Hiển thị các bài đăng có nhãn CHẾT-LUÂN HỒI. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn CHẾT-LUÂN HỒI. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 30 tháng 8, 2020

Chết Đi Về Đâu?

Ai muốn biết chết đi về đâu hỏi chụy đi chụy trả lời cho nè!

Chết đi theo nghiệp chứ đi về đâu. Hỏi ngốc dzậy hehehe.

Làm sao biết mình nghiệp như thế nào để đi về chỗ tương ưng vậy chụy?

Dễ lắm nha. Đó là bằng cách quan sát.

Quan sát như thế nào?

Tự quan sát chính mình chứ còn quan sát thế nào nữa. Nhưng mà trên đời khó nhất là tự quan sát chính mình nha, ngó người khác dễ còn ngó chính mình sao thấy mình giống như thiên thần vậy đó, toàn là người tốt việc tốt, mình không bao giờ sai, có sai thì là người khác sai, bởi mình là thiên thần mừ, bay bay thoát tục giống tiên nhân lắm đó. Dù biết rằng mình là thiên thần, nhưng sao lại không thấy chắc chắn cho lắm, cho nên đi tìm người để hỏi chết đi về đâu hahahaha.

Thôi không trêu chọc mọi người nữa hihi. Vào vấn đề chính nha! Thật ra ngó chính mình khó, cho nên chụy chỉ cho cách quan sát khác vẫn có thể biết được nghiệp truyền kiếp của mình nè. Đó là ngó người thân của mình. Không cùng nghiệp sao vào cùng cửa được chớ. Cho nên cái nghiệp bự nhất, cái nghiệp nổi trội nhất của mình sao thì họ vậy. Vậy ngó họ như thế nào?

Hai độ tuổi dễ quan sát nhất, đó là độ tuổi trẻ em trước khi đến trường, và người già, người lớn tuổi, người hưu trí, người sắp chết. Biết sao không? Đây là hai độ tuổi mà các quy chế, quy tắc quy định xã hội không áp chế được họ nhất. Vì không bị áp chế nên họ mới thoải mái thể hiện nghiệp cho mình quan sát.

Không vào được Đạo mới phải dùng Đức để che đậy. Không chạm được Đức thì phải dùng Nhân để xoay xở. Ngay cả Nhân cũng bị tuột xích thì phải dùng Lễ, dùng Nghĩa. Các quy chế xã hội giống như lễ như nghĩa vậy đó. Và do vậy mà nghiệp của mọi người bị áp chế, cho nên mình mới không quan sát được mình, toàn là tưởng mình là tiên không hà.

Có những trường hợp người già tự dưng đổi tánh, đang dễ trở thành khó, đang khó trở thành dễ, hoặc có những thái độ hành động mà khi còn trẻ hơn họ chẳng bao giờ làm. Biết sao không? Vì khi trẻ hơn, họ còn lý trí vững trải áp chế lại bản chất tự nhiên của họ (bản chất tự nhiên là do nghiệp quy định). Khi họ già rồi, lý trí trở nên yếu, không thắng nổi nghiệp nên họ mới có thể phát huy nghiệp cao độ như vậy được chớ. Nhờ vậy mà mình mới có thể quan sát nghiệp của họ để suy ra nghiệp của chính mình.

Còn trẻ em thì mới từ trong môi trường nghiệp ấy chui ra, chưa có đi học, chưa được dạy dỗ về lễ nghĩa, về các quy tắc quy định xã hội nên chúng nó thoải mái mà thể hiện nghiệp. Nhưng một khi cha mẹ động tay động chân vào dạy dỗ tụi nó phải vầy mới đúng, phải kia mới hợp thì chúng nó dần dần mất hẳn bản chất tự nhiên mà trở thành những con rối xã hội luôn. Bởi bởi chụy nói rồi mà. Trẻ con không cần phải đến trường, cha mẹ không cần dạy dỗ gì nó cả. Nó nghiệp thế nào thì để nó thể hiện thế nấy, thế mới dễ quan sát chứ, còn tự đưa đầu vào cái thòng lòng là các quy tắc xã hội thì thật là rất mất thời gian vì phải mấy chục năm sau khi tuổi già kéo đến, lý trí suy yếu thì nghiệp mới có cơ hội quật khởi, khi ấy còn quan sát gì nỗi nữa mà quan sát.
Bớ chú cảnh sát, có kẻ có tư tưởng phản xã hội ở đây này hihi.

Chụy, vậy thì xã hội rối loạn sao? Ai muốn giết ngưởi thì giết người, ai muốn ăn trộm thì ăn trộm, không còn trật tự nữa, thành cõi A tu la của chụy sao? Rồi, phát hiện âm mưu vĩ đại, Quỷ Vương có ý đồ biến xã hội loài người thành cõi A tu la.

Quỷ Vương cười khảy. Còn cần chụy động tay động chân sao? Chúng mày ngày nào mà chả biến xã hội loài người thành cõi A tu la. Phát hiện rồi nha. Làm rồi không dám nhận nha. Không dám nhận rồi đổ thừa cho Quỷ Vương nha hahaha.

Nói tiếp. Bởi nghiệp thế nào thì chết đi về nơi tương ưng, vậy mới hợp tự nhiên. Nhưng mà như vậy thì hơi chán nên mọi người mới tìm cách đổi nghiệp đi. Đổi nghiệp có hai cách.

Cách 1, đó là đổi nghiệp lâu dài. Đầu tiên phải phát hiện ra nghiệp bự nhất của chính mình là gì. Làm sao biết? Quay lại đọc ở trên đi nha. Sau khi biết nghiệp của mình là gì thì tìm cách thay đổi nó thành nghiệp khác mà mình thích. Mỗi nghiệp giống như một mầm mống, nhờ mình gieo một cách vô tình hay cố ý mà nó nảy mầm và phát triển. Cho nên khi tìm nghiệp khác thích hợp thì mình học cách chăm bón cho nghiệp ấy lớn lên từ từ để trở thành cây cổ thụ, rồi hết đời này đến đời khác mà hưởng thụ cái cây nghiệp ấy thôi. Ví dụ mình thích làm tiên thì đầu tiên phải tìm xem hạt giống tiên là gì rồi gieo, rồi chăm bón, lúc đầu chưa quen thì thất bại, thất bại thì gieo lại chăm bón lại, làm tới làm lui nhiều lần thì hạt giống ấy cũng phải nẩy mầm và lớn lên thôi. Bởi vậy mới có nhiều cơ sở tôn giáo ra đời để dạy người ta cách gieo cách chăm bón cây nghiệp là vậy đó. Nhưng mà nhiều quá, làm sao để chọn. Cho nên tự mình phát huy tuệ trước đi, tự mình hiểu rõ về nghiệp trước cái đã rồi thì vừa học vừa hành, vừa chăm bón vừa học hỏi từ thất bại. Hành riết thì có tuệ thôi, còn nghe người này người kia nói rồi chạy theo hoài thì rất là mệt, cứ phải chạy mãi thôi.

Túm lại muốn đổi nghiệp thì phải hiểu rõ nghiệp trước cái đã. Hiểu rồi thì bắt tay vào hành. Hành nhiều thì quen, quen rồi thì thành thục, thành thục rồi thì gieo đâu chính xác nấy, không có vừa gieo vừa hồi hộp mong chờ hú họa.

Cách thứ hai là đổi nghiệp tạm thời, thường thì vào giậy phút chuẩn bị tắt thở ấy, còn gọi là cận tử nghiệp. Ví dụ lúc sắp chết ráng nghĩ đến cái gì đó hay niệm tên ông nào đó, nếu làm được thì mình được rước về nơi ấy, khỏi phải đi theo nghiệp. Cái này tôi gọi là đổi nghiệp tạm thời là vầy nè.
Cái cận tử nghiệp ấy giống như mình là tội phạm tạm thời trốn được sự truy đuổi vậy đó. Thay vì bị bắt vào tù (nghĩa là đi theo nghiệp) thì mình trốn được và không phải vào tù (nghĩa là đến một cảnh giới khác không phù hợp với nghiệp của mình.)
Trường hợp 1: Ai mà trốn kỹ được thì trốn luôn đến vài chục năm sau bản án ấy không hiệu lực nữa thì coi như là mình được trắng án, không cần trốn nữa, nghĩa là người này vừa trốn vừa học cách đổi nghiệp cho chính mình, giống như tẩy trắng cho chính mình vậy đó.
Trường hợp 2: Trốn không thoát, thì trước sau gì cũng bị bắt trở lại rồi nhốt vào ngục thôi, nghĩa là hết thời gian của mình tại cảnh giới kia thì mình cũng bị nghiệp túm cổ rồi đi vào cảnh giới tương ưng với nghiệp của mình.

Dù là trường hợp nào thì vẫn phải học cách đổi nghiệp cho chính mình, nghĩa là học về nghiệp, nghĩa là tự mình gieo trồng cây nghiệp của chính mình, học từ thất bại, rồi lại hành, rồi lại học, rồi lại hành đến khi nào thành trùm cuối thì thôi hihi.

Túm cái ý lại, chết đi về đâu, đi theo nghiệp chứ còn đi về đâu nữa. Làm sao để biết mình nghiệp gì. Quan sát người thân rồi suy ra nghiệp của mình. Không thích nghiệp này thì học cách đổi nghiệp khác. Dễ hơm? Quá dễ luôn.

P.s 1 Hỏi: Không có người thân thì lấy gì mà quan sát?
Đáp: Quan sát hàng xóm láng giềng, người đến từ nơi chôn nhau cắt rốn của mình. Không cùng nghiệp thì làm sao mà sinh ra trên cùng một mảnh đất được chớ. Mấy cái này cũng không có luôn thì Lá Rụng Về Cội đi nha bây.

Bây giờ mọi người hằng tâm niệm điều này đi nha!
Có người thân là để làm gì? Có người thân là để quan sát nghiệp của họ, nhờ vậy mà suy ra nghiệp của chính mình.
Tương tự, có hàng xóm là để làm gì?......
Có người cùng quê là để làm gì?......
Có người cùng quốc tịch là để làm gì?.........

P.s 2 Hỏi: Sao các Bất thối Bồ tát rành về nghiệp mà vẫn bị nghiệp quật dzậy?
Đáp: Như đã viết trong bài Bất Thối Bồ Tát vs. Phật Toàn giác. Khi họ bị nghiệp quật thì nghĩa là họ chơi thua trong trò chơi của thế giới nhị nguyên rồi đó. Nghĩa là họ bị hai luồng xe âm dương tông trúng rồi đó hehehehehe.
Sao giống cười trên nỗi đau của người khác quá vậy ta hahahahaha. 

Thứ Bảy, 7 tháng 4, 2018

Hận thù diệt hận thù

Chiến tranh là cách dùng hận thù diệt hận thù thì chẳng thể nào có hòa bình. Ai cũng muốn hòa bình nhưng làm sao để hòa bình thì lại dùng chiến tranh để đạt hòa bình. Đây gọi là muốn một đằng mà gieo nhân một nẻo nè!

Đã gieo nhân chiến tranh thì phải xảy ra chiến tranh liên miên đời này qua đời khác, kiếp này qua kiếp khác chẳng thể nào dứt được đâu nha mọi người! Cái chiến tranh nhiều quá, mình khổ quá, mình rên rỉ: Ôi trời ơi, sao tôi chỉ muốn hòa bình thôi mà cũng khổ quá vậy. Mình muốn hòa bình mà mình lại gieo nhân chiến tranh, gieo gì thì gặt nấy, tự gieo tự gặt, vậy là đúng rồi, còn rên rỉ gì nữa.

Đó là lý do vì sao Việt Nam là quốc gia liên miên trong chiến tranh, chiến tranh nhiều đến mức hình như hổng có thế kỷ nào là hổng có chiến tranh cả. Chiến tranh nhiều đến mức mà mấy thèn đi bụi quốc tế hỏi: Ê, dân Việt Nam tụi bây hiếu chiến thấy gớm quá hà, suốt ngày oánh nhau miết, hổng quánh thèn này thì quánh thèn kia. Cái lúc đó mình cổ cãi cho bằng được: Ê, tụi tao hổng có quýnh ai hết nha bây. Tự dưng đất nước người ta đang yên đang lành, cái tụi mắc dịch mắc ôn ở đâu kéo tới đòi chia gia tài của cải, tụi tao ngu sao chia nên chỉ có cách oánh lộn với tụi nó để bảo vệ kho báu thôi nha bây. Hiếu chiến hồi nào mà hiếu chiến hihi.

Giờ nghĩ lại thì thấy đúng là dân Việt Nam hiếu chiến thiệt nha mọi người! Cái hạt giống hiếu chiến có sẳn rồi và ai hiếu chiến thì đầu thai vào chỗ đất này đi nha. Mã tầm mã, ngưu tầm ngưu nè hihi!

Dùng Nhân Quả nhìn nha! Dân hiếu chiến đất hiếu chiến nên thu hút người ta đến quýnh lộn cho thỏa mãn sự hiếu chiến. Thế thôi!

Mà hiếu chiến thì đi kèm với sân hận ngút trời nha mọi người. Hổng có sân hận thì làm sao mà hiếu chiến được chớ. Giống như hổng có nộ khí thì làm sao mà chửi. Cho nên cái bọn chết trong sân hận thì đầu thai chỗ này mới là phù hợp nè. Vì sao?

Vì vầy nè mọi người: Do những hạt giống chiến tranh, sân hận và hiếu chiến mình đã gieo từ bao đời bao kiếp nên phải nói một điều rằng đất Việt Nam là vùng đất không bao giờ yên ổn, lúc nào cũng động đậy nhúc nhích giống như trẻ bị tăng động vậy đó. Cho nên đòi hòa bình trên vùng đất này đó là chuyện ảo tưởng, chẳng khác nào bắt một con khỉ ngồi yên không được nhúc nhích vậy đó. Linh khí tổ tiên được hun đúc tích lũy từ bao nhiêu đời nay tạo ra vùng đất này giống như một đứa trẻ bị tăng động vậy đó mọi người.

Biết sao không? Vùng đất Việt Nam chôn vùi biết bao thây chết trong tất cả các cuộc chiến rồi mọi người, thây chết của đủ mọi chủng tộc quốc gia. Và người ta chết như thế nào? Người ta chết trong sự sân hận ngút trời. Tôi ví dụ nha. Hai phe đánh nhau như phe giải phóng quân và phe Mỹ Ngụy. Tâm lý của phe giải phóng quân là đất mình phải được hòa bình độc lập Bắc Nam một nhà mọi người sum vầy vui vẻ, tự dưng tụi quỷ Mỹ ở đâu kéo đến tàn sát sinh linh, tàn hại sinh mệnh, có người mình vừa mới nói chuyện vui vẻ lúc sáng, lúc chiều bị băm thành trăm mảnh, có người mình vừa mới trị thương xong, cái ra trận bị chặt đầu bị ăn gan, gia đình mình đang yên ấm, đùng cái người thân mình bị giết sạch. Làm sao mà hổng căm hận cho được! Mình mà căm hận rồi thì mình chỉ muốn ăn gan uống máu nó cho bỏ ghét. Mình chỉ nghe hơi thở của nó là mình đã thấy hận ngút trời rồi. Còn phe kia nha mọi người. Tụi bây là quỷ Việt Cộng, đã là yêu ma quỷ quái thì tụi bây co cụm lại đất của tụi bây đi, sao lại xâm hại đến chỗ tụi tao làm cái gì. Thằng bạn thân sáng nay vừa hút chung với nó một điếu thuốc thì chiều nó bị bắn lòi ruột. Thằng em kết nghĩa vừa khoe ảnh mới cưới vợ thì bị lựu đạn ném lén banh thây. Rồi tụi Mỹ nữa, đồng đội bạn thân mình vừa ăn chung bữa cơm, đùng cái thằng chết thằng bị thương thằng mất xác. Tất cả là do bọn quỷ Việt Cộng mà ra nên sân hận ngút trời. Tao mà thấy đứa nào là tao bằm thây đứa nấy thành trăm mảnh.

Túm lại, hai phe, phe nào cũng trải qua tang thương mất mát chia ly nên phe nào cũng hận ngút trời cũng muốn ăn gan nuốt mật phe kia. Vậy là hai đứa đều hiếu chiến như nhau, đều dùng hận thù để giải quyết hận thù. Nhưng mà hận thù thì chẳng thể nào giải quyết được hận thù. Hận thù chỉ tạo ra hận thù thêm mà thôi. Cho nên mình đã gieo nhân hận thù chiến tranh sân hận rồi mình phải lãnh hậu quả ấy mà thôi. Lãnh bằng cách nào? Muôn đời muôn kiếp mình phải sống trong chiến tranh và thù hận. Chiến tranh ngay cả trong hòa bình. Thù hận ngay cả với người nhà đồng đội bạn bè người thân. Chứ không cần phải chờ chiến tranh bùng nổ thì mới có thù hận và hiếu chiến đâu mọi người.

Những kẻ chết trên mảnh đất này thì do lòng thù hận ngút trời, họ tái sanh lại trở thành những người con trên mãnh đất này mà thôi. Túm lại họ tái sanh thành con cháu mình nè! Lúc trước họ là phe đối nghịch mình thù họ ngập trời chỉ muốn bằm gan bằm thịt họ mà nhai. Bây giờ họ thành con cháu mình nâng niu tâng tiu và sẳn sàng giết hại người khác để giành quyền lợi cho chúng. Nhưng chúng đến với mình vì lòng sân hận ngút trời, vì chúng chết trong sự hận thù ngập trời nên dễ gì mà chúng hòa hợp được với mình. Chúng sẽ gây chiến với mình thành ra người nhà đại náo nhau là vậy đó.

Cho nên dùng hận thù diệt hận thù là chuyện không thể có, dùng chiến tranh để đổi lấy hòa bình là chuyện không tưởng. Đó là lý do vì sao Việt Nam lúc nào cũng có chiến tranh, y như một đứa trẻ bệnh tăng động là thế.

Muốn Việt Nam đời đời kiếp kiếp không bao giờ trải qua chiến tranh nữa thì chỉ còn một cách là phải chịu đau thương trong vài kiếp. Đó là cách gì? Tự mình dẹp ngọn lửa hận thù ngay bên trong chính mình. Ủa, tôi có thấy tôi hận thù gì ai đâu. Có đó, nếu không thì không có sanh ra ở đây đâu, do chưa đủ duyên nên nó chưa lộ ra cho mình thấy đấy thôi. Giờ dẹp sao đây mọi người?

Chỉ dẹp được khi nào mình chán chiến tranh rồi, chán sự thù hận quá rồi, thôi hổng muốn hận thù nữa. Nhưng mà những kẻ mình giết đã đang và sẽ tái sanh để đòi món nợ mình đã giết họ chứ đâu phải mình chán là mình xong nợ với họ đâu. Họ đòi thì mình trả. Nợ máu phải trả bằng máu. Nên họ sẽ giết mình, chém mình, băm thây mình ra cho đã tức giận. Vậy thì chấp nhận thôi. Chẳng những chấp nhận mà còn khoái nữa. Ê tụi bây đến đây giết tao đê, tao khoái chết lắm nè, chết xong tái sanh lên cho tụi bây giết nữa rồi chết nữa. Đứa nào nó giết mình xong nó giải quyết xong mối hận thì nó hổng thèm giết mình nữa. Vậy là xong nợ một đứa. Cái đứa khác sẽ đến giết mình, cái mình khoái quá vì mình được giết được chết một cách đẫm máu như vậy. Cái đứa đó nó cũng xong nợ với mình. Sau khi hết đứa này đến đứa kia đến giết mình và mình chết trong sự khoái chí cao độ thì mình xong nợ từng đứa. Hết luôn hạt giống hiếu chiến, cái hổng ai thèm đến quýnh mình nữa vì nó quýnh mình đã rồi mà mình còn khoái bị quýnh nên nó hổng thèm quýnh nữa thôi. Vậy là từ đó về sau Việt Nam trở thành vùng đất trung lập trong mọi cuộc chiến. Đứa nào chém giết nhau thì chém giết nhưng việc ấy không bao giờ xảy ra trên đất Việt Nam. Đó là cách duy nhất dẹp hận thù, tắt ngòi chiến tranh, nhưng để vậy thì phải trải qua tang thương đổ máu ghê rợn trong sự sung sướng, khoái chí tử của kẻ bị giết.

Cho nên khi chiến tranh nổ ra thì nhà nhà nô nức, người người hăm hở rủ nhau đi…………hổng phải là đi tham chiến mà là rủ nhau đi chết, hăng say được giết, đưa đầu cho nó chém, đưa cổ cho nó cứa. Đất nước 80 triệu dân thì nếu có oánh lại thì chẳng những mấy chục triệu người chết trong khói lửa mà còn chết trong sự hận thù. Mà khi mình đánh chúng, chúng cũng chết, và khi chết chúng thù mình tuyệt đỉnh, còn mình khi chết cũng thù chúng tột đỉnh. Trước sau cũng chết vậy thì mình hăm hở tình nguyện đi chết, vậy có phải hay hơn không? Hăm hở tình nguyện đi chết nghĩa là mấy chục triệu dân rủ nhau ra ngoài đường ngồi cho chúng muốn giết ai thì giết, muốn chém ai thì chém, muốn uống máu ai thì uống. Đánh lại chúng, mình cũng chết mà chết trong sự thù hận của cả hai phía. Giờ ra ngoài đường tình nguyện cho chúng giết thì cũng chết nhưng mà chết trong sự hăm hở sung sướng, còn chúng giết được mình mà không hề bị tổn thương binh lực không hề bị hại thì chúng làm sao mà hận mình được, chẳng những không hận mà còn không thể giết hết tất cả mọi người đâu nha. 80 triệu dân thì cao lắm chúng chỉ giết được 40 triệu thôi, có muốn giết nhiều hơn cũng chẳng được. Vì sao? Vì vũ trụ không cho phép điều ấy. Khi 40 triệu người hăm hở chết trong sự sung sướng thì toàn vũ trụ tạo ra một xung lực ngăn cản sự tàn sát tiếp diễn. Đơn giản là vậy đó. Cái mình chết trong sự sung sướng rồi thì mình tái sanh lại chứ mình có chết luôn đâu mà mình sợ. Nhưng mà khi mình tái sanh thì mình không mang theo cùng với mình hạt giống sân hận như trước nữa. Mình tái sanh không có sân hận, chết sướng thí mồ thì sân cái gì mà sân. Rồi tụi nó lại kéo đến để gây chiến tiếp. Cái mình chiêu cũ lặp lại tiếp: Giặc đến rồi, đi chết thôi bà con ơi! Ê giết giùm tôi đi tôi cảm ơn. Cái lại chết, cái lại tái sanh, làm vậy vài lần là hổng thèn nào thèm đến giết mình nữa đâu nha mọi người. Sợi dây ân oán ràng buộc giữa mình và nó bị chặt đứt thông qua hành động khoái chết, khoái được giết, chết một cách hăm hở và sung sướng chứ không chết trong hận thù. Đâu còn ân oán với ai đâu nên chiến tranh không thể diễn ra trên vùng đất mình sanh ra là vậy đó.
Hiểu hơm?

Muốn dứt chiến tranh thì phải hăm hở sung sướng tự hào để được giết, để được chết liên tục như vậy trong suốt vài kiếp. Vậy là hết chiến tranh thôi, chứ không phải cầm súng bắn lại người ta mà hết chiến tranh đâu nha. Đã gieo nhân chiến tranh thì ngay cả trong hòa bình cũng có chiến tranh nữa đó, chứ đừng ảo tưởng rằng hòa bình là hết chiến tranh nha.

Thấy tôi làm tổng chỉ huy quân đội được chưa mọi người? Khi đủ nhân đủ duyên chiến tranh xảy ra, tôi hướng dẫn mọi người tình nguyện hăm hở xung phong đi chết nha. Chết sướng lắm đó, kẻ giết mình là kẻ ban cho mình đặc ân được chết. Vậy là triết lý của sự sướng khi chết ra đời.  Dân tộc lũ lượt rủ nhau làm tình nguyện viên cho cái chết, hăng hái được giết, hăm hở được tàn sát. Vì chết rất là sướng. Ai muốn giết người thì sang Việt Nam mà giết vì bọn chúng rất sung sướng để được chết, rất hăng hái để được giết.

Nhưng mà tôi đảm bảo với mọi người rằng khi ấy số lượng người sang Việt Nam để quỳ lạy chúng ta sẽ chiếm ưu thế so với số lượng người sang để giết chúng ta. Vì kẻ nào sung sướng hăm hở để được giết, để được chết đều là kẻ xứng đáng cho người khác quỳ lạy và cúng dường. Vậy là từ vùng đất hiếu chiến, chiến tranh liên miên y như trẻ tăng động trở thành vùng đất tâm linh, quy tụ toàn thế giới về phía mình.

Giống như vùng đất Tây Tạng vậy đó mọi người. Ngài Đạt Ma Lạt Ma cũng muốn dân Tây Tạng hăm hở sung sướng để được giết để được chết, tình nguyện đi chết. Nhưng không phải ai cũng nghe lời Ngài, các tổ chức các nhà hoạt động nổi lên khắp nơi đòi bảo vệ lãnh thổ, đòi chủ quyền từa lưa hạt dưa, rồi đủ các hoạt động chống phá khắp nơi. Làm trái ý Ngài Đạt Lai Lạt Ma rồi nha. Muốn xứng danh là vùng đất thần linh bí ẩn, muốn xứng danh là ốc đảo tâm linh của cả nhân loại thì người dân Tây Tạng phải hăm hở hăng say và tình nguyện đi chết, và sung sướng khi bị giết đi nha hihi

Cái này dựng phim giả tưởng được nè mọi người. Vì bản chất con người ai cũng thích chiến tranh. Chiến tranh mới vui chứ hòa bình chán thí mồ. Mình luôn miệng nói rằng mình yêu thích hòa bình nhưng tận trong thâm tâm mình lại ghiền chiến tranh. Vì nhờ có chiến tranh mới có giác ngộ, chứ nếu chỉ có hoà bình không thôi thì sao mà giác ngộ được chớ. Đó là lý do tôi nói bài viết này dựng thành phim giả tưởng được nè!


P.s Mọi người biết nhân duyên gì mà tôi viết bài này không? Là vì tôi đang đọc Nhật Kí Đặng Thùy Trâm hehehe.

Chủ Nhật, 10 tháng 12, 2017

Cái chết chỉ là sự tưởng tượng!!!

Điều này tôi thực sự chứng ngộ ra nè mọi người!!!

Lúc ở trong trường thiền, do tôi thuộc tạng người chứng ngộ thông qua lao động chứ không thông qua việc ngồi thiền. Ngoài ra thường người ta chỉ ở khoảng 1-2-3 tuần thôi rồi đi, còn tôi ở hoài luôn vẫn chưa đi. Cho nên tôi được sắp xếp cho làm việc này việc nọ. Rất nhiều công việc trong trường thiền đều qua tay tôi làm. Mà tôi khoái làm việc hơn là suốt ngày ngồi thiền trong thiền đường. Một trong những công việc hằng ngày ở trường thiền mà tôi làm, đó là hái hoa tươi mỗi ngày, rồi sắp ra 7 dĩa, chưng ở 7 nơi khác nhau. Dĩ nhiên là tôi không có làm một mình, tôi chỉ làm phụ người bản địa thôi. Do vậy tôi cũng biết cách xếp hoa theo kiểu người vùng này luôn đó nha, xếp hoa rồi làm vòng hoa…., đủ kiểu, tôi học tuốt.

Hằng ngày, sau khi ăn sáng thì người ta vào thiền đường ngồi thiền 1 tiếng còn tôi cùng 1 cô gái bản địa lặng lẽ đi lòng vòng khuôn viên lặng ngắt hái hoa và sắp ra dĩa. Hái miết hái miết hái miết hái ngày này qua ngày nọ đến lúc nào đó tôi tự chứng ngộ ra rằng cái chết không có thật, cái chết chỉ là ảo tưởng. Tự chứng ngộ xong cái ngẩn người ra vì bất ngờ luôn đó mọi người. Nói thì ai cũng có thể nói được. Ai cũng có thể nói: Chết là ảo tưởng, chết hổng có thật. Nhưng tự thân chứng ngộ lại là một chuyện khác. Và tôi chứng ngộ ra cái chết thông qua việc hái hoa cúng Phật mỗi ngày. Chứng ngộ xong điều này cái tôi mừng quá, trưa hôm ấy đến giờ trình pháp, tôi trình cho sư phục dạy thiền. Tôi nói với sư phụ rằng: “Cái chết thực ra không có tồn tại, do mình ảo tưởng nên mới có cái chết. Tất cả đều chuyển hóa từ dạng này sang dạng khác từ nhiệm vụ này sang nhiệm vụ khác, từ chức năng này sang chức năng khác. Nếu cái chết tồn tại thì mỗi ngày con đã sát hại hằng trăm bông hoa rồi. Nhưng cái chết đâu có tồn tại. Bông hoa chỉ chuyển hóa nhiệm vụ, và vai trò thôi. Từ một cái bông ở trên cành, trở thành vật cúng dường cho Đức Phật, từ vật cúng dường cho Đức Phật trở lại thành phân bón cho cây, rồi từ cây lại mọc ra bông hoa khác, rồi cứ thế mà tuần hoàn. Cho nên bông hoa chưa hề chết, nó chỉ thay đổi vị trí hiện diện và chức năng hoạt động thôi hà. Con người ta cũng vậy. Chưa từng có ai chết đi cả, họ chỉ thay đổi vị trí và vai trò của mình thôi hà.”

Nghe xong, sư phụ dạy thiền chỉ nhìn tôi và mỉm cười lặng lẽ.


Và bây giờ thì các nhà khoa học đã chứng minh sự chứng ngộ về cái chết của tôi đây này! Các nhà khoa học cho rằng cái chết chỉ là ảo tưởng!

Chủ Nhật, 26 tháng 11, 2017

Ẩn tu hay lao vào chỗ chết?

Nhân có vị kể chuyện về một người bạn bỏ thành thị vào rừng sâu núi thẳm tu khổ hạnh được 4-5 tháng xong chạy trở ra vì chịu không nổi nên tôi viết bài này.

Tôi kể chuyện về núi tuyết nha! Núi tuyết nghĩa là núi Hy Mã Lạp Sơn kéo dài qua một số nước như Pakistan, Ấn độ, Tây Tạng, Nepal,…. Nghe đồn núi tuyết là nơi đón ánh nắng mặt trời đầu tiên và có vô số vị ẩn tu nơi đây, thần tiên hiển hiện khắp nơi. Thật ra muốn ẩn tu trên núi tuyết không khó, quan trọng là có làm được hay không mà thôi. Có rất nhiều lạt ma đã đang và sẽ ẩn tu trong vô số am cốc khắp núi tuyết. Những am này xây bằng đá, thật ra là vác những tảng đá to to rồi chồng lên nhau thành am, lối ra rất nhỏ, chỉ là một cái khe. Gọi là am chứ thật ra rất nhỏ, chỉ đủ chỗ ngồi và một cái bếp nhỏ để đun nước sôi pha trà thôi, không nằm dài ra được. Nghĩa là ai vào đây thì chỉ có ngồi không thể nằm. Am như thế này rải rác khắp nơi. Mọi người nếu muốn thì cứ đi dạo dạo núi tuyết mà quan sát, thấy am nào có cái xác khô, nghĩa là hành giả nhập tịch rồi thì xin phép họ cho sử dụng am, sau đó khiêng thi thể họ để ra ngoài, rồi vào đó ngồi. Do am trên núi nên mỗi ngày vào buổi sáng phải leo xuống con suối cách đó vài cây số để tắm giặt và gánh nước lên am dùng đủ trong ngày. Phải đi ban ngày vì ban đêm cọp beo bắt đầu đi dạo khắp chốn, có khi leo lên nóc am kêu gào làm cho hành giả nào yếu tim là sợ tê tái luôn. Đây là những cái am còn dễ mò đến, chứ có những cái am còn cao hơn, xa hơn thì tôi chẳng biết. Có một số tăng ni Việt Nam quyết sống chết tìm đạo nên tìm đến những am cốc này, không thành đạo thề không rời am, và họ chết luôn tại đó, linh hồn vẫn còn lẩn quẩn nơi ấy, không biết làm sao mà đi ra (huynh đệ của những vị này kể cho tôi nghe chứ tôi chẳng biết lý do vì sao lại thế.)

Có một số tăng ni khác cũng thề sống chết như vậy, cái gặp tôi, tôi hỏi muốn lên am không, tôi dẫn đi, chết ráng chịu à nha. Xong cái kể cho họ nghe về những linh hồn ẩn khuất kia. Vậy là những vị này trốn mất, hổng ai dám lên am luôn.

Bởi vậy tôi nói rồi: Chưa trải qua cuộc sống cô liêu kiêu hùng của một chiến binh thì rất khó mà tu khổ hạnh đầu đà. Đó là lý do vì sao các bậc giác ngộ thường là những chiến binh trước khi họ thực sự giác ngộ.


Một số tăng ni quen cuộc sống thành thị, quen sự cung phụng của phật tử mà đùng đùng bỏ ngang lên am như vậy thì chết là cái chắc, phải có sự thích nghi dần dần mới được chớ. Và điều kiện để cho thích nghi chính là cuộc sống cô đơn kiêu hùng của chiến binh đó. Phải đi từng bước từng bước thì mới sống được cuộc sống tách ly như vậy. Nếu không thì phải có căn cơ sẳn như các lạt ma Tây Tạng. Hổng biết căn cơ và khả năng của mình như thế nào, chỉ có sự quyết tâm ảo tưởng thì chỉ có một con đường chết mà thôi. 

Thứ Ba, 7 tháng 11, 2017

Chết rất là vui!

Vì chỉ có ai biết cách sống thì mới biết cách chết. Nghệ thuật sống chính là nghệ thuật chết. Người không thực sự sống thì người đó rất sợ chết. Đó là lý do mà người ta luôn dạy cách sống chứ không ai dạy cách chết. Vì sống thế nào thì chết như thế nấy.

Nói rằng chết rất là vui là vầy nè! Một người sống thực sự, sống toàn tâm toàn ý, sống phừng phừng từng phút một thì khi năng lượng hết rồi, hổng chết thì làm gì giờ trời!

Túm cái ý lại rằng người sợ chết hay hoài nghi về cái chết là do người ấy không biết cách sống. Đơn giản ghê chưa!

Chủ Nhật, 10 tháng 9, 2017

Sự hình thành bào thai

Pháp chán nản dạy ta suy xét,
Khổ cõi đời số cát sông Hằng,
Tám điều khổ não chi bằng,

Đây lần lượt giải ngọn ngành như sau:

Cõi trần thế ra vào há dễ,
Luật tuần hoàn nào kể chi ai,
Thân ta bất luận gái trai,
Cũng đều mắc phải đọa đày khổ sanh.

Khi nghiệp đến pháp hành cấu tạo,
Thác sanh vào lòng mẹ thành phôi,
Nguyên tố nhỏ nhít vô hồi,
Vốn là chất lỏng, giống dầu mà trong.

Giọt dầu ấy dính lông con thú,
Ta cầm lên rảy giũ bảy lần,
Chỉ còn chút ít dính gần,
Đó nguyên chất tạo nên thân con người.

Bảy ngày đầu còn tươi trong vắt,
Rồi tan dần biến sắc đổi màu,
Đến tuần thứ bảy về sau,
Biến thành một chất trông vào đáng ghê.

Đỏ dợt dợt, mỡ pha lẫn máu,
Bởi nguyên Hành cứ tạo thêm ra,
Lại đến bảy bữa thứ ba,
Hóa thành chất đặc như là thịt dư.

Trong bụng mẹ an cư một chỗ,
Miếng thịt thừa tội khổ xiết chi,
Tuy hình huờn kết thế ni,
Nhưng lại mềm mại như chì rã tan.

Tưởng tượng đến trăm ngàn ghê sợ,
Phôi bây giờ tương tợ trứng gà,
Phôi này còn yếu chưa già,
Tuần tự thay đổi, bảy ngày thứ tư.

Bảy ngày nữa từ từ biến hóa,
Bắt đầu chia tất cả năm nhành,
Tuy hình chưa hẳn thật thành,
Nhưng đã có dạng đầu, mình, chân, tay.

Pháp Hành đã tạo hoài không dứt,
Tuần thứ năm thất nhựt vừa qua,
Nhỏ to hình dáng đẫy đà,
Ba lăm ngày ấy đã ra hình hài.

Ngoài ba tháng thành thai cứng cáp,
Thai loài người nào khác thú đâu,
Cũng đều khổ não âu sầu,
Ở trong bụng mẹ co đầu, rút chân.

Ngồi chồm hổm còn hơn ràng buộc,
Trên đồ ăn vừa được tiêu tan,
Hai tay nắm lại đỡ cằm,
Mặt day lưng mẹ, tối tăm mịt mờ.

Quanh mình vấy chất dơ hôi thối,
Đầu đội đồ mẹ mới ăn vào,
Vừa dơ vừa ngộp xiết bao,
Nên hằng giãy giụa, thân nào đặng yên.

Nếu mẹ chẳng cữ kiêng ăn uống,
Mặc đói no, nuốt bướng nhai càn,
Nóng, cay, nguội, lạnh không màng,
Miễn vừa khẩu dục, ngó ngàng chi con.

Vật thực trúng da non của trẻ,
Nóng giật mình, lạnh sẽ phát run,
Đau thương khổ não khôn cùng,
Như chim bị trận bão bùng mưa sa.

Lại giống khỉ trải qua mưa gió,
Nằm co ro một xó rét run,
Kinh hoàng sợ sệt hết lòng,
Chẳng kham nỗi khổ, day tầm đôi bên.

Hoặc kiếm ở phía trên hay dưới,
Hoặc là nơi mấy bụi gần đây,
Chừng nào tìm được bọng cây,
Chui vào ẩn náu, thân này mới an.

Đủ mười tháng vẹn toàn thân thể,
Gần kỳ sanh, lòng mẹ chẳng vui,
Lo âu dạ luống ngùi ngùi,
Sợ sự tai họa trong hồi khai hoa.

Mãi toan tính đắn đo cân nhắc,
Biển mênh mông chưa chắc đặng qua,
Quẩn quanh công chuyện trong nhà,
Dể duôi nào dám đi xa bao giờ.

Kịp đến lúc ngồi chờ hoa nở,
Quyến thuộc vầy kẻ đỡ, người nưng,
Chịu điều đau khổ từng cơn,
Dầu kiên gan mấy cũng sờn nỗi đau.

Người cả thảy không sao tránh thoát,
Bỗng dường như bão tạt vào thai,
Hài nhi như chớp đã day,
Theo đường kinh huyết ra ngoài sản môn.

May được lúc lâm bồn yên tịnh,
Cả mẹ con khỏe mạnh, vuông tròn,
Ấy nhờ hồng phúc nhà còn,
Chúng sanh kiếp trước gây nhiều thiện căn.

Nếu phước báo không bằng tội ác,
Khi sanh ra chịu các khó khăn,
Dẫu còn sống sót nữa chăng,
Dật dờ dường phải đôi lần đứt hơi!

Vì nhân ác đến hồi trả quả,
Chúng sanh này thảm họa chết non,
Chết ngộp hoặc chết mỏi mòn,
Chết ngoài bụng mẹ, hoặc còn trong thai.

Ngán ngẫm kiếp sanh lai tất tưởi,
Từ thác sanh đến buổi lọt lòng,
Mạng căn nào biết chắc không,
Nhưng đều phải chịu trong vòng khổ lao.
Sưu tầm.

Thứ Năm, 10 tháng 8, 2017

NGŨ UẨN

Ngũ uẩn gồm sắc, thọ, tưởng, hành, thức.
Sắc khác với sắc uẩn. Thọ khác với thọ uẩn. Tưởng khác với tưởng uẩn. Hành khác với hành uẩn. Thức khác với thức uẩn.
Niệm thứ nhất liên quan đến Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức.
Niệm thứ hai liên quan đến Sắc Uẩn, Thọ Uẩn, Tưởng Uẩn, Hành Uẩn, Thức Uẩn.
Sắc Thọ Tưởng Hành Thức tự hoạt động, không liên quan gì đến bản ngã cả. Nhưng do bản chất của bản ngã là nhiều chuyện, thích xen vào hoạt động của Sắc Thọ Tưởng Hành Thức thành ra mới thành Sắc Uẩn, Thọ Uẩn, Tưởng Uẩn, Hành Uẩn, Thức Uẩn, luân hồi từ ấy mà sanh ra.
Mắt thấy sắc, đó là việc của mắt.
Thân thấy vui buồn giận hờn, đó là việc của thân.
Tưởng Thức là việc của não bộ.
Hành là việc của hành.
Tất cả đều hoạt động dưới sự tác ý của Tánh Giác. Vì vậy mà bình đẳng như nhau. Khi gặp nguy hiểm thì cảm thọ sợ nỗi dậy, khi được an toàn thì cảm thọ thoải mái, vui mừng nỗi dậy. Ai cũng như ai, vì đây là bình đẳng tánh.
Tất cả mọi thứ tự vận hành, không cần có sự xen vào của bản ngã. Không mợ chợ cũng đông.
Nhưng bản ngã thích chen vào, không bao giờ muốn ở riêng. Cho nên, Mắt thấy sắc, đó là việc của mắt. Nhưng bản ngã thích vơ vào mình nên cho rằng mắt là của mình.
Thân thấy vui buồn giận hờn, đó là việc của thân. Nhưng bản ngã thích vơ vào mình nên cho rằng thân là của mình, vì thân là của mình, nên cảm thọ cũng là của mình.
Tưởng Thức là việc của não bộ. Nhưng bản ngã thích vơ vào mình nên cho rằng tưởng thức là việc của mình.
Hành là việc của hành. Nhưng bản ngã lại vơ vào cho đó là của mình.
Sắc Thọ Tưởng Hành Thức hoạt động độc lập không liên quan tới bản ngã.
Cuối cùng, Tòa tuyên án như sau:
Luân hồi sanh tử là do sự nhiều chuyện (của bản ngã) chứ chẳng liên quan gì đến Sắc Thọ Tưởng Hành Thức cả. Để chấm dứt luân hồi sanh tử thì sắc thọ tưởng hành thức cần ly dị bản ngã, không có con chung (Uẩn).
Kết luận: Hai đứa nó ly dị nhau, vậy là xong chuyện! Đơn giản quá, khỏe re!
Bài tiếp theo: Người điên cũng là đại bồ tát đấy mọi người!

Thứ Hai, 19 tháng 6, 2017

Chúng ta đấu đá nhau là vì cái gì vậy nhỉ?

Trong bài viết “Tôi là ai” này, tôi có đặt một câu hỏi mà lúc đó tôi thực sự không biết câu trả lời là gì. Bài này viết năm 2011, và bây giờ là năm 2017. Tôi có câu trả lời rồi đó mọi người.

Câu hỏi: Chúng ta đấu đá nhau là vì cái gì vậy nhỉ? 

Câu trả lời: Chúng ta đấu đá nhau không vì cái gì cả. Chúng ta làm điều đó bởi vì đó là một THÓI QUEN. Đấu đá, giành giật cái lợi về phía mình là một thói quen của lòng tham. Và bây giờ thì tôi cũng biết rằng THAM là một thói quen. Chúng ta Tham riết nên quen rồi. Lòng tham được tích lũy được huân tập từ kiếp này sang kiếp khác, nên chúng ta tham, chúng ta đấu đá, chúng ta giành giật bởi vì chúng ta quen làm như vậy rồi.

Tham có hai dạng nha mọi người. Thứ 1 là tham điều tốt, tham chân, tham thiện, tham mỹ, tựu trung lại vẫn là tham. Thứ 2 là tham điều xấu. Nói đến đây mới nhớ câu chuyện sau:

Không nhớ chi tiết, chỉ nhớ đại khái là: Có người ghét Đức Phật nên thuê giang hồ đi theo chửi bới lăng mạ ông Phật miết. Đây là xấu nên khi chết họ đi xuống, hổng biết xuống đâu, chắc xuống địa ngục. Còn có một nhóm người khác thì được thuê nên cứ ông Phật đi đâu thì cũng bám theo để ca tụng khen ngợi riết. Đây là tốt nên khi chết, họ đi lên, chắc lên thiên đàng, hay lên cõi trời nào đó. Thói quen tham cũng vậy đó. Hễ tham cái tốt thì đi lên, hễ tham cái xấu thì đi xuống. Nhưng cho dù đi lên hay đi xuống thì tham vẫn là tham, có gì khác nhau đâu.

Chẳng những Tham là một thói quen mà Sân cũng là một thói quen luôn đó nha mọi người. Và Sân có gốc từ Tham. Bởi Tham mà không được nên mới nổi sân. Cho nên Sân là nhánh của Tham. Có người nói: “Tôi chỉ Sân thôi chứ tôi không có Tham.” Cái này là không đúng, bởi vì Sân là do Tham cầu mà không được. Cho nên người dễ nổi sân (giống tôi) có khi Tham lại còn hơn người khác nữa đấy.

Vậy thói quen Tham có gốc từ đâu? Tham có gốc từ Si. Do Si mê nên mới có Tham. Chúng ta si mê riết nên thành thói quen và chúng ta tham riết cũng thành thói quen luôn. Nhờ hai cái thói quen này mà chúng ta cứ đi lên rồi lại đi xuống, cứ đi xuống rồi lại đi lên, quay vòng hết kiếp này đến kiếp khác.

Dù chúng ta có đi lên trển, trở thành chư thiên hay thiên thần, hoặc chúng ta có đi xuống, trở thành con vật hay ngạ quỷ hay gì gì đi chăng nữa, và cho dù chúng ta là ai, giàu hay nghèo, đẹp hay xấu, khôn hay dại, nổi tiếng hay bình thường,…….tất cả chúng ta đều có điểm chung. Thấy được điểm chung này rồi thì thấy mình hay con vật hay chư thiên là giống nhau, là đều được sinh ra từ một gốc. Điểm chung đó là gì? Đó là chúng ta có cùng cha cùng mẹ. Cha của chúng ta là Si mê và mẹ của chúng ta là Tham ái. Chúng ta được sinh ra hổng phải do cha mẹ bằng da bằng thịt mà chúng ta gọi ba/mẹ hằng ngày đâu. Xét cho cùng họ cũng cùng được sinh ra từ gốc Vô Minh và Tham Ái y như mình vậy đó. Chúng ta được sinh ra nhờ Cha Vô Minh và Mẹ Tham Ái đó nha mọi người. Bởi vậy bây giờ đi đâu cũng có người nhà. Ai cũng cùng cha cùng mẹ hết mừ hehehehe.

Xem tiếp: Thế nào là “Lội ngược dòng”?

Thứ Năm, 15 tháng 6, 2017

Thế nào là người thành công?

Bài viết này được viết nhân dịp đọc một chia sẻ của một bạn trong cộng đồng du mục quốc tế trên Facebook. Bạn ấy viết rằng: Trong chuyến đi trekking ở bang Himachai (một bang ở Bắc Ấn độ) thì bạn đã nhìn thấy cái chết ở ngay trước mũi. Bạn ấy đối diện với một con gấu, nhưng bạn đã không chết mà được cứu bởi 3 chú chó. Trong nỗi sợ hãi tột cùng, bạn ấy đã đầm đìa nước mắt. Bạn ấy khóc không phải vì sắp chết mà khóc vì chết mà vẫn chưa làm điều mình muốn làm, nghĩa là bạn sẽ chết trong sự tiếc nuối.

Do vậy, một người thành công không phải là người có thật nhiều tiền, không phải là người có địa vị xã hội thật cao, không phải là người được nhiều người hâm mộ, không phải là người có cống hiến to tát,……. Một người thành công là người có thể chết bất cứ lúc nào mà không tiếc nuối điều gì.

Vậy bạn sẳn sàng chết ngay lúc này mà không có gì phải tiếc nuối không?

Người sẳn sàng chết mà không có gì tiếc nuối không phải là người chán chường cuộc sống này đến nỗi chỉ muốn chết quách cho xong, mà là người sống cuộc sống này đầy đủ và trọn vẹn đến nỗi kiếp sống này như thế là đủ, mình đã được sinh ra và đã sống một cách toàn vẹn một kiếp.

Chúng ta tự hào mình biết nhiều điều nhưng không ai trong chúng ta lại biết khi nào mình sẽ chết. Vì không biết nên chúng ta tự cho rằng cái chết là của người khác, không phải của mình. Và cứ thế “chúng ta sống như thể mình không bao giờ chết và khi cái chết đến chúng ta lại chết như thể chưa bao giờ mình được sống” (đây là câu nói nổii tiếng của Ngài Đạt Lai Lạt Ma)

Thế nào là sống như thể không bao giờ chết? Nghĩa là chúng ta cứ mãi chạy theo những định kiến xã hội, những ý kiến của người khác, những tham muốn của mình mà không hề biết thực sự mình cần gì muốn gì. Chúng ta hoàn toàn không hiểu chính mình. Vì không hiểu chính mình, chúng ta không biết làm thế nào để sống một cách đầy đủ và toàn vẹn.

Thế nào là chết như thể chưa bao giờ sống? Vì chưa sống một cách toàn vẹn kiếp sống này, chúng ta không muốn chết, chúng ta tiếc nuối, chúng ta mong cầu được sống tiếp mong muốn có cơ hội để sống viên mãn. Vậy là chúng ta không biết cách chết.

Nguyên do của không biết cách chết là vì không biết cách sống.

Tóm lại, dù bạn là ai, bạn làm nghề gì, bạn có tính cách gì, bạn già hay trẻ, bạn mạnh khỏe hay yếu ớt, bạn thông minh hay ngu dốt, bạn giàu có hay nghèo hèn, bạn nổi tiếng hay bình thường,………….cũng không quan trọng. Quan trọng là bạn có thể sống như thế nào để bạn sẳn sàng chết bất cứ lúc nào, bất kể nơi nào mà không nuối tiếc không!!!

Thứ Năm, 31 tháng 12, 2015

THỜ CÚNG ÔNG BÀ (Thầy Viên Minh giảng)

Tục lệ dân gian thờ Cửu Huyền Thất Tổ là để nhớ ơn tổ tiên ông bà cha mẹ đã quá vãng thì đúng, nhưng rước ông bà về thờ thì đôi lúc chỉ rước ma quỷ về nhà thôi, vì phần lớn tổ tiên đã tái sinh qua kiếp khác rồi. Rước ma quỷ về thì người nào yếu họ nhập vào để tỏ quyền uy. Phật dạy đối với người đã quá vãng tốt nhất là làm phước hồi hướng cho họ được siêu sinh chứ không nên rước về giữ họ lại cõi âm khiến họ không đi tái sinh dương thế được.

Việc đi chùa không lệ thuộc vào vị trụ trì, chỉ nên nghiên cứu kinh sách, nghe giảng để hiểu Phật pháp, thông suốt đạo lý mà sống cho đúng tốt, nếu không hiểu đạo lý thì chỉ rơi vào mê tín dị đoan, nô lệ vào nghi lễ cúng bái cầu xin chứ không phải là Phật pháp. Biết tu tâm, dưỡng tánh, biết hành động, nói năng, suy nghĩ sáng suốt định tĩnh trong lành, biết sống lợi mình lợi người thì mới là Phật tử chân chính chứ không phải có pháp danh, đeo tượng Phật là Phật tử.

Thứ Bảy, 7 tháng 11, 2015

Không ít người chưa sống cho ra sống đã sợ chết.

"Đây là bài viết được nhà báo Trương Anh Ngọc viết sau khi biết tin một người bạn báo bị ung thư. Bài viết dành tặng cho tất cả những ai đang và sẽ sống có ý nghĩa".

Đối với tôi, đấy là một chuyến bay đặc biệt. Bay từ Châu Âu đến Châu Phi luôn đem đến một cảm giác rất khác lạ. Trước hết, đấy là một chuyến bay xuyên lục địa từ Bắc xuống Nam bán cầu. Sau đó, chuyến đi cho World Cup 2010, mà ở đó tôi suýt chết trong một vụ cướp, trên hành trình tác nghiệp đã được mở đầu theo một cách không thể quên.

Trong một chặng của hành trình xa lắc ấy, tôi ngồi cạnh một linh mục người Tây Ban Nha. Cha còn trẻ, có nụ cười rất đôn hậu và giọng nói trầm ấm. Chúng tôi nói chuyện về bóng đá, về cuộc đời, về sