quả.


Vì không thể thể nhập chân lý Nhân quả nên mới cần dụng phương tiện Từ Bi Hỷ Xả để mà đối trị lại những cái không Từ không Bi không Hỷ không Xả đó vậy.

..............................
Nói tiếp về việc tu TỪ BI HỶ XẢ.

Từ Bi Hỷ Xả thực sự  thì không do tu mà thành. Còn Từ Bi Hỷ Xả của bản ngã thì mới cần phải tu để có. Vì sao lại vậy?

Vì Từ Bi Hỷ Xả cũng như tất cả các hạnh khác, còn gọi là vạn hạnh là bản chất của Bình Đẳng Tánh (còn gọi là Tánh Biết/Phật Tánh,……………). Khi vào được Bình Đẳng Tánh thì vạn hạnh tự hiển lộ chứ không phải vạn hạnh do tu mà có. Vạn hạnh do tu mà có là vạn hạnh do cái Ta ảo tưởng tạo tác ra. Còn vạn hạnh được thâu nhiếp trong Bình Đẳng Tánh thì đó là vạn hạnh tự nhiên, vạn hạnh tự có, chẳng do tu hay huân tập gì cả.

Cho nên còn thấy mình cần phải tu Từ Bi Hỷ Xả là còn chịu luân hồi sanh tử. Nhưng khi chưa vào được Bình Đẳng Tánh thì buộc phải tu Từ Bi Hỷ Xả để tránh đọa vào các đường xấu ác. Mục đích của tu Từ Bi Hỷ Xả nói riêng và vạn hạnh nói chung là vậy đó.

Bài liên can: TỪ BI là gì?

Thứ Sáu, 8 tháng 12, 2017

Hỏi: Tu mà không nghe, không thấy, không biết, có phải là tột lý không?

Đáp: Mỗi một hành giả phải trải qua nhiều giai đoạn tu, dùng nhiều phương tiện/pháp môn để tu. Căn cơ thế nào thì dùng phương tiện nấy để chèo chống cho qua một giai đoạn nào đó.

Ví có lúc phải hành hạnh độc cư, nghĩa là ở một mình, không ở cùng ai cả, có lúc phải chung với chúng, có lúc phải thu thúc 6 căn, có lúc phải đối cảnh, có lúc phải niệm Phật, có lúc phải thiền, có lúc phải nghiên cứu kinh sách, có lúc phải im lặng, có lúc phải thuyết giảng,………………….. Tất cả các pháp môn/phương tiện đều vô thường theo thời gian, nghĩa là khi qua một đoạn nào thì cần biết buông phương tiện ấy xuống mà dùng phương tiện thích hợp hơn.

Người nào qua hết tất cả các giai đoạn thì có thể hiểu người khác vì sao họ phải hành như vậy, vì sao phải tu như vậy, vì sao họ phải ôm phương tiện này chứ không phải phương tiện kia,…. Vì trải qua tất cả, thấu hiểu tất cả, nên tôn trọng căn cơ của tất cả, không khởi ý khinh bai hay chê cười ai cả. Đó gọi là sự thấu hiểu.

Còn bậc giác ngộ khi thể nhập chân lý Nhân quả, thì nói nín nghe thấy suy nghĩ đều theo sự vận hành của Nhân quả, không theo chủ ý của bản ngã. Cho nên, không nghe không thấy không biết của bậc đã thể nhập chân lý Nhân quả là như sau:

Khi đủ nhân đủ duyên thì nghe, nghe rồi thôi, không trụ lại điều đã nghe, đó gọi là nghe mà không nghe.

Khi đủ nhân đủ duyên thì thấy, thấy rồi thôi, không trụ lại điều đã thấy, đó gọi là thấy mà không thấy.

Khi đủ nhân đủ duyên thì biết, biết rồi thôi, không trụ lại điều đã biết, đó gọi là biết mà không biết.

Khi đủ nhân đủ duyên thì cần trụ lại cái nghe, trụ lại xong rồi thôi, đó gọi là nghe, đã nghe, rồi không nghe.

Khi đủ nhân đủ duyên thì cần trụ lại cái thấy, trụ lại xong rồi thôi, đó gọi là thấy, đã thấy, rồi không thấy.

Khi đủ nhân đủ duyên thì trụ lại cái biết, trụ lại xong rồi thôi, đó gọi là biết, đã biết, rồi không biết.

Thể nhập chân lý Nhân quả cũng là thể nhập lý vô thường. Mọi việc do duyên hợp mà thành, do duyên tan mà diệt. Sanh diệt sanh diệt cứ thế mà tiếp diễn. Dù trụ hay không trụ thì cũng theo đúng quy luật nhân quả mà hành.


Thứ Ba, 7 tháng 11, 2017

Thế nào là tâm? Thế nào là cảnh? Thế nào là không đồng nhất mình với tâm và cảnh? Thế nào là Bát Phong Bất động?

Có một cái không phải là tâm cũng không phải là cảnh, đó là cái ao. Tâm là dòng nước lưu chuyển trong cái ao ấy. Cảnh là những con cá bơi lội tung tăng trong ao.

Cá bơi kiểu gì đó là việc của cá; cử động bơi của cá tác động vào nước làm cho nước có những chuyển động theo cá. Còn cái ao thì vẫn là cái ao, như như bất động. Cá bơi kệ cá, nước chuyển kệ nước, ao vẫn cứ vậy mà ôm cả cá lẫn nước vào lòng, không phán xét việc bơi của cá, không chỉ trích việc chuyển động của nước.

Ao, cá và nước là riêng biệt nhưng lại hòa vào nhau thành một, đó là cái ao cá. Việc ai nấy làm, không pha tạp lẫn lộn vào nhau.

Bát phong bất động không phải là mô tả trạng thái đứng im của nước, mà chính là mô tả trạng thái đứng im của cái ao. Dù gì thì cái ao vẫn im lặng ôm cả cá lẫn nước vào lòng, không phán xét chê bai chỉ trích gì cả. Đó chính là sự từ bi không ngần mé, từ bi vô thượng của cái ao đối với nước và cá.

Vì lầm chấp ao là nước nên tìm cách làm cho nước đứng im bất động trước mọi chuyển động của cá. Đây là phi nhân quả. Vì phi nhân quả nên chỉ có thể vào được các cảnh giới trời chứ vẫn chưa xuất ra khỏi tam giới được đâu nha!

Đến khi nào tự thấy biết sự khác biệt giữa ao, cá và nước thì khi ấy mới là xong việc lớn!

Ai trong chúng ta mỗi ngày đều hưởng hương vị pháp mà tại không biết đấy thôi. Như vậy là sao?

Là vầy nè: Bậc giác ngộ là cái ao cá, còn người chưa giác ngộ là cái lu cá hay là cái ca cá. Dù giác ngộ hay chưa giác ngộ thì cũng vậy hà. Cũng vậy là sao? Nghĩa là cho dù có là cái ao, cái lu hay cái ca thì khi nào chúng ta không đồng nhất cái ao/cái lu/cái ca với nước và cá thì khi ấy chúng ta đang ở cảnh giới của Phật toàn giác, cảnh giới giác ngộ viên mãn. Mà mỗi ngày chúng ta làm việc này nhiều lần lắm rồi, do chúng ta không nhận ra thôi.
Đó là lý do mà tôi nói: Ai cũng có nhân chủng Phật toàn giác là vậy đó.

P.S Ai không có ao cá, không có lu cá thì lấy cái ca nước và cho vài con cá vào đó rồi ngồi ngó miết, ngó miết, ngó miết có khi giác ngộ ra luôn đó nha!

Vì sao có câu: Nếu là bậc chân tu, không thấy lỗi của đời?

Túm cái ý lại là nếu thấy lỗi đời hay lỗi người thì ngay ấy mình có lỗi.

Khi mình thấy lỗi người điều ấy thể hiện rằng mình không thấu tỏ được Nhân Quả hay mình chưa thông suốt lý Nhân Duyên.
Khi thấu Nhân Quả, thông được Nhân Duyên thì không có bất cứ cái gì được gọi là lỗi cả. Tất cả mọi thứ đều theo đúng sự vận hành của Nhân Quả. Cái này có cái kia có, cái này diệt cái kia.

Thấy lỗi nghĩa là chỉ nhìn ra được bề mặt, khi thấu suốt được cả bề chìm của cái được gọi là lỗi thì cái ấy hoàn hảo theo đúng với nó nên nó không hề lỗi. Lỗi nằm ở ngay trong tâm thức của chính mình, không hề nằm nơi cảnh. Lý do thấy lỗi là thiếu trí tuệ để thấu Nhân Quả và thông Nhân Duyên.

Đó là lý do bậc chân tu, bậc trí tuệ không thấy lỗi của người, cũng không thấy lỗi mình, chỉ thấy Nhân Quả vận hành chính xác từng tý từng tý một mà thôi.

Thấy lỗi người là tâm phóng dật
Chỉ thấy lỗi mình thì khi ấy biết hồi quang phản chiếu, phản quang tự kỷ.
Không thấy lỗi người lẫn không thấy lỗi mình, túm lại là không có cái được gọi là lỗi, mọi thứ hoàn hảo theo luật Nhân Quả, ấy là bậc đã thể nhập tánh hay còn gọi là thể nhập Chân Lý Nhân Quả, không còn lầm Nhân Quả nữa.


Thứ Tư, 25 tháng 10, 2017

Chân Lý chỉ là MỘT

Theo đuổi Chân Lý thì dẫn đến đoàn kết.
Theo đuổi Tôn giáo thì dẫn đến chia rẽ.

Chân Lý tương tự như Gạo. Từ Gạo mà người ta chế biến ra những món như cơm, phở, hủ tiếu, bún cho đa dạng, cho hợp với khẩu vị từng vùng.

Người thấu tỏ được Gạo rồi thì sẽ không ngại ngần, không phân tách, không chia chẻ cơm, phở, hủ tiếu, bún. Tùy lúc tùy nơi mà người ta chọn món ăn cho phù hợp khẩu vị. Và dù ăn gì thì chất đi vào bụng cũng chỉ là Gạo mà thôi.

Người chưa thấu tỏ Gạo thì nếu thích cơm sẽ sống chết bảo rằng cơm là ngon nhất, người thích hủ tiếu sẽ thề bảo vệ hủ tiếu đến cùng, người thích phở sẽ bỉu môi cho rằng chỉ có thèn ngu mới không chịu ăn phở, còn người thích bún thì đạp đổ tất cả cho rằng bún là đệ nhất món.

Còn người biết rõ Gạo thì ai đưa cái gì ăn cái nấy, món nào cũng là đệ nhất, bởi vì có món ăn nào mà không được tạo từ Gạo.

Đó là chưa kể cơm phở hủ tiếu bún còn có nhiều tông khác nhau cho cùng một món nha. Ví dụ bún thì có bún riêu, bún thang, bún mộc, bún bò, bún chả, bún nước lèo,…. Người đầu óc càng chia chẻ thì càng ôm chặt lấy loại bún hợp khẩu vị mình và cho rằng người thích các loại bún khác là vô minh là nghiệp nặng,…..Đầu óc chia chẻ dữ dội hơn thì còn bún được nấu theo vùng miền nữa đó. Ví dụ: Bún riêu do miền Tây Nam bộ nấu khác với bún riêu do người Sài Gòn nấu và khác với bún riêu người miền Trung nấu nha.

Túm cái ý là từ nguyên liệu Gạo mà chúng ta nấu ra vô số món và chia chẻ để bảo vệ cái khẩu vị của mình. Đến khi nào chúng ta trở về với Gạo rồi thì chúng ta hết chia chẻ bởi vì có cái gì mà không được tạo thành từ Gạo đâu nè!


Túm của túm cái ý trên là: Lý do chúng ta chia chẻ là do chúng ta ………….. tham ăn. Vì tham ăn, muốn bảo vệ cái khẩu vị của mình nên chia chẻ. Khi nào hết tham ăn thì hết chia chẻ. Hihihihihi.

Thứ Tư, 27 tháng 9, 2017

Cái mình thấy ở người chính là cái nằm trong vô thức.

 Cho nên đối cảnh là một cách quán sát vô thức.

 Ví dụ: cùng một bài viết hay một câu nói hay một bức ảnh,…., mỗi người lại có phản ứng khác nhau. Người thì khen, người thì chê, người thì chửi rủa, người thì tán thán, người thì mỉm cười, người thì nhăn nhó,………..Vì sao?

 Vì vô thức mỗi người khác nhau nên sự biểu hiện là khác nhau. Ví dụ câu nói/bài đăng là sự biểu hiện vô thức của người nói A nên nó là A’. Khi người B đọc thì nó thành B’ do người B không dùng vô thức của A để đọc mà dùng vô thức của chính mình để đọc, cho nên nó thành B’ Người C đọc thì thành C’. Người D đọc thì thành D’. Nếu B và D có vô thức tương tợ nhau thì họ trở thành “đồng bọn” của nhau. Tự cho cái vô thức của mình là chân lý và cùng nhau chỉ trích người không có cùng vô thức với mình.

 Tôi viết đến đây tôi thấy mắc cười quá ha ha ha ha ha. Chúng ta giống như những con rối trong bàn tay biểu diễn của vô thức.

 Làm sao để không trở thành con rối của vô thức nữa?

Khi đọc bài viết của A thì hòa vào A và dùng vô thức của A để quán sát bài viết ấy. Khi đọc bài viết của B thì hòa vào B và dùng vô thức của B để mà đọc bài viết ấy.

 Không phải ai cũng làm được điều này. Chính vì vậy mà có tranh luận và cãi vả.

Thứ Năm, 14 tháng 9, 2017

Một bậc giác ngộ khác với một bậc giác ngộ giải thoát như thế nào?

Giác ngộ là mới thấy tánh (hay còn gọi là kiến tánh). Nếu ngay lúc thấy tánh mà nhập Niết Bàn luôn thì xem như hết chuyện. Nhưng nếu không nhập Niết Bàn lúc ấy mà lại ráng tiếp tục duy trì cái thân ngũ uẩn thì dù đã thấy tánh vẫn bị tập khí sai khiến. Cho nên một bậc giác ngộ ngay lúc kiến tánh, chính tại thời điểm ấy thì rũ sạch tập khí, vì vậy nếu chết vào lúc đó thì nhập Niết Bàn. Còn thời cơ nhập Niết Bàn ấy trôi qua rồi, phải tiếp tục sống với thân ngũ uẩn thì phải tiếp tục tu để rũ sạch tập khí. Nếu may mắn có thể rũ sạch tập khí ngay kiếp sống này thì khi nào rời bỏ thân ngũ uẩn sẽ thể nhập Niết Bàn. Bằng không phải tái sanh tới lui thêm tối đa 7 lần nữa. Cho nên chớ nhầm 1 bậc giác ngộ hay một người đã kiến tánh là đã xong chuyện lớn. Chưa xong đâu, còn phải đến giai đoạn thể nhập tánh nữa. Cho nên kiến tánh khởi tu là vậy đó.

Còn một bậc giác ngộ giải thoát là người sau khi kiến tánh tiếp tục tu để thể nhập tánh. Khi thể nhập tánh thì chắc chắn là giải thoát cho nên người này gọi là bậc giác ngộ giải thoát. Người thể nhập tánh là người chứng quả Bất Lai hay còn gọi là Vô Sanh Pháp Nhẫn.

Một vị đã kiến tánh thì phải đi tiếp để thể nhập tánh. Còn vị đã thể nhập tánh rồi thì ung dung tự tại mà khám phá ra sự vi diệu của tánh trong cuộc sống hằng ngày.
Chỉ có bậc giác ngộ giải thoát hay nói cách khác là bậc thể nhập tánh mới có thể thấu tỏ nhân quả, vì thấu tỏ nên không còn lầm nhân quả nữa, hay nói cách khác vị này đã quy phục hoàn toàn nhân quả. Vì quy phục hoàn toàn nhân quả mà không còn trở lui lại nữa. Còn vị kiến tánh hay mới chỉ giác ngộ thì vẫn còn bị nhân quả sai khiến nên vẫn phải tái sanh.

Người đã giác ngộ thì mọi thứ đã an bày. Đúng là vậy, một người giác ngộ rồi thì việc giải thoát là việc tất nhiên. Tất nhiên nghĩa là dù họ có khởi ý muốn tiếp tục tu hay không thì vẫn không thành vấn đề, vì tập khí tự tu chứ không phải họ tu. 

Từ bi vô lượng

Không dừng lại không bước tới Như Lai bước khỏi bộc lưu.
Dừng lại là chống đối
Bước tới là chạy theo
Bộc lưu là dòng chảy luân hồi sanh tử.
Khi đối cảnh, không chống đối cũng không chạy theo cảnh thì bước khỏi luân hồi sanh tử.
Thế nào là không chống đối cũng không chạy theo? Đó là hòa, hòa nhập thành một vào cảnh.
Bậc giác ngộ giải thoát khi đối cảnh thì hòa vào cảnh. Khi hòa vào cảnh thì thành kiến định kiến vắng mặt, tâm phán xét, tâm chỉ trích, tâm sân hận không có cơ hội bộc lộ. Khi ấy từ bi vô lượng tự hiển lộ.

Còn phàm phu khi đối cảnh thì hoặc là chống lại hoặc là chạy theo. Có người chọn thái độ dửng dưng mặc kệ. Dửng dưng mặc kệ cũng là một cách chống đối. Vì khởi tâm chống đối hoặc chạy theo cho nên từ bi với tâm khởi như vậy là từ bi của sự dính mắc hay còn gọi là bi ái, khác hẳn với sự từ bi vô lượng của bậc giác ngộ giải thoát. Từ bi không dính mắc, từ bi do vắng đi sân hận và phán xét, cho nên từ bi ấy mới là vô lượng.

Thứ Ba, 5 tháng 9, 2017

Quy luật vận hành của bản ngã

Tất cả mọi thứ đều vận hành theo quy luật của chính nó. Bản ngã cũng vậy. Bản ngã vận hành theo quy luật. Nắm được quy luật vận hành của bản ngã thì không bị bản ngã lừa nữa. Lúc ấy thì mới gọi là bình thản trước mọi sự. Vì sao lại như vậy?

Vì nắm được quy luật vận hành của bản ngã thì biết được một ý/một việc ngay cả trước khi nó khởi sinh và ngay cả trước khi nó bị diệt. Khi mình theo dõi sự khởi sanh và diệt của một ý thì mình vẫn đang bị nó cuốn theo sự sanh và sự diệt ấy. Khi mình biết được trước khi nó sanh và trước khi nó diệt thì mới không bị cuốn. Để làm được như vậy thì phải nắm được quy luật vận hành của bản ngã. Cái này thì không ai dạy ai được, chỉ có mỗi người tự thân trải nghiệm.

Sở tri chướng

Cả cái biết lẫn cái không biết đều là sở tri chướng, chứ sở tri chướng không có nghĩa chỉ là cái biết của bộ não.
Cái biết giống như cái nhà kho tích lũy chất chứa rất nhiều thứ vào.
Cái không biết giống như cái nhà kho hổng có gì trong đó (đây là nói về cái không biết thật sự chứ không phải là cái không biết giả, nghĩa là kho chứa đầy nhóc thứ mà giả vờ là hổng có chứa gì cả.)
Cho nên dù cái kho có chứa hay trống rỗng thì đều là Sở Tri Chướng. Cái kho có chứa cũng như một người đầy kinh nghiệm và kiến thức. Cái kho trống rỗng cũng như một đứa trẻ thơ hổng có kinh nghiệm hay kiến thức gì cả.
Cái vượt qua khỏi cái biết và không biết đó là KHI NÀO CẦN BIẾT THÌ BIẾT, KHI NÀO HỔNG CẦN BIẾT THÌ HỔNG BIẾT. Đây là cái biết thích ứng theo đối cảnh, chứ hổng phải cái biết tích sẳn chờ cơ hội là bung ra, cũng không phải là cái hổng biết gì cả nghĩa là khi cơ hội bung ra đến rồi mà cũng hổng bung ra được.

Vượt qua vượt qua nghĩa là vượt qua được cả cái biết lẫn cái không biết, ấy là VƯỢT QUA.