Hiển thị các bài đăng có nhãn Cha mẹ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Cha mẹ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 4 tháng 4, 2018

Vì sao HIẾU đứng đầu vạn hạnh?

Như đã nói trong bài này, Hiếu nghĩa là sự tri ân, và hiếu chính là sự tri ân đến cha mẹ. Chỉ cần lòng tri ân phát khởi thì mọi công đức từ đó mà sanh ra. Tuy nhiên, sau khi nhiều người phát khởi lòng tri ân và dùng ngôn từ để diễn tả nó, vậy là mọi người đua nhau lao vào cuộc chiến Hiếu kính hoặc Tri ân. Tri ân do khởi ý, nghĩa là do mình đọc/nghe thấy người này người kia nói nên mình muốn giống như vậy nên mình khởi ý tri ân hòng được giác ngộ giống họ. Đó là sự tri ân giả tạo, nói cách khác đó là sự tri ân do bản ngã tạo ra chứ không phải là thật tâm tri ân.

Thật tâm tri ân là sự tri ân phát khởi một cách tự nhiên, do đủ duyên mà thành, do Nhân quả vận hành mà có, nằm ngoài mọi suy tính của bản ngã, nằm ngoài sự dự đoán của mình. Khi nào nó đến thì tự nhiên nó đến chứ không phải do mình muốn nó đến thì nó đến. Sự tri ân tự nhiên ấy mới đích thực là tri ân, và từ đó mới nảy sinh mọi công đức.

Sự tri ân giả tạo là do tri thức, kiến thức mang lại, do bản ngã tạo ra, do khởi ý mà đến. Sự tri ân thật sự xuất phát từ bên trong và khi sự tri ân ấy đến thì không chỉ bộ não cảm thấy mà cả trái tim, hơi thở, từng tế bào đều thấm đẫm lòng tri ân ấy. Khi sự tri ân ấy đến thì đồng thời phép mầu sẽ xảy ra, nghĩa là sẽ có điều cực kì mầu nhiệm xảy đến tạo ra bước ngoặc trọng đại trong cuộc sống cũng như trong con đường tìm tòi Chân Lý của mỗi người. Ai chưa thực sự trải qua sự tri ân tự nhiên thì chẳng thể biết đó là gì đâu nha. Cái gì cũng phải đến từ trải nghiệm thì mới thực biết, còn nghe người khác nói rồi nói lại thì nó chỉ thuộc về tri thức chứ không khởi sinh trí tuệ được đâu. Nếu thấy mình tri ân quá trời, hiếu kính dễ sợ mà hổng thấy phép mầu, hổng thấy có sự thay đổi trọng đại nào thì ấy chắc chắn là sự tri ân giả tạo rồi đó.

Làm sao để sự tri ân tự nhiên xảy ra?
Không biết. Khi nào đủ nhân đủ duyên thì nó tự đến. Một duyên quan trọng là tâm chánh niệm, nghĩa là nói biết mình nói gì, nghĩ biết mình nghĩ gì, làm biết mình làm gì. Chỉ cần như vậy, mọi việc còn lại hãy để cho Nhân Quả tự giải quyết.

Lưu ý: Vì tâm tri ân đến cùng với phép mầu, nghĩa là sự thay đổi ngoạn mục, cho nên không có quá trình hành pháp thì đừng hòng nó đến. Hành pháp không có nghĩa là buông xuôi mọi thứ để suốt ngày ngồi thiền tụng kinh hoặc niệm Phật. Ngồi thiền theo thói quen đó là nghiện thiền. Tụng kinh niệm Phật theo quán tính đó là si mê. Nhìn bề ngoài có vẻ hành pháp miên mật nhưng thật ra có hành gì đâu toàn là buông xuôi theo thói quen và si mê mà thôi. Hành pháp là làm biết mình đang làm gì, nghĩ biết mình đang nghĩ gì, nói biết mình đang nói gì. Thường hành như vậy thì dù mình có đang ngồi thiền niệm Phật tụng kinh hay đang làm việc để sinh sống, hoặc đang làm tròn trách nhiệm trong gia đình thì cơ hội giác ngộ đều như nhau. Hành pháp mọi lúc mọi nơi thì giác ngộ thôi. Chứ không phải kẻ ngồi thiền tụng kinh niệm Phật mới có cơ hội giác ngộ còn người sống trong gia đình hay làm việc trong xã hội thì không. Nơi nào có hành pháp nơi ấy có sự giác ngộ.

Nên nhớ: làm biết mình làm gì, nghĩ biết mình nghĩ gì, nói biết mình nói gì. Đó mới là hành pháp.

Chủ Nhật, 1 tháng 4, 2018

Phong tục “Để của cho con” dưới góc nhìn nhị nguyên.

Để của cho con là một truyền thống lâu đời của người Việt Nam. Phong tục này có liên quan đến phong tục thờ cúng tổ tiên ông bà.

Hồi xưa hồi còn dốt nát vô minh, tôi cũng nghĩ rằng đó là một phong tục thật hay. Nhờ phong tục này mà người Việt đánh thắng được tất cả quân xâm lược. Giờ khôn ra mới thấy phong tục này thiệt là si mê, nói cách khác phong tục này xuất phát từ sự ích kỷ của ông bà tổ tiên. Ủa, ngộ vậy, để của lại cho chúng ăn mà sao ích kỷ. Ờ, ngộ thiệt nha! Hahaha.

Cái sự ích kỷ này kéo dài mấy ngàn năm từ đời này qua đời nọ và có nguy cơ tiếp diễn dài dài. Vì cái sự ích kỷ cắm rễ quá sâu rồi nên theo quy luật “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu” “mã tầm mã ngưu tầm ngưu” chiêu mộ toàn những kẻ ích kỷ lại với nhau để làm thành một dòng tộc hay một quốc gia, dân tộc.

Biết ích kỷ sao không mọi người? Vì ích kỷ nên mới để của lại cho nó ăn. Lý do: muốn nó phải hưởng thọ ân nghĩa của mình dài dài, muốn nó không bao giờ phải quên ơn mình, muốn nó đời đời kiếp kiếp cho đến cả đời con đời cháu đời chắt của nó cũng phải thọ ân nghĩa của mình. Bởi vậy mới sanh ra cái được gọi là thờ cúng tổ tiên ông bà. Phong tục này thật ra rất hay bởi vì đó là sự gợi nhớ về nguồn gốc của dòng tộc, mục đích là nhằm tránh kết hôn gần để gây ra hiện tượng trùng huyết. Con cái đẻ ra do trùng huyết thì ít khi được khỏe mạnh. Thật ra trên thế giới, có nhiều dân tộc kết hôn người trong tộc, kết hôn gần chứ không kết hôn người ngoài. Chỉ được một thời gian thôi, sau đó thì họ bị hủy diệt hết. Còn nếu muốn dòng tộc lâu dài thì phải tránh hiện tượng kết hôn gần. Cho nên phải dựng lên cây gia phả nhằm mục đích nhận diện người có quan hệ bà con xa gần mà kết hôn cho thích hợp. Mục đích vừa đẹp đẽ vừa khoa học như vậy bị mình biến tướng thành phong tục thờ cúng tổ tiên ông bà, rồi từ đó sản sinh ra lòng ích kỷ, chỉ muốn gom góp lại cho gia đình, dòng tộc, con cháu mình chứ không muốn cho người ngoài. Trong khi mục đích của việc lập gia phả không phải để phân chia như vậy mà để nhằm kết hôn. Nhưng cái gì mà do lòng ích kỷ điều khiển thì nó sanh ra đủ thứ chuyện.

Cái mình để của lại cho con cháu ăn. Có đứa nào ăn của ông bà cha mẹ mà có thể giàu mãi được đâu, chỉ có từ đó mà đi xuống thôi chứ không có đi lên được nữa. Bởi vậy xuất hiện câu “không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời.” Lý do là vầy nè:

Phước đức của ông bà cha mẹ đến đó là tận cùng rồi, họ buộc phải xả ra để cho có sự cân bằng, nhưng mà họ không xả, họ ém lại cho con cho cháu. Xả ra thì giống như sông ngòi được khơi thông, giao lưu với các dòng nước khác thì sông ngòi mới tiếp tục sống, tiếp tục phát triển. Còn không xả mà ôm lại thì chẳng khác nào biển chết, hồ chết. Đã là biển chết rồi thì chỉ có tụ lại chỗ đó rồi lần lần theo quy luật Thành Trụ Hoại Không mà tự diệt thôi, chứ làm sao mà phát triển lên được nữa. Phước đức của mình đến hồi tận rồi, nhưng do lòng ích kỷ mình không muốn nó diệt, mình ảo tưởng rằng nó sẽ phát triển qua việc chuyển giao cho con cháu. Sao mà chuyển kiểu đó được ta? Biết sao không? Ví dụ cái nhà mình xây, mình làm ăn buôn bán thuận lợi là do nó hợp phong thủy với mình, còn mình nhường lại cho con cháu thì nó phải bán hoặc phải đập sạch làm lại toàn bộ mới để cho hợp phong thủy của nó. Nhưng mà khi mình xây mình nâng niu từng viên gạch, cho nên mình bắt con cháu thề rằng không được đập, đứa nào hưởng thì phải giữ y nguyên chỉ sửa chửa thôi. Vậy là cái phong thủy đời mình mình ép qua đời con cháu, gọi là ám, mình ám nó hoài thì làm sao nó phát triển. Cho nên đứa nào ở đó thì đứa đó càng ngày càng lụn bại càng đi xuống là vậy. Lục bại là do ám khí của ông bà tổ tiên nặng nề quới mừ. Nhưng mà mình không có biết, mình tưởng vậy là hay, là giúp ích cho con cháu mà không ngờ mình ám nó dễ sợ ám. Ám như một đám mây mù che phủ tụi nó, hổng có ánh nắng thì lấy gì mà phát triển.

Cái có câu hỏi: Vậy sao có gia đình truyền lại cho con cháu mà tụi nó phát triển quá vậy?
Trả lời: Có một số lý do sau: đứa nào hưởng của đó mà phát triển là do nó tình cờ hợp phong thủy nơi đó, và nó biết khơi thông sông ngòi, tránh tình trạng biển chết hồ chết. Để có một đứa tương thích phong thủy với ông bà tổ tiên không phải là chuyện dễ đâu nha. Hiếm hoi lắm à! Cái mình lấy cái trường hợp hiếm hoi ấy ra làm gương rồi ảo tưởng rằng mình cũng vậy. Cái thành ám khí hồi nào hổng hay luôn.

Cho nên để của lại cho con cháu là một dạng để ám khí lại cho con cháu, chứ hổng có ích lợi gì đâu nha. Tụi nó bị mình ám như ma ám cho nên “không ai giàu ba họ” là vậy đó hehehehe.

Bởi, để của lại cho con cháu, thờ cúng ông bà tổ tiên là một dạng ám con ám cháu đó chứ hổng có gì hay ho đâu nha mọi người! Hổng tin thì cứ quan sát đi: Có ai ở nhà thờ của gia đình mà phát triển được đâu. Toàn là cứ vậy mà lụn bại dần.

Các nước phát triển họ biết điều này lâu rồi nên họ không có ý niệm câu: “Không ai giàu ba họ” nữa mà thực tế là giàu đến mười mấy họ luôn, và họ không phải là người tích góp của cải để lại cho con cháu. Nhờ hổng để lại ám khí cho con cháu nên con cháu mới giàu hoài, mười mấy đời sau giàu vẫn hoàn giàu. Tích của nhiều quá thì đến lúc nào đấy phải xả cho cán cân vũ trụ được thăng bằng. Cho nên họ xả bằng cách trả của tích góp lại cho xã hội qua các tổ chức từ thiện, tài trợ cho những kẻ kém may mắn hơn. Họ biết xả đúng lúc thì cán cân cân bằng lại, khi cân bằng rồi thì họ gom của tiếp, gom đến lúc nào đó thì lại xả cho cân bằng, rồi lại gom rồi lại xả. Cứ gom rồi xả như vậy miết nên mới giàu hoài giàu mãi. Còn mình chỉ biết gom mà không biết xả thì đến đời con cháu mình cũng phải xả cho cân bằng mà thôi. Bởi, kẻ chỉ biết gom thì mới có câu: “Không ai giàu ba họ” là vậy.

Cho nên ai có của thì lo mà xả đi nha, để lại cho con cháu thì đó là để ám khí, đè cho nó khỏi phát triển luôn đó. Nếu mình không đủ can đảm để xả cái mình nhọc công nhọc sức dành cả đời gom góp thì phải để cho con cháu xả. Nó muốn phát triển thì nó phải xả, nó phải khơi thông sông ngòi ra. Nó phải đập bỏ nhà thờ mà xây mới, nó phải bán tài sản của cha ông mà tự xây dựng lại cái mới. Cho nên ai mà khởi ý: xây nhà để cho con cháu thì tự xem lại đi nha. Mình xây nhà cho mình ở chứ cho con cháu cái gì. Phong thủy mình có hợp phong thủy nó đâu mà để lại cho nó. Mình xây mình ở, mình chết rồi thì nó muốn làm gì thì nó làm, nếu không thì trước khi chết tìm cách đập bỏ luôn cho rồi, khỏi phiền đến con cháu ra tay làm giúp công việc ấy.

Từ cái việc để của cho con cháu đến cái thờ cúng tổ tiên ông bà là vầy nè: Do mình để lại ám khí cho nó nên mình muốn nó phải nhớ ơn mình vì cái ám khí đó, mình bắt nó phải thờ phải cúng để cho mình khỏi đi đầu thai mà cứ lơ lửng hoài ở giai đoạn thân trung ấm cho gần tài sản của mình, cho khỏi luyến tiếc vì tự dưng bỏ công gom cả đời giờ phải tay trắng mà chết. Cái mình thành ma trong khu ấy luôn. Bởi, những dân tộc có tục thờ cúng tổ tiên ông bà thường có nhiều ma nhiều quỷ là vậy đó. Đi gì nổi mà đi, luyến tiếc muốn chớt, ở lại để phù hộ cho con cháu, trong khi thân mình mình còn lo chưa xong, cứ lên xuống luân hồi miết trong các cõi thì mình phù hộ được cho ai mà đòi phù hộ. Ảo tưởng quá hà!

Cho nên ai chết rồi thì đuổi họ đi đầu thai cho rồi, để họ cứ lơ lửng ở giai đoạn thân trung ấm chỉ là hoãn thời gian đầu thai của họ mà thôi. Chết rồi thì cút đi nha, hổng có lơ lơ lửng lửng ám con ám cháu nữa hà.

Con cháu thì do bị tập tục mấy ngàn năm truyền lại, sợ bị mất thể diện sợ bị chê cười nên cố gắng làm nhà mồ cho to, mộ cho đẹp để dụ ông bà tổ tiên lơ lửng bên cạnh khỏi đi đầu thai. Họ cứ vậy mà hết năm này qua năm nọ, ma chẳng ra ma, người chẳng ra người, ảo tưởng vậy là để phù hộ. Cái thứ nửa ma nửa người ấy mà phù hộ cái nỗi gì, đuổi đi đầu thai hết đi chứ thờ cúng cái gì mà thờ cúng. Cái đứa mà leo được lên bàn thờ cho người ta thờ cúng là cái đứa trong cõi Atula của tôi nè mọi người. Cái thứ thân trung ấm làm sao mà giành giật được với tụi quỷ atula để leo lên bàn thờ ngồi mà hưởng hoa hưởng quả. Cho nên mọi người toàn là thờ tụi quỷ atula đàn em của tôi không đó nha. Bởi, phong tục càng được duy trì thì tụi đàn em của tôi càng có nơi ăn chốn ở ấm êm no đủ hihihi. Tụi bây là cái tụi quỷ atula ham ăn ham uống lắm nha bây!

Túm cái ý lại: để của cho con cháu là để ám khí lại ám đời tụi nó. Lập nhà mồ, lập mộ là để dụ ông bà tổ tiên khỏi đi đầu thai cứ mãi sống kiếp thân trung ấm. Thờ cúng tổ tiên là thờ cúng cái tụi quỷ atula, đàn em của tôi.

Vậy đi nha! Phong tục người ta đẹp muốn chết. Từ mục đích tránh trùng huyết trở thành thờ tụi quỷ atula. Bởi, vô minh là kẻ thù lớn nhất của mỗi người là vậy đó hihi!

P.s Đừng tưởng rằng người dân ở các nước phát triển là không biết gì về đạo Phật nha mọi người. Họ chẳng những biết mà còn thấm, nên kiếp này họ sinh sống ở đó để áp dụng cái họ đã thấm vào cuộc sống hằng ngày. Mình hổng thấy họ thờ Phật thờ Tổ mình tưởng họ ngu muội. Chính mình mới là ngu muội nè! Người ta tu từ nhiều kiếp trước rồi bây giờ người ta hưởng phước, sinh sống ở nơi sạch đẹp, môi trường trong lành, văn minh, đẹp đẽ. Cho nên mình ngỡ rằng họ ngu mình đi giảng đạo cho họ mà không biết rằng hạt giống bồ đề của họ có khi lại to hơn hạt giống của mình nữa đó. Người dân ở các nước Phật giáo đến với tôn giáo bằng niềm tin. Còn người dân ở các nước phát triển đến với tôn giáo bằng trí tuệ. Họ không tin mà họ phải thực chứng trước rồi mới tin. Còn mình tin rồi thì mới thực chứng, cho nên mình đi rất lâu, còn họ thực chứng rồi mới tin nên họ đi mau. Biết sao tôi biết không? Bởi vì tôi đi bằng con đường đó mừ. Trước đây tôi theo chủ nghĩa vô thần không theo bất kì một tôn giáo nào cả, không tự nguyện quỳ lạy bất cứ một ai kể cả là Phật. Khi tôi đọc kinh Phật hay tất cả mọi thứ, tôi đọc bằng trí tuệ phân tích lô gích, tôi dùng khoa học để đánh bại mọi lý lẽ trong những thứ mà tôi đọc. Và điều mà tôi kinh ngạc nhất là dù tôi có dùng mọi “âm mưu” và “thủ đoạn” gì đi chăng nữa thì cũng không thể đánh bại được lời của ông Thích Ca (trong tạng kinh Pali). Những gì ổng nói được tôi soi bằng lý luận, khoa học và ứng dụng thực tiễn. Tất cả mọi thứ khớp khao, cực kì lô gích, cực kì khoa học, từng chút một, không có bất cứ một khe hở nào cả. Đó là sự kinh ngạc cực lớn đối với tôi. Phải nói ổng là bậc thầy về khoa học. Bởi tôi ngưỡng mộ ổng quá nên niềm tin mới phát triển. Niềm tin phát triển qua việc đánh đố mọi lời ổng nói chứ hổng có tin mù quáng đâu nha. Bởi, tui thấy tụi Tây phương học đạo cũng theo con đường này nên tôi mặc kệ cho họ tự phát triển theo duyên nghiệp của chính họ. Người không biết cứ nhào vô giảng đạo cho họ. Giảng đến đâu họ đánh đố đến đó thành ra á khẩu, hết nói được luôn, rồi quay ra bảo họ vô minh mà không biết rằng chính mình mới là vô minh nè! Hihi. 

Thứ Ba, 17 tháng 10, 2017

Vì sao giết cha giết mẹ là định nghiệp?

Nghĩa là giết cha giết mẹ thuộc về năm trọng tội không thể tha thứ được, hễ gieo thì thế nào cũng phải trả, cho nên mới gọi là định nghiệp.
Cha mẹ và con cái có mối quan hệ không ân thì cũng oán. Đó là lý do vì sao có người con có hiếu với cha mẹ nhưng cũng có người con không thể dung hòa nổi với cha mẹ mình.
Có khi cha mẹ mình lại là người từng có oán thù sâu nặng với mình. Có thể trong kiếp sống quá khứ từng giết hại mình, từng đàn áp mình, từng làm cho mình uất ức đến mức phải trở thành con của họ để hại lại họ.
Nhưng vì sao bất chấp những oán thù quá khứ ấy thì đạo Phật lẫn đạo làm người đều luôn dạy con cái phải có hiếu với cha mẹ?
Vì quá khứ đã qua rồi, chuyện quá khứ thuộc về dĩ vãng, còn kiếp sống hiện tại thì mình biết ơn họ một mạng sống. Họ đã tạo duyên để cho mình được sinh ra đời và nuôi dưỡng mình trưởng thành. Nhờ duyên do họ tạo và nhờ tình bi ái của họ mà mình mới có cơ hội để sống, có sống được thì mới tu được chớ.

Cho nên bất chấp oán thù trong quá khứ là gì thì ngay trong kiếp sống này bất cứ người con nào bất hiếu với cha mẹ đều bị lên án là vậy đó.

Thứ Hai, 24 tháng 7, 2017

Làm thế nào để trả ơn cha mẹ?

Nhân dịp lễ Vu Lan 2017 đang đến gần nên đăng bài này.

"Có hai hạng người, này các tỳ-khưu, ta nói không thể trả ơn
được. Thế nào là hai? Mẹ và Cha.
Nếu một bên vai cõng mẹ, nếu một bên vai cõng cha, làm vậy suốt trăm năm, cho đến trăm tuổi; nếu đấm bóp, thoa xức, tắm rửa, xoa gội và dù tại đấy, mẹ cha có vãi tiểu tiện đại tiện, như vậy, cũng chưa làm đủ hay trả ơn đủ mẹ và cha. Hơn nữa, nếu có an trí cha mẹ vào quốc độ với tối thượng uy lực, trên quả đất lớn với bảy báu này, như vậy, cũng chưa làm đủ hay trả ơn đủ mẹ và cha. Vì cớ sao? Vì rằng cha mẹ giúp đỡ rất nhiều cho các con, nuôi dưỡng chúng lớn và dẫn dắt chúng vào cuộc đời này.
Nhưng này các tỳ-khưu, ai đối với cha mẹ không có lòng tin, người ấy khuyến khích, hướng dẫn an trú cha mẹ vào lòng tin; đối với cha mẹ theo ác giới, người ấy khuyến khích, hướng dẫn, an trú cha mẹ vào thiện giới; đối với cha mẹ có lòng xan tham, người ấy khuyến khích, hướng dẫn, an trú cha mẹ vào bố thí; đối với mẹ cha theo ác trí tuệ, người ấy khuyến khích, hướng dẫn, an trú cha mẹ vào trí tuệ. Cho đến như vậy, này các tỳ-khưu, là làm đủ và trả ơn đủ cha và mẹ. "

Trích tăng chi bộ chương 2; IV. Phẩm Tâm Thăng Bằng.

Thứ Năm, 31 tháng 12, 2015

THỜ CÚNG ÔNG BÀ (Thầy Viên Minh giảng)

Tục lệ dân gian thờ Cửu Huyền Thất Tổ là để nhớ ơn tổ tiên ông bà cha mẹ đã quá vãng thì đúng, nhưng rước ông bà về thờ thì đôi lúc chỉ rước ma quỷ về nhà thôi, vì phần lớn tổ tiên đã tái sinh qua kiếp khác rồi. Rước ma quỷ về thì người nào yếu họ nhập vào để tỏ quyền uy. Phật dạy đối với người đã quá vãng tốt nhất là làm phước hồi hướng cho họ được siêu sinh chứ không nên rước về giữ họ lại cõi âm khiến họ không đi tái sinh dương thế được.

Việc đi chùa không lệ thuộc vào vị trụ trì, chỉ nên nghiên cứu kinh sách, nghe giảng để hiểu Phật pháp, thông suốt đạo lý mà sống cho đúng tốt, nếu không hiểu đạo lý thì chỉ rơi vào mê tín dị đoan, nô lệ vào nghi lễ cúng bái cầu xin chứ không phải là Phật pháp. Biết tu tâm, dưỡng tánh, biết hành động, nói năng, suy nghĩ sáng suốt định tĩnh trong lành, biết sống lợi mình lợi người thì mới là Phật tử chân chính chứ không phải có pháp danh, đeo tượng Phật là Phật tử.

Thứ Hai, 31 tháng 8, 2015

Trả Ơn Mẹ Cha Không Dễ (Na Suppatikāraṃ)

Mỗi người được hiện hữu trên cõi đời do nhờ công ơn sinh thành dưỡng dục của mẹ cha, cho nên, công ơn của mẹ cha thật là lớn lao vô lượng, vô biên mà bổn phận làm con khó mà đền đáp công ơn sinh thành dưỡng dục của mẹ cha một cách xứng đáng được.

Đức-Phật dùng ví dụ rằng:

Người con đặt mẹ bên vai phải, đặt cha bên vai trái, cung phụng đầy đủ mọi thứ nhu cầu cần thiết trong cuộc sống hằng ngày của mẹ cha, tắm rửa, xoa bóp, xức nước hoa, ăn uống ngủ nghỉ, thậm chí mẹ cha đi tiểu tiện ở trên vai của người con, suốt thời gian tuổi thọ 100 năm như vậy.

Dù người con có thật sự làm được như vậy, thì cũng chưa có thể gọi là người con chí hiếu trả công ơn sinh thành dưỡng dục của mẹ cha một cách xứng đáng, bởi vì mẹ cha có công ơn lớn lao vô lượng, vô biên, … đối với người con. Mẹ cha cho con sinh ra đời, nuôi nấng, dưỡng dục con nên người.

Vậy, người con có cách nào để trả công ơn mẹ cha một cách xứng đáng hay không?


Đức-Phật dạy 4 pháp với ý nghĩa:

* Người con nào biết mẹ cha là người không có đức-tin trong sạch nơi Tam-bảo: Đức-Phật-bảo, Đức-Pháp-bảo, Đức-Tăng-bảo; không tin nghiệp và quả của nghiệp,… người con ấy nên thuyết phục mẹ cha trở thành người có đức-tin đầy đủ (saddhāsampadā).
  
* Người con nào biết mẹ cha là người không có ngũ-giới,… trong sạch, người con ấy nên thuyết phục mẹ cha trở thành người có ngũ-giới trong sạch và đầy đủ trọn vẹn (sīlasampadā).

* Người con nào biết mẹ cha là người có tâm bủn xỉn, keo kiệt trong của cải tiền bạc của mình,… người con ấy nên thuyết phục mẹ cha trở thành người có đại-thiện-tâm hoan-hỷ trong sự làm phước-thiện bố-thí, cúng-dường đến chư tỳ-khưu-tăng, v.v… người có sự bố-thí đầy đủ (cāgasampadā).

* Người con nào biết mẹ cha là người không có trí-tuệ sáng suốt,… người con ấy nên thuyết phục mẹ cha trở thành người có trí-tuệ sáng suốt, thấy rõ biết rõ thật-tánh của các pháp, trí-tuệ thiền-tuệ thấy rõ biết rõ các sắc-pháp, danh-pháp tam-giới và siêu-tam-giới, người có trí-tuệ đầy đủ (paññāsampadā).

Ví như Ngài Đại-Trưởng-lão Sāriputta thuyết pháp tế độ mẫu thân trở thành bậc Thánh-Nhập-lưu. Cho nên, Ngài Đại-Trưởng-lão dạy rằng: 
“Tôi đã trả ơn sinh thành dưỡng dục của mẹ tôi rồi.”

Nếu người con nào có khả năng thuyết phục:

* mẹ cha là người không có đức-tin, trở thành người có đức-tin đầy đủ (saddhāsampadā).

* mẹ cha là người không có ngũ-giới,… trở thành người có ngũ-giới trong sạch và đầy đủ trọn vẹn.

* mẹ cha là người có tâm bủn xỉn, keo kiệt trong của cải, tiền bạc của mình, trở thành người hoan-hỷ trong sự bố-thí đầy đủ (cāgasampadā).

* mẹ cha là người không có trí-tuệ, trở thành người có trí-tuệ sáng suốt, có trí-tuệ thiền-tuệ thấy rõ biết rõ thật-tánh của các sắc-pháp, danh-pháp đầy đủ (paññāsampadā).

Thì người con ấy mới được gọi là người con biết ơn mẹ cha và biết trả ơn mẹ cha của mình  một cách xứng đáng.
Nếu trường hợp người con không có khả năng thuyết phục mẹ cha được thì thỉnh mời các vị Trưởng-lão đến thuyết giảng để cho mẹ cha trở thành người có đức tin, có giới trong sạch, biết bố thí, có trí-tuệ thì người con ấy cũng được gọi là người con biết ơn mẹ cha và biết trả ơn mẹ cha của mình một cách xứng đáng.
Thật vậy, dù người con cung phụng những nhu cầu cần thiết trong cuộc sống hằng ngày đến mẹ cha thì cũng chỉ giúp đỡ về phần thân thể của mẹ cha được an-lạc trong kiếp hiện-tại mà thôi.

Nếu người con nào có khả năng thuyết phục  mẹ cha trở thành người có đức-tin đầy đủ (saddhāsampadā), có ngũ-giới trong sạch và đầy đủ (sīlasampadā), có sự bố-thí đầy đủ (cāga-sampadā), có trí-tuệ đầy đủ (paññāsampadā) thì mẹ cha chắc chắn không chỉ hưởng sự lợi ích, sự tiến hoá, sự an-lạc trong kiếp hiện-tại mà còn hưởng vô số kiếp vị-lai, nhất là làm nhân-duyên dẫn đến chứng-ngộ chân-lý tứ Thánh-đế, chứng đắc Thánh-đạo, Thánh-quả, Niết-bàn, giải thoát khổ tử sinh luân hồi trong 3 giới 4 loài.

Cho nên, người con ấy được gọi là người con chí hiếu biết ơn mẹ cha (kataññū) và biết trả công ơn (katavedī) sinh thành dưỡng dục của mẹ cha một cách xứng đáng.

Xem nguồn bài viết ở đây

Thứ Năm, 2 tháng 4, 2015

Khoảnh khắc chào đời


Một ekip nhiếp ảnh mang tên “Cradled Creations The Birth Photographer” đã thực hiện bộ ảnh ghi lại khoảnh khắc tuyệt vời của người phụ nữ trong quá trình sinh con.

Xem nguồn bài viết ở đây

















wlgabs0a

Thứ Tư, 1 tháng 4, 2015

Tâm Thiền

Đối với những người làm cha làm mẹ, ai cũng mong con mình hạnh phúc, thành đạt trong cuộc sống. Do đó, họ tìm cách trang bị cho con đủ thứ từ học vấn đến kỹ năng......... Điều ấy là đúng. Tuy nhiên, cái quan trọng nhất mà một người cha/mẹ cần giúp trẻ con, đó là giúp nó có một cái TÂM THIỀN (để làm được điều này thì cha/mẹ phải có một cái tâm thiền trước cái đã.)
Thế nào là một cái TÂM THIỀN?
Khi nói đến thiền, người ta hay hình dung đến những người ngồi im bất động mắt lim dim. Tuy nhiên, thiền không cốt ở tướng ngồi mà ở tâm thiền.
Tâm thiền là một cái tâm chánh niệm tỉnh giác, cụ thể là sự THẬN TRỌNG, CHÚ TÂM, QUÁN SÁT RÕ trong từng hoạt động, trong từng sự việc, dù đó là việc được cho là tầm thường nhất, như cúi người xuống nhặt 1 cái gì đó. Đặt toàn bộ sinh mệnh mình vào từng công việc nhỏ nhặt. Đặt toàn bộ sanh mệnh mình nghĩa là thân ở đâu, tâm ở đó.
Đó là TÂM THIỀN.
Một đứa trẻ được hướng dẫn cho có một cái tâm thiền thì có thể học rất giỏi? Vì sao? Vì trí tuệ ngày càng phát triển. Khi lăn xả vào cuộc sống thì là một người "bất khả chiến bại" trong bất cứ lĩnh vực gì. Bất khả chiến bại, ngoài nghĩa có thể làm rất giỏi công việc mà còn có nghĩa là biết đứng dậy sau vấp ngã, biết học hỏi từ sai lầm.
Do đó, điều thiết yếu nhất mà cha/mẹ cần dạy con là làm gì cũng làm với một cái TÂM THIỀN. Còn lại, mọi chuyện tự vận hành.

Thứ Tư, 28 tháng 1, 2015

LỜI PHẬT DẠY VỀ CÁCH ỨNG XỬ VỚI CHA MẸ, BẠN BÈ, VỢ CON, NGƯỜI LÀM, VÀ NGƯỜI TU.



Phương Ðông cần được hiểu là cha mẹ. Phương Nam cần được hiểu là sư trưởng. Phương Tây cần được hiểu là vợ con. Phương Bắc cần được hiểu là bạn bè. Phương Dưới cần được hiểu là tôi tớ, lao công. Phương Trên cần được hiểu là Sa-môn, Bà-la-môn.

Này Gia chủ tử, có bốn trường hợp, người con phải phụng dưỡng cha mẹ như phương Ðông: "Ðược nuôi dưỡng, tôi sẽ nuôi dưỡng lại cha mẹ; tôi sẽ làm bổn phận đối với cha mẹ; tôi sẽ gìn giữ gia đình và truyền thống; tôi bảo vệ tài sản thừa tự; tôi sẽ làm tang lễ khi cha mẹ qua đời". Này Gia chủ tử, được con phụng dưỡng như phương Ðông, theo năm cách như vậy, cha mẹ có lòng thương tưởng đến con theo năm cách: Ngăn chận con làm điều ác; khuyến khích con làm điều thiện; dạy con nghề nghiệp, cưới vợ xứng đáng cho con; đúng thời trao của thừa tự cho con.

Này Gia chủ tử, có năm cách, đệ tử phụng dưỡng các bậc sư trưởng như phương Nam: Ðứng dậy để chào, hầu hạ thầy, hăng hái học tập, tự phục vụ thầy, chú tâm học hỏi nghề nghiệp. Này Gia chủ tử, được đệ tử phụng dưỡng như phương Nam theo năm cách như vậy, các bậc sư trưởng có lòng thương tưởng đến các đệ tử theo năm cách: Huấn luyện đệ tử những gì mình đã được khéo huấn luyến; dạy cho bảo trì những gì mình được khéo bảo trì; dạy cho thuần thục các nghề nghiệp; khen đệ tử với các bạn bè quen thuộc; bảo đảm nghề nghiệp cho đệ tử về mọi mặt.

Này Gia chủ tử, có năm cách, người chồng phải đối xử với vợ như phương Tây: Kính trọng vợ, không bất kính đối với vợ; trung thành với vợ; giao quyền hành cho vợ; sắm đồ nữ trang với vợ; Này Gia chủ tử, được chồng đối xử như phương Tây theo năm cách như vậy, người vợ có lòng thương tưởng chồng theo năm cách: Thi hành tốt đẹp bổn phận của mình; khéo tiếp đón bà con; trung thành với chồng; khéo gìn giữ tài sản của chồng; khéo léo và nhanh nhẹn làm mọi công việc.

Này Gia chủ tử, có năm cách vị thiện nam tử đối xử với bạn bè như phương Bắc: Bố thí, ái ngữ, lợi hành, đồng sự, không lường gạt. Này Gia chủ tử, được vị thiện nam tử đối xử như phương Bắc theo năm cách như vậy, bạn bè có lòng thương kính vị thiện nam tử theo năm cách: Che chở nếu vị thiện nam tử phóng túng; bảo trì tài sản của vị thiện nam tử nếu vị này phóng túng; trở thành chỗ nương tựa khi vị thiện nam tử gặp nguy hiểm; không tránh xa khi vị thiện nam tử gặp khó khăn; kính trọng gia đình của vị thiện nam tử.

Này Gia chủ tử, có năm cách một vị Thánh chủ nhân đối xử với hạng nô bộc như phương Dưới: Giao việc đúng theo sức lực của họ; lo cho họ ăn uống và tiền lương; điều trị cho họ khi bệnh hoạn; chia xẻ các mỹ vị đặc biệt cho họ; thỉnh thoảng cho họ nghỉ phép. Này Gia chủ tử, các hàng nô bộc được Thánh chủ nhân đối xử như phương Dưới với năm cách như kia, có lòng thương tưởng đối với vị chủ nhân theo năm cách như sau: Dậy trước khi chủ dậy; đi ngủ sau chủ; tự bằng lòng với các vật đã cho; khéo làm các công việc; đem danh tiếng tốt đẹp cho chủ.

Này Gia chủ tử, có năm cách vị thiện nam tử đối xử với các vị Sa-môn, Bà-la-môn như phương Trên: Có lòng từ trong hành động về thân; có lòng từ trong hành động về khẩu; có lòng từ trong hành động về ý; mở rộng cửa để đón các vị ấy; cúng dường các vị ấy các vật dụng cần thiết. Này Gia chủ tử, các vị Bà-la-môn, Sa-môn được vị thiện nam tử đối xử như phương Trên theo năm cách như vậy, có lòng thương tưởng vị thiện nam tử ấy theo năm cách sau đây: Ngăn họ không làm điều ác; khuyến khích họ làm điều thiện; thương xót họ với tâm từ bi, dạy họ những điều chưa nghe; làm cho thanh tịnh điều đã được nghe; chỉ bày con đường đưa đến cõi Trời.

(Trích Kinh Giáo Thọ Thi-Ca-La-Việt (Sigàlovàda sutta) thuộc No.31, Trường Bộ Kinh.)

Thứ Tư, 7 tháng 1, 2015

Vì sao có những người tu "giữa đường gãy gánh," nghĩa là phải hoàn tục để cưới vợ/chồng?



(Có thể có nhiều nguyên nhân, và dưới đây có thể chỉ là một trong số đó.)
Vì họ chưa có trải nghiệm về sự vô ngã vị tha nên họ phải học bài học ấy từ cuộc đời. Việc chăm sóc gia đình nhỏ của mình, chăm sóc người khác, đặc biệt là chăm con là sự thể hiện tính vô ngã vị tha rốt ráo. Họ phải học xong bài học ấy thì họ mới có thể tiếp tục con đường tu của mình được.
Do đó, có câu "thương chúng sanh như mẹ hiền thương con một." Chưa bao giờ trải nghiệm điều ấy thì làm sao họ có thể có được tình thương ấy!.
Do đó, sự hoàn tục thực ra chỉ là một giai đoạn để họ phải học bài học mà họ cần học cho sự giác ngộ giải thoát của mình.
Tuy nhiên, những ai đã học xong bài học ấy từ những kiếp trước hoặc đã biết thực hành lòng vô ngã vị tha rồi thì họ không bị "giữa đường gãy gánh" nữa.

Chủ Nhật, 25 tháng 5, 2014

Đức Phật Dạy Con Như Thế Nào

Gil Fronsdal
(Nguyên tác: “The Buddha as a Parent”, Tạp chí Inquiring Mind, số Xuân 2008)
Ngày nay, hầu như người Phật tử nào cũng biết rằng Thái tử Tất Đạt Đa, sau này là Đức Phật, đã lìa bỏ tổ ấm của mình để đi tìm con đường giải thoát vào chính cái ngày La Hầu La — đứa con trai [duy nhất] của Ngài — chào đời. Nhiều người cảm thấy khó hiểu, thậm chí phẫn nộ, trước một hành động có vẻ “thiếu trách nhiệm” như thế. Song, ít ai biết rằng sau khi đạt được Chính Đẳng Chính Giác, Đức Phật đã trở thành thầy dạy dỗ chính cho con trai của mình trong hầu hết quãng đời niên thiếu của con Ngài, kể từ khi La Hầu La lên 7 tuổi, và Ngài đã là một người cha rất mực mô phạm: La Hầu La đã đạt được giác ngộ viên mãn khi mới 20 tuổi. Vậy, ta hãy tự hỏi, Đức Phật là một người cha như thế nào? Phương pháp dạy con của Ngài ra sao? Làm thế nào một bậc giác ngộ trao truyền những giá trị tâm linh của mình cho con cái?
Kinh điển không đề cập nhiều đến mối quan hệ cha-con giữa Đức Phật và La Hầu La, nhưng đâu đó có để lại những dấu hiệu thú vị đáng lưu ý về việc Đức Phật đã dẫn dắt con mình như thế nào trên con đường trưởng thành. Mặc dầu trước các kinh điển này đã có những mẩu chuyện nói về việc La Hầu La đã trở thành đồ đệ của Đức Phật như thế nào, nhưng phần lớn những chi tiết này nằm trong ba bài pháp mà nếu ta gom cả lại với nhau, thì đó chính là một tiến trình liên tục của con đường dẫn tới giác ngộ: lúc La Hầu La 7 tuổi, Đức Phật dạy cho con về đạo đức; lúc La Hầu La 10 tuổi, Đức Phật dạy cho con thiền; và lúc 20 tuổi, Ngài dạy về tuệ giác giải thoát. Quá trình trưởng thành của La Hầu La, vì vậy, đi đôi với tiến trình giác ngộ của Đức Phật.
Khi con trai của tôi tròn 7 tuổi, tôi bắt đầu suy tư về việc làm cách nào để dẫn dắt nó và em trai của nó trên con đường tâm linh. Ít nhất, tôi muốn chúng nó học và thực hành Phật pháp đủ để sau này lớn lên chúng có thể trở về với những tiềm năng đó nếu chúng thích hay cần đến. Tôi cũng nghĩ rằng nếu các con tôi có thể nương tựa nơi Phật pháp, thì sau này, dù đang ở bất cứ nơi đâu, chúng cũng có thể quay về với cái mái ấm đó. Nhất là, vì đối với tôi, gia tài lớn nhất mà tôi có được qua sự thực tập Phật pháp là sự an lạc, thảnh thơi và lòng từ bi, tôi tự hỏi làm cách nào tôi có thể trao truyền cái gia tài tâm linh đó lại cho thế hệ sau. Được biết La Hầu La bắt đầu được Đức Phật dạy dỗ từ năm bảy tuổi, tôi lục tìm trong những bản kinh tiếng Pali để học lấy những phương pháp mà Đức Phật đã sử dụng để dạy dỗ con của Ngài.
Tôi tìm thấy cách làm thế nào để lại một “gia tài tâm linh” qua những mẩu chuyện thật hay trong kinh điển về việc La Hầu La đã theo học với cha như thế nào. Sáu năm sau khi Đức Phật rời bỏ gia đình, và một năm sau khi đạt được giác ngộ, Đức Phật trở về kinh thành. La Hầu La, lúc ấy bảy tuổi, theo lời mẹ dạy, đã chạy đến bên cha để xin thừa hưởng gia tài. Nếu như ngày xưa Thái tử Tất Đạt Đa không bỏ kinh thành ra đi, thì bây giờ La Hầu La đã được truyền ngôi vua. Nhưng là một người đã buông bỏ hết tất cả, sống đời khổ hạnh, Đức Phật có thể trao lại cho con mình cái gì? Đáp lời La Hầu La, Đức Phật quay sang nói với Ngài Xá Lợi Phất (Sariputta), một đồ đệ thân tín của Đức Phật: “Hãy thâu nhận nó.” [Như vậy], thay vì được ngôi vua, La Hầu La đã được thừa hưởng con đường đi của cha mình — con đường dẫn đến giải thoát.
Có lẽ còn lâu lắm con trai tôi mới cạo trọc đầu và khoác lên mình chiếc áo cà sa, nhưng tôi vẫn muốn cho con tôi tiếp xúc với những điều căn bản của Phật pháp, những điều đã chuyển hoá sâu sắc cuộc đời tôi. Khi tôi đọc những đoạn kinh về cách Đức Phật dạy La Hầu La, tôi ngạc nhiên nhận ra rằng những điều này không những vẫn còn mới mẻ mà còn rất thích hợp với việc dạy con ở nước Mỹ này, trong thời hiện đại này. Thật vậy, những bài pháp này đã trở thành kim chỉ nam cho tôi trong việc dạy con.
ĐẠO ĐỨC
Câu chuyện đầu tiên kể về La Hầu La được Đức Phật dạy về lòng chính trực (integrity) như thế nào. Lúc lên 8 tuổi, La Hầu La đã nói dối. Bài Kinh Giáo Giới La Hầu La (Trung Bộ Kinh, 61) kể rằng sau khi tọa thiền xong, Đức Phật đến tìm La Hầu La. Sau khi mời cha ngồi, La Hầu La lấy một thau nước cho cha rửa chân, theo phong tục hồi đó. Sau khi rửa chân xong, Đức Phật hỏi: “Này, La Hầu La, con có thấy chút nước còn lại trong cái thau này không?”
“Dạ, con có thấy” – La Hầu La thưa.
“Đời của một người tu cũng chỉ đáng bằng một chút nước này thôi, nếu như người đó cố tình nói dối.”
Tôi tưởng tượng La Hầu La đỏ mặt lên.
Sau đó, Đức Phật hất đổ hết nước trong thau ra và nói: “Đời của một người tu cũng đáng vất bỏ đi như vầy nếu như người đó cố tình nói dối.”
Xong, Đức Phật lật cái thau úp xuống và nói: “Đời của một người tu sẽ trở nên đảo lộn như thế này nếu như người đó cố tình nói dối.”
Và, để nhấn mạnh thêm nữa, Đức Phật lật ngửa cái thau trở lại và nói: “Đời của một người tu cũng trở nên trống rỗng như cái thau này nếu như người đó cố tình nói dối.”
Sau đó Ngài dạy con: “Đối với một người cố tình nói dối, không có một tội lỗi xấu xa nào mà người đó không thể làm. Vì vậy, La Hầu La, con hãy tập đừng bao giờ nói dối, cho dù đó là một lời nói đùa.”
Câu chuyện trên đây nhắc nhở tôi rằng những lời la mắng giận dữ với con cái thực ra chỉ có sức mạnh mà không có nội lực. Đức Phật đã rất bình tĩnh, chọn thời điểm đúng lúc để dạy con mà không trừng phạt hay nổi giận với con.
Sau bài thuyết giảng ngắn mà rõ ràng về việc nói dối đó, tôi tưởng tượng La Hầu La đã lắng nghe cha hơn. Sau đó, Đức Phật chỉ dẫn con làm sao để suy xét mọi hành động của mình. “Cái gương dùng để làm gì?” – Ngài hỏi.
“Bạch Đức Thế Tôn, gương dùng để soi” – La Hầu La đáp.
Đức Phật lại dạy : “Trong khi chuẩn bị làm điều chi bằng thân, khẩu, ý, con phải quán chiếu: hành động này có gây tổn hại cho ta hoặc cho kẻ khác không? Nếu, sau khi đã quán chiếu, con thấy rằng hành động đó sẽ có hại, thì con hãy đừng làm. Còn nếu con thấy rằng hành động đó có ích lợi cho con và cho kẻ khác, thì con hãy làm.”
Tôi chợt nhận ra rằng thay vì dạy cho con mình nhận biết sự khác biệt tuyệt đối giữa đúng và sai, Đức Phật đã dạy cho con mình suy gẫm về lợi ích và có hại. Điều này đòi hỏi cả sự tự tri (self-awareness) lẫn lòng bi mẫn. Đặt nền tảng của đạo đức dựa trên “có lợi” hay “có hại” giúp giải thoát đời sống đạo đức của ta khỏi những khái niệm trừu tượng và những ý niệm chẳng ăn nhập gì tới hậu quả của việc ta làm. “Có lợi” và “có hại” cũng giúp cho con người nhận biết mục tiêu của mình. Những điều ta làm hoặc sẽ đối nghịch hoặc sẽ thuận chiều với con đường ta đang đi.
Phương pháp giáo hoá của Đức Phật khiến cho tôi càng tin tưởng thêm rằng chúng ta cần gieo xuống nơi tâm hồn con trẻ những hạt giống của tình thương, những hạt giống của ý thức về việc mỗi hành động của nó sẽ ảnh hưởng đến người khác như thế nào. Sức mạnh của sự quán chiếu và lòng từ bi sẽ không có được nếu đứa trẻ chỉ biết vâng theo lời của người lớn: “Con hãy biết quán chiếu, và hãy có lòng từ bi!” Những giá trị này chỉ có thể có được qua gương của người khác, nhất là của cha mẹ đứa trẻ.
Đức Phật cũng dạy cho La Hầu La hãy xem xét sau khi làm một việc gì đó, nó có gây tổn hại gì không. Nếu có, thì phải đến gặp một người có tuệ giác và sám hối để tránh lặp lại lỗi lầm trong tương lai. Tôi đã học được cách hướng dẫn con trẻ phát triển lòng chính trực bằng cách nhận ra lỗi lầm của mình. Và lòng chính trực đó tuỳ thuộc rất nhiều vào cách cha mẹ thấy lỗi lầm của con mình ra sao. Cách hành xử của cha mẹ ảnh hưởng rất nhiều đến sự phát triển đạo đức của con trẻ: nếu cha mẹ cho con trẻ thấy được là nó có thể tin tưởng mình được, là mình chỉ muốn giúp cho con mình trưởng thành hơn là muốn trừng phạt con, thì con trẻ sẽ trở nên thành thật với cha mẹ của chúng hơn.
THIỀN ĐỊNH
Câu chuyện thứ hai nói về việc Đức Phật đã dạy thiền cho La Hầu La ra sao, để phát triển nền tảng của nội tâm (Trung Bộ Kinh, 62). Lúc đó La Hầu La được 10 tuổi. Câu chuyện bắt đầu trong lúc hai cha con đang đi thiền hành. Trong lúc đi, La Hầu Ha chợt thấy hãnh diện về vẻ đẹp của mình, và tư tưởng đó Đức Phật đã đọc được.
Ngài nói với con: “Nhìn bằng con mắt của tuệ giác, cái thân này không phải là tôi (me), không phải là của tôi (mine), không phải là tự ngã của tôi (myself).” Rồi Đức Phật giảng tiếp: ta phải loại bỏ hết tất cả tưởng, hành, thức cũng như bất cứ khái niệm nào về tôi, của tôi, và tự ngã của tôi. Nghe những lời dạy này xong, La Hầu La cảm thấy hổ thẹn, lui về thiền viện, và không thiết đến việc ăn uống gì cả suốt ngày hôm đó.
Tôi cho rằng đây là sự dạy dỗ căn bản cho con trẻ. Tôi không thể tưởng tượng được một em thiếu niên có thể hiểu được những lời Phật dạy như thế. Tôi nhớ lại, rất rõ ràng, rằng ở vào tuổi đó, đầu óc tôi chỉ toàn nghĩ đến dung mạo của tôi ra sao. Tôi thường nghe nói rằng điều này rất là quan trọng cho tiến trình phát triển của các em về “cái tôi”, và quá trình đi tìm kiếm bản thân mình. Có nên trách một em trai 14 tuổi về những ý tưởng phù du như vậy hay không? Có phải Đức Phật đã xen vào những vấn đề nằm trong tiến trình phát triển bình thường của con trẻ, thay vì để các em thảo luận với nhau? Nếu không có hiểu biết về “cái tôi”, làm sao một thiếu niên có thể phát triển thành một người lớn với sự cân bằng về tâm lý?
Câu trả lời nằm ở những gì Đức Phật dạy con Ngài ở đoạn sau đây.
Tối hôm đó, sau khi bị Đức Phật quở trách, La Hầu La đến xin cha dạy cho mình phương pháp quán niệm hơi thở. Trước hết, Đức Phật dùng thí dụ để minh hoạ làm sao đạt được sự thanh thản trong lúc ngồi thiền. Ngài dạy:
“Con phải thiền làm sao giống như đất vậy: đất không cảm thấy phiền vì bất cứ một thứ gì đổ lên đó. Vì vậy, nếu con tập thiền giống như đất, con sẽ không có cảm giác vui thích hay không vui thích về bất cứ một điều gì. Hãy tập thiền như nước, như lửa, như gió, và như không gian: tất cả đều không cảm thấy phiền bởi những cảm giác vui thích hay không vui thích. Thực tập được như nước, như lửa, như gió, như không gian, tâm của con sẽ không còn vướng bận gì cả.”
Rồi, trước khi dạy cho La Hầu La phép thở, Đức Phật dạy cho con về quán tâm từ như là một phương thuốc giải độc trừ khử ác tâm, về tâm bi để vượt thắng sự tàn ác, về tâm hỷ để thuần phục những sự bất toại nguyện, và về tâm xả để ngăn chặn những bất an, thương ghét.
Sau đó, Ngài mới bắt đầu dạy cho con phép quán niệm hơi thở qua 16 giai đoạn. Những giai đoạn này chia thành 3 phần: a) tịnh tâm; b) định tâm để nhận biết thân tâm và phát triển tuệ giác; và c) buông xả. Cuối cùng, Ngài nhấn mạnh rằng bằng sự thực tập ý thức từng hơi thở của mình, con người sẽ có khả năng ý thức hơi thở cuối cùng của mình trong giờ phút cận tử một cách hoàn toàn bình thản.
Khi đọc về cách thức Đức Phật dạy con về phép quán niệm hơi thở để nhận biết thân tâm của mình, tôi nhận thấy đó cũng là một phương pháp để xây dựng một khái niệm vững chắc về “cái tôi”. Tôi tự nghĩ, phải chăng các em thiếu niên ở thời đại ngày nay hay chấp vào “cái tôi” của mình và có nhiều ý niệm phân biệt mình với kẻ khác, là vì các em không cảm thấy thoải mái với chính bản thân mình và với người khác? Và tôi tin rằng, cái chấp và sự phân biệt ấy sẽ không còn nữa nếu các em cảm thấy an vui được với chính mình cũng như thoải mái với người chung quanh.
Khi giảng dạy thiền cho thiếu niên, tôi nhận thấy khả năng thiền của các em nhảy bực vào khoảng 13-14 tuổi. Có nhiều em có thể nhập thiền rất sâu, tuy rằng các em không duy trì được trạng thái này lâu lắm. Tôi đã biết rất nhiều người trẻ dùng phương pháp thiền định để ổn định tinh thần và tìm về sự thảnh thơi giữa những thử thách của tuổi mới lớn.
Tuy nhiên, quán niệm hơi thở không chỉ ích lợi cho các em thiếu niên, mà nó còn là cuộc hành trình suốt đời. Đức Phật đã kết thúc bài giảng của mình bằng cách chỉ cho La Hầu La thấy giá trị của việc tập thiền quán hơi thở như thế nào đối với giây phút cuối cùng của cuộc đời mình.
TUỆ GIÁC
Trong đoạn kinh thứ ba và cuối cùng, Đức Phật đã hướng dẫn La Hầu La trả lời một loạt những câu hỏi về tuệ giác giải thoát (Trung Bộ Kinh , 147). La Hầu La đã dâng trọn thời niên thiếu của mình cho con đường đạt đến giác ngộ; trong một đoạn văn, Ngài được xem là một nhà tu gương mẫu và tinh chuyên. Khi La Hầu La tròn 20 tuổi, Đức Phật biết rằng con trai của mình đã gần đạt đến sự giải thoát. Ngài đã làm một việc hết sức cảm động: Ngài đi bộ cùng với con vào sâu trong rừng. Ngồi dưới gốc một cây đại thụ già cỗi, Ngài đã hướng dẫn La Hầu La một cuộc pháp đàm rất kỹ về thuyết vô ngã. Đối với một người đã đạt đến trình độ tu tập cao như La Hầu La, những tư tưởng nằm sâu trong tiềm thức về cái ngã là chướng ngại cuối cùng của sự giải thoát. Ngồi nghe Đức Phật giảng, La Hầu La đã chứng được tự tính vô ngã của vạn pháp, và đó chính là bước cuối cùng giúp La Hầu La đạt đến sự giải thoát trọn vẹn.
Thuyết vô ngã của Đức Phật có thể khó hiểu. Người ta rất dễ ngộ nhận nó là một triết thuyết trừu tượng, mà không thấy được thực ra đó chính là những lời dạy rất thực tế về việc làm sao để tìm thấy hạnh phúc bằng cách buông bỏ hết tất cả. Đối với tôi, việc Đức Phật dạy con về thuyết vô ngã trong rừng sâu rất cần thiết. Tôi thấy mình có cái nhìn khác khi ở giữa thiên nhiên so với khi ở giữa phố thị. Tôi nhận thấy cảm giác an lạc và thảnh thơi mà thiên nhiên mang lại giúp mình dễ thoát ra được cái “ngã” hơn. Quán chiếu về sự buông xả trong khi đọc muột cuốn sách về Phật pháp khi ngồi ở trong nhà rất là khác với khi mình ngồi dưới một gốc cây. Trong khi đọc bài pháp thứ ba này, tôi chiêm nghiệm được sự quan trọng của việc biết mình (tự tri) giữa khung cảnh thiên nhiên.
Ngày xưa, lúc La Hầu La 7 tuổi, đến xin với cha được thừa hưởng gia tài, Ngài đã không hề tưởng tượng được là 13 năm sau đó, Ngài đã được thừa hưởng một gia tài quý báu nhất mà một người làm cha mẹ có thể để lại cho con của mình. Trong Phật giáo, giác ngộ là hạnh phúc lớn lao nhất. Tôi ước mong con cái của tôi sẽ tìm thấy sự an lạc, thảnh thơi, và an lành trên con đường đi tới giải thoát. Có lẽ, trên con đường trở thành người lớn, chúng cũng sẽ được dạy về đạo đức, thiền định, và tuệ giác [như La Hầu La vậy].
st


Thứ Ba, 29 tháng 4, 2014

Tiểu Hiếu, Trung Hiếu, Đại Hiếu

Trong nhà phật chữ hiếu có 3 chữ là Tiểu Hiếu, Trung Hiếu và Đại hiếu.


Tiểu hiếu tức là chăm nom , chăm sóc ân cần cha mẹ, bên cạnh hầu hạ cha mẹ làm cho cha mẹ vui đó là tiểu hiếu .



Trung hiếu là người con biết hướng dẫn dìu dắt cha mẹ học Phật pháp và khai mở trí huệ, tâm bồ đề tăng tiến khiến cho cuộc sống của cha mẹ được an nhàn tự tại hiểu được đạo lý của nhân sinh là Trung Hiếu .



Còn Đại hiếu chính là người con nổ lực tu hành đắc đạo, có đủ năng lực thần thông có thể nhìn thấy cha mẹ ở bất cứ cảnh giới sanh tử nào đều có thể hóa thân tiếp độ cho cha mẹ thoát khỏi biển sanh tử đi về nơi giác ngộ , đó mới chính là Đại hiếu là cái chữ hiếu mà nhà Phật muốn hướng đến . . . 



Ngược lại tìm cách tẩm bổ cho cha me bằng các loại thịt chúng sanh, các sơn hào hải vị, dẫn dắt cha mẹ vào những chốn vui đê mê hưởng thọ làm cho cha mẹ mất hết công đức, nghiệp quả mang đầy thì điều đó không còn là đạo hiếu nữa mà chính là Bất Hiếu mất rồi .Còn con người phải hữu tình mới nhìn thấy chân lý là đúng , nhưng phải hiểu hữu tình ở đây chính là tâm bình đẳng , không phải là hữu tình là có tình theo ngữ nghĩa thế gian . 



Sưu tầm



Thứ Năm, 3 tháng 4, 2014

Phật Thuyết Kinh Cha Mẹ Ân Trọng Khó Báo Đáp


******************************************
Hán dịch: Tam Tạng Pháp Sư Cưu-ma-la-thập đời Diêu Tần
Việt dịch: Tại gia Bồ-tát giới Ưu-bà-tắc Nguyên Thuận

Tôi nghe như vầy:

Một thuở nọ, Đức Phật ở tại vườn Kỳ Thụ Cấp Cô Độc trong thành Xá-vệ, cùng với 2.500 vị đại Tỳ-kheo và 38.000 vị Bồ-tát Ma-ha-tát.

Có một hôm, Thế Tôn dẫn đại chúng đi về hướng nam. Bỗng nhiên đại chúng nhìn thấy một đống xương ở ven đường. Lúc bấy giờ Đức Như Lai hướng về đống xương khô kia, rồi cúi đầu đảnh lễ sát đất và cung kính lễ bái.

Khi ấy ngài A-nan chắp tay và bạch rằng:

"Bạch Thế Tôn! Như Lai là bậc đại sư của Tam Giới, cha lành của bốn loại chúng sanh; mọi người đều quy y và cung kính. Vì nhân duyên gì mà Ngài lễ bái đống xương khô?"

Phật bảo ngài A-nan:

"Tuy các ông là những đệ tử lớn của Ta và đã xuất gia lâu rồi, nhưng sự hiểu biết vẫn chưa sâu rộng. Đống xương khô này có thể là tổ tiên hay cha mẹ của Ta trong nhiều đời trước. Bởi nhân duyên ấy mà Ta nay lễ bái họ."

Phật bảo ngài A-nan:

"Bây giờ ông hãy phân đống xương khô này làm hai phần. Nếu là xương của người nam thì sẽ có màu trắng và nặng. Còn nếu là xương của người nữ thì sẽ có màu đen và nhẹ."

Ngài A-nan bạch rằng:

"Bạch Thế Tôn! Người nam lúc còn sống, họ mặc áo, thắt nịt, mang giày, đội mũ, và trang nghiêm đẹp đẽ, khi nhìn thoáng qua thì biết đó là thân người nam. Người nữ lúc còn sống, họ bôi son thoa phấn và xức dầu thơm; với trang sức như thế, thì liền biết đó là thân người nữ. Thế nhưng sau khi chết, giờ họ chỉ còn lại một đống xương. Xin Phật dạy chúng con để nhận biết được sự khác biệt này?"

Phật bảo ngài A-nan:

"Người nam lúc sanh thời, nếu họ có vào chùa nghe giảng Kinh luật, lễ bái Tam Bảo, và niệm danh hiệu Phật, thì xương sẽ có màu trắng và nặng. Còn phần đông người nữ ở thế gian thì trí lực kém và dễ chìm đắm bởi tình cảm. Họ phải sanh đẻ, nuôi nấng con cái, và cho đó là bổn phận của mình.

Mỗi em bé khi lọt lòng đều nhờ vào sữa mẹ để nuôi sống. Sữa đó là do máu chuyển biến thành. Trung bình mỗi em bé uống khoảng 840 lít sữa mẹ. Bởi vậy mà người mẹ trở nên tiều tụy, xương chuyển sang màu đen và trọng lượng cũng nhẹ đi."

Khi ngài A-nan nghe lời dạy của Phật, lòng đau như cắt, nước mắt đầm đìa. Ngài bạch rằng:

"Bạch Thế Tôn! Con phải làm sao để báo đáp ân đức của mẫu thân?"

Phật bảo ngài A-nan:

"Ông nay hãy lắng nghe, Ta sẽ vì ông phân biệt giảng giải.

Lúc có bầu, người mẹ phải mang thai suốt mười tháng. Đây thật khổ nhọc biết dường nào.

Khi người mẹ có mang ở tháng thứ nhất, mạng sống của thai nhi như giọt sương trên ngọn cỏ, từ lúc bình minh đến hoàng hôn có biết còn không, sáng sớm tụ đọng lại, giữa trưa tiêu tan đi.

Khi người mẹ mang thai ở tháng thứ nhì, thai nhi đọng lại như sữa đặc.

Khi người mẹ có mang ở tháng thứ ba, thai nhi đọng lại như cục máu.

Khi người mẹ có mang ở tháng thứ tư, thai nhi đã có chút hình người.

Khi người mẹ có mang ở tháng thứ năm, thai nhi ở trong bụng mẹ đã bắt đầu phát triển năm phần. Những gì là năm? Đó là đầu, hai khuỷu tay, và hai đầu gối.

Khi người mẹ có mang ở tháng thứ sáu, thai nhi ở trong bụng mẹ đã hoàn chỉnh sáu giác quan. Những gì là sáu? Mắt là một. Tai là hai. Mũi là ba. Lưỡi là bốn. Thân là năm. Ý là sáu.

Khi người mẹ có mang ở tháng thứ bảy, thai nhi ở trong bụng mẹ đã hình thành 360 đốt xương và 84.000 lỗ chân lông.

Khi người mẹ có mang ở tháng thứ tám, thai nhi đã sanh ý trí và đầy đủ chín lỗ.

Khi người mẹ có mang ở tháng thứ chín, thai nhi ở trong bụng mẹ đã có thể hấp thu dinh dưỡng từ các chất như trái đào, quả lê, rau quả, và ngũ cốc. Ở bên trong thân thể của người mẹ, các bộ phận dạ dày hướng xuống, còn các bộ phận đường ruột hướng lên, và được ví như trên mặt đất có ngọn núi cao vót chồi ra. Núi có ba tên: 1. Tu-di, 2. Nghiệp Sơn, 3. Huyết Sơn. Đây được dụ như khi núi sạt lở và kết làm một tuyến dài. Cũng tương tự như vậy, máu của mẹ ngưng đông lại để tạo thành thức ăn cho thai nhi.

Khi người mẹ có mang ở tháng thứ mười, toàn thân thể của thai nhi đã phát triển đầy đủ và sẵn sàng chào đời.

Nếu quả là đứa con hiếu thuận thì sẽ chắp tay và bình an sinh ra. Người mẹ sẽ không tổn thương và cũng chẳng đau đớn.

Còn nếu là đứa con ngỗ nghịch thì sẽ gây hại cho thai của người mẹ, kéo xé tim gan và đạp xương chậu của mẹ mình. Lúc sanh, người mẹ cảm thấy như bị cả ngàn con dao đâm vào, hoặc lại giống như bị hàng vạn lưỡi đao xuyên thủng thấu tim. Đây là những thống khổ mà người mẹ phải chịu khi sanh ra đứa con này.

Để phân tích cho cặn kẽ thì có mười ân huệ mà người mẹ đã dành cho con:

1. Ơn bảo hộ gìn giữ khi mang thai.

2. Ơn chịu đau đớn lúc sanh nở.

3. Ơn quên đi sầu muộn khi con chào đời.

4. Ơn nuốt đắng để mớm phần ngọt cho con.

5. Ơn nằm ướt để chừa chỗ khô cho con.

6. Ơn cho bú và nuôi dưỡng.

7. Ơn lau rửa đồ bất tịnh trên thân con.

8. Ơn nhớ nhung khi con đi xa.

9. Ơn hy sinh thân mình vì con.

10. Ơn hết mực thương yêu.

1. Ơn bảo hộ gìn giữ khi mang thai. Kệ rằng:

Nhiều kiếp nhân duyên dày

Nay thác vào thai mẹ

Tháng qua sanh ngũ tạng

Bảy tuần đủ sáu căn

Thân mẹ nặng như núi

Đi đứng như kiếp gió

Áo đẹp chẳng còn mặc

Gương soi dính đầy bụi

2. Ơn chịu đau đớn lúc sanh nở. Kệ rằng:

Mang thai dài mười tháng

Sinh khó sắp kề đến

Sáng sáng như bệnh nặng

Ngày ngày tựa hôn trầm

Sợ hãi khó diễn bày

Lệ sầu khắp tim đau

Ngậm ngùi bảo người thân

Cái chết đang tiến gần

3. Ơn quên đi sầu muộn khi con chào đời. Kệ rằng:

Ngày mẹ hiền sanh con

Ngũ tạng như mở tung

Thân tâm đều kiệt quệ

Máu chảy tựa mổ dê

Khi nghe con bình an

Vui mừng gấp bội thường

Hết vui sầu lại đến

Thống khổ quặn ruột tim

4. Ơn nuốt đắng để mớm phần ngọt cho con. Kệ rằng:

Ơn cha mẹ sâu nặng

Thương con không hề phai

Mớm ngọt chẳng chút nghỉ

Nuốt đắng không nhíu mày

Ái trọng tình bao la

Thâm ân thương vô bờ

Chỉ mong con no nê

Mẹ hiền đói chẳng màng

5. Ơn nằm ướt để chừa chỗ khô cho con. Kệ rằng:

Thân mẹ cam nằm ướt

Dời con đến nơi khô

Vú mẹ thỏa cơn khát

Vạt áo che gió lạnh

Thương lo đầu quên gối

Nuông chiều làm trò vui

Mong sao con an lành

Mẹ hiền chẳng cầu yên

6. Ơn cho bú và nuôi dưỡng. Kệ rằng:

Từ mẫu như đại địa

Nghiêm phụ như trời cao

Che chở đồng như nhau

Ân cha mẹ cũng vậy

Không ghét không giận hờn

Cưỡi leo chẳng than phiền

Con cái như mạng họ

Suốt ngày yêu thương nhớ

7. Ơn lau rửa đồ bất tịnh trên thân con. Kệ rằng:

Xưa như hoa phù dung

Tinh thần mạnh khỏe sung

Lông mi như liễu bích

Sắc mặt thẹn sen hồng

Ơn sâu quên mặt ngọc

Lau rửa tay mềm chai

Chỉ vì thương con cái

Dung nhan mẹ hiền phai

8. Ơn nhớ nhung khi con đi xa. Kệ rằng:

Tử biệt khó kham nhẫn

Sanh ly thật cảm thương

Con đi đến phương xa

Mẹ nhớ tại quê nhà

Ngày đêm mòn mỏi trông

Lệ chảy cả ngàn dòng

Như vượn khóc yêu con

Ruột gan đứt từng đoạn

9. Ơn hy sinh thân mình vì con. Kệ rằng:

Trọng ân của cha mẹ

Ơn sâu khó đáp đền

Con khổ nguyện chịu thế

Con nhọc mẹ chẳng an

Nghe con đến nơi xa

Thương con nằm đêm lạnh

Con cái gặp chút khổ

Lòng mẹ mãi lo sầu

10. Ơn hết mực thương yêu. Kệ rằng:

Ơn cha mẹ sâu nặng

Thương yêu không hề phai

Đứng ngồi nghĩ về con

Gần xa ý trông theo

Dẫu mẹ đã trăm tuổi

Vẫn nhớ con tám mươi

Khi nào tình thương hết?

Chỉ khi mạng chấm dứt"

Phật bảo ngài A-nan:

"Ta quán sát chúng sanh, tuy được sinh làm người, nhưng có kẻ thì tâm tánh ngu si. Họ không nhớ đại ân đức của cha mẹ, không có tâm cung kính, vong ân bội nghĩa, không có lòng nhân từ, và bất hiếu ngỗ nghịch. Suốt mười tháng cưu mang, người mẹ đứng ngồi không yên như là đang vác đồ nặng, ăn uống không tiêu như là người bệnh trường kỳ.

Khi đến thời điểm sanh nở, người mẹ phải chịu muôn vàn thống khổ. Đang lúc sanh con, tánh mạng của người mẹ rất nguy kịch, vì máu chảy lai láng trên đất như là mổ giết heo dê.

Sau khi đã chịu những sự thống khổ như thế và sanh được con ra, người mẹ nuốt đắng mớm ngọt và ôm ấp nuôi nấng, lau rửa đồ bất tịnh trên thân con mà không sợ cực khổ, chịu nóng chịu lạnh mà không sợ nhọc nhằn, chỗ ráo con nằm còn chỗ ướt mẹ ngủ. Ba năm liền, mẹ cho con bú sữa, mà sữa đó chính là từ máu của mẹ chuyển biến thành.

Khi con cái đến tuổi trưởng thành, cha mẹ vẫn tiếp tục dạy dỗ lễ nghĩa, rồi giúp con dựng vợ gả chồng và mưu cầu sự nghiệp. Sinh con ra và nuôi con khôn lớn, cha mẹ phải chịu muôn bề cay đắng. Thế nhưng, họ không bao giờ kể công lao. Khi con cái có bệnh, cha mẹ lo sợ kinh hoàng. Thường là người mẹ do bởi quá lo âu nên sanh bệnh. Chỉ khi nào con cái lành bệnh thì mẹ mới bình phục.

Và như thế, cha mẹ nuôi dưỡng con cái và hy vọng rằng chúng sẽ sớm lớn khôn nên người. Nhưng sau khi con cái trưởng thành, thường là chúng bất hiếu trở lại. Khi nói năng với tôn trưởng và thân quyến, chúng chẳng biết vâng lời, hỗn xược vô lễ, và gườm gườm trợn mắt. Chúng lấn hiếp chú bác, đánh chửi anh em, gây bất hòa trong gia đình, và không có lễ nghĩa. Tuy cũng từng học hành, nhưng chúng không tuân theo lời giáo huấn. Nếu cha mẹ dạy bảo điều chi, thì chúng ít khi nào nghe theo. Còn đối với anh em thì tranh cãi không thôi.

Lúc đi lúc về chẳng hỏi han cha mẹ. Lời nói và hành vi cao ngạo. Chỉ làm theo sở thích mà không lường hậu quả. Những lúc cha mẹ khiển trách hay trừng phạt, hoặc chú bác chỉ ra điều không đúng, họ đều thương xót và che chở, vì nghĩ rằng chúng còn thơ dại.

Dần dần khi trưởng thành, chúng hung ác xảo trá, không chịu nhận lỗi mà còn sân hận ngược lại. Chúng từ bỏ bạn bè cùng người thân và kết giao bạn xấu. Lâu ngày tập khí đó trở thành bản tánh, rồi chúng cho điều sai là đúng.

Hoặc chúng bị người dụ dỗ và bỏ trốn tới tha phương, bỏ bê cha mẹ và biệt ly gia quyến. Thời gian thấm thoát trôi qua, chúng lập nghiệp và kết hôn. Do bận bịu việc làm ăn sinh sống, nên đã lâu rồi mà không trở về thăm quê nhà.

Hoặc ở tại tha phương, chúng không may bị người mưu hại. Việc xui xẻo ập đến, chúng bị hình phạt oan uổng và phải lao ngục xiềng xích.

Hoặc chúng mắc bệnh hoạn, ách nạn bủa vây, tù khổ đói gầy, không ai săn sóc. Rồi thì bị người khinh rẻ và ruồng bỏ ở ngã tư đường. Thế nên tánh mạng có thể sẽ kết thúc và chẳng ai thèm cứu chữa. Thân thể sưng lên, thối rữa mục nát, mặt trời thiêu cháy, và gió cuốn đi. Xương trắng rải rác nơi đất khách. Chúng sẽ không bao giờ được đoàn tụ an vui với gia đình hay có thể báo đáp ơn sâu nghĩa nặng của cha mẹ, và không bao giờ biết được cha mẹ già đang ở tại quê nhà luôn mãi nhớ mong. Cũng có thể do bởi cha mẹ chúng khóc than nên khiến mắt mù lòa. Cũng có thể do bởi cha mẹ chúng bi ai nên nghẹn ngào thành bệnh. Cũng có thể do bởi cha mẹ chúng quá nhớ con nên tiều tụy rồi chết đi. Dẫu đã biến làm quỷ nhưng hồn của họ vẫn không thể buông xả con cái.

Hoặc có con cái chẳng chịu lo học hành, mà lại gia nhập băng đảng và làm những việc bất chính. Chúng thành những côn đồ vô lại, thô cộc, ngoan cố, ưa làm điều vô ích, đánh lộn, trộm cắp, xúc phạm bà con làng xóm, cờ bạc rượu chè. Chẳng những thế mà còn lôi kéo anh em vào con đường xấu để não loạn cha mẹ. Từ sáng sớm đã bỏ đi, đến tận khuya lắc mới về, và chẳng hề hỏi han gì về sức khỏe của song thân. Từ đầu tháng cho đến cuối tháng, từ sáng đến tối, chúng không hề trông nom hay dọn dẹp giường gối. Lại cũng chẳng biết là cha mẹ có ngủ ngon giấc không. Thời gian trôi qua, tuổi cha mẹ càng cao và thân hình gầy yếu, chúng cảm thấy xấu hổ khi gặp người khác, rồi cố nhẫn chịu và đè nén.

Hoặc có người cha góa vợ, người mẹ góa chồng. Họ đơn độc ở trong căn nhà trống rỗng và cảm thấy như là khách ở nhờ nhà người khác--rét lạnh đói khát, chẳng ai quan tâm. Ngày đêm họ thường khóc và than thở với mình. Nếu đứa con nào có hiếu thì sẽ phụng dưỡng ngọt bùi và cúng dường song thân. Còn nếu là đứa bất hiếu thì sẽ không hề biết việc này. Trái lại, chúng cảm thấy xấu hổ và sợ người chê cười nếu bắt gặp cha mẹ chúng.

Hoặc có đứa phung phí gia tài nuôi vợ nuôi con mà chẳng than khổ nhọc. Không chút hổ thẹn, chúng phục tùng làm theo mọi điều ước muốn của thê thiếp. Nhưng khi tôn trưởng quở trách, chúng hoàn toàn chẳng chút kiêng sợ.

Hoặc lại có đứa con gái chỉ quý trọng gia đình phía chồng. Khi chưa xuất giá, chúng hết mực hiếu thuận với cha mẹ mình. Nhưng sau khi đã kết hôn thì bất hiếu một cách nhanh chóng. Dẫu cha mẹ ruột chỉ biểu hiện một chút giận dữ thì liền sanh oán hận. Thế nhưng bị chồng đánh đập chửi mắng thì nguyện cam lòng nhẫn chịu. Tuy là khác dòng khác họ, nhưng tình thâm kết chặt. Còn gia quyến cốt nhục thì phớt lờ cách xa.

Hoặc là theo chồng dời đến nơi khác, ly biệt cha mẹ mà lòng không chút quyến luyến. Chúng biệt tăm biệt tích và cắt đứt mọi thông tin liên lạc, khiến lòng cha mẹ quặn đau như bị treo ngược và không một thời khắc nào được bình an. Trong mỗi niệm, họ ước ao muốn thấy mặt con mình, như người khát thèm nước uống; nỗi lo nhớ về con cái không bao giờ thôi nghỉ.

Ân đức của cha mẹ là vô lượng vô biên. Nếu ai trót phạm bất hiếu thì báo ứng thật khó diễn bày."

Khi đại chúng nghe Phật nói về trọng ân của cha mẹ, có vị lăn lộn trên đất, có vị đánh ngực, có vị tự đánh mình, có vị thì trong những lỗ chân lông nơi thân đều ứa ra máu, có vị té xỉu trên đất đến một hồi lâu sau thì mới tỉnh dậy. Họ kêu gào rằng:

"Thật thống khổ quá đi! Thật đau đớn quá đi! Giờ đây chúng con mới thấy rằng mình thật sự là tội nhân. Từ hồi nào đến giờ đã không biết rằng, mình như kẻ mù đi giữa đêm tối. Nay chúng con mới tỏ ngộ và cõi lòng đều tan nát. Kính mong Thế Tôn hãy xót thương cứu giúp. Xin nói cho chúng con biết để làm sao báo đáp được ân tình sâu dày của cha mẹ?"

Lúc bấy giờ Đức Như Lai liền dùng tám loại Phạm âm thâm sâu mà bảo các đại chúng:

"Các ông phải biết những điều sau đây. Ta nay sẽ phân biệt và giảng giải cho các ông.

Giả sử có người, vai trái vác cha, vai phải vác mẹ, rồi đi vòng quanh núi Tu-di suốt trăm ngàn kiếp cho đến chỉ còn da bọc xương, rồi xuyên thấu xương đến tủy và máu chảy ngập cả đôi mắt cá chân, thì cũng không thể báo đáp hết thâm ân của cha mẹ.

Giả sử có người gặp kiếp đói khát, họ vì cha mẹ mà lóc hết thịt trên thân của mình thành những miếng nhỏ như các hạt vi trần, và họ làm như thế suốt trăm ngàn kiếp thì cũng không thể báo đáp hết thâm ân của cha mẹ.

Giả sử có người vì cha mẹ, tay cầm dao bén mà khoét mắt của mình để phụng hiến cho Như Lai, và họ làm như thế suốt trăm ngàn kiếp thì cũng không thể báo đáp hết thâm ân của cha mẹ.

Giả sử có người vì cha mẹ, họ cũng dùng dao bén mà mổ tim gan, máu chảy lai láng trên đất, chẳng sợ đau đớn, và họ làm như thế suốt trăm ngàn kiếp thì cũng không thể báo đáp hết thâm ân của cha mẹ.

Giả sử có người vì cha mẹ, họ chịu bị trăm ngàn cây đao đồng thời đâm vào thân, xuyên thủng từ bên này sang bên kia, và họ phải chịu như thế suốt trăm ngàn kiếp thì cũng không thể báo đáp hết thâm ân của cha mẹ.

Giả sử có người vì cha mẹ, họ chịu bị đánh lồi xương, đến nỗi tủy văng ra ngoài, và họ phải chịu như thế suốt trăm ngàn kiếp thì cũng không thể báo đáp hết thâm ân của cha mẹ.

Giả sử có người vì cha mẹ, họ chịu nuốt những viên sắt nóng, toàn thân cháy chín, và họ phải chịu như thế suốt trăm ngàn kiếp thì cũng không thể báo đáp hết thâm ân của cha mẹ."

Khi đại chúng nghe Phật nói về ân đức của cha mẹ, ai nấy đều rơi lệ khóc thương và lòng đau như cắt. Họ cùng ngẫm nghĩ nhưng đều chẳng biết phải làm gì. Với lòng hổ thẹn sâu xa, đại chúng đồng thanh bạch với Đức Phật rằng:

"Bạch Thế Tôn! Giờ đây chúng con mới thấy rằng mình thật sự là tội nhân. Chúng con phải làm thế nào để báo đáp thâm ân của cha mẹ?"

Phật bảo chúng đệ tử:

"Nếu muốn báo ơn cha mẹ thì hãy biên chép Kinh này. Hãy vì cha mẹ mà đọc tụng Kinh này. Hãy vì cha mẹ mà sám hối tội lỗi. Hãy vì cha mẹ mà cúng dường Tam Bảo. Hãy vì cha mẹ mà ăn chay trì giới. Hãy vì cha mẹ mà bố thí tu phước. Nếu ai có thể làm những việc như vậy thì mới được gọi là người con hiếu thảo. Còn nếu không làm những việc này thì là người của địa ngục."

Phật bảo ngài A-nan:

"Sau khi mạng chung, những kẻ bất hiếu sẽ đọa vào Địa Ngục Vô Gián. Chu vi của đại địa ngục này là 80.000 do-tuần. Bốn phía của ngục thành làm bằng sắt và có lưới bao phủ. Đất của ngục này cũng làm bằng sắt và có lửa bốc cháy phừng phực. Người tội bị lửa dữ hừng hực thiêu đốt, điện chớp sáng cùng sấm sét rượt đánh, và bị nước sắt nước đồng tạt vào. Chó đồng với rắn sắt luôn phun ra khói lửa để thiêu đốt và chiên nướng phần thịt mỡ của tội nhân. Thống khổ thương lắm thay! Thật khó kham khó nhẫn! Lại có móc câu, giáo mác, thương sắt, xiềng sắt, chùy sắt, dùi sắt, cây cối treo kiếm, và bánh xe bằng đao, chúng từ trên không rơi xuống như mây như mưa.

Hoặc tội nhân bị chém, bị đâm, và phải chịu trừng phạt thống khổ đến suốt nhiều kiếp mà không chút tạm ngưng. Sau đó lại phải vào các địa ngục còn lại. Trên đầu đội chậu lửa; xe sắt cán dọc cán ngang qua thân thể, làm bụng và ruột xé toẹt ra, xương nghiền nát và thịt cháy chín. Trong một ngày, họ phải chịu hàng ngàn vạn lần chết đi sống lại. Kẻ thọ tội khổ như thế đều là do gây tạo ngỗ nghịch và bất hiếu với cha mẹ ở đời trước."

Khi đại chúng nghe Phật nói về ân đức của cha mẹ, ai nấy đều rơi lệ khóc thương và bạch với Đức Như Lai rằng:

"Bạch Thế Tôn! Giờ đây chúng con phải làm thế nào để báo đáp thâm ân của cha mẹ?"

Phật bảo chúng đệ tử:

"Nếu muốn báo ơn cha mẹ thì hãy biên chép và lưu truyền Kinh điển này. Đó mới thật sự là báo ơn cha mẹ.

- Nếu in một quyển thì sẽ thấy một Đức Phật.

- Nếu in mười quyển thì sẽ thấy mười Đức Phật.

- Nếu in trăm quyển thì sẽ thấy trăm Đức Phật.

- Nếu in ngàn quyển thì sẽ thấy ngàn Đức Phật.

- Nếu in vạn quyển thì sẽ thấy vạn Đức Phật.

Do bởi năng lực từ sự ấn tống Kinh điển nên những người lương thiện này sẽ được chư Phật từ bi thường đến gia hộ. Lại nữa, năng lực ấy có thể lập tức khiến cha mẹ của họ sanh lên cõi trời để thọ hưởng vui sướng và xa rời khổ ách của địa ngục."

Lúc bấy giờ ngài A-nan và hàng đại chúng, gồm có trời, rồng, dạ-xoa, càn-thát-bà, a-tu-la, ca-lâu-la, khẩn-na-la, ma-hầu-la-già, người và phi nhân, cùng Chuyển Luân Thánh Vương và các tiểu vương, khi nghe Phật nói thì tất cả lông trên thân đều dựng đứng. Họ nghẹn ngào khóc thương và không thể tự kềm chế bản thân. Sau đó, mỗi vị phát nguyện rằng:

"Kể từ bây giờ cho đến tận vị lai, chúng con thà cho thân này bị nghiền nát như vi trần đến suốt trăm ngàn kiếp, chứ thề không vi phạm thánh giáo của Như Lai.

Chúng con thà bị móc câu sắt kéo lưỡi dài ra một do-tuần, rồi đến suốt trăm ngàn kiếp bị cày sắt bừa trên đó và máu chảy thành sông, chứ thề không vi phạm thánh giáo của Như Lai.

Chúng con thà bị trăm ngàn bánh xe bằng đao tự do xuyên vào lăn ra, chứ thề không vi phạm thánh giáo của Như Lai.

Chúng con thà bị lưới sắt quấn siết vào thân suốt trăm ngàn kiếp, chứ thề không vi phạm thánh giáo của Như Lai.

Chúng con thà suốt trăm ngàn kiếp bị chặt, bị giã, bị chém, và nghiền nát thân này thành trăm ngàn vạn đoạn--thịt, da, gân, và xương thảy đều tan rã--chứ thề không vi phạm thánh giáo của Như Lai."

Lúc bấy giờ ngài A-nan từ chỗ ngồi an tường đứng dậy và bạch Phật rằng:

"Bạch Thế Tôn! Kinh này tên là gì, và chúng con phụng trì như thế nào?"

Phật bảo ngài A-nan:

"Kinh này tên là Cha Mẹ Ân Trọng Khó Báo Đáp. Với danh tự này, ông hãy theo đó mà phụng trì."

Lúc bấy giờ hàng trời, người, a-tu-la, và các đại chúng, khi nghe Phật nói, họ đều rất vui mừng, tín thọ phụng hành, đảnh lễ, rồi cáo lui.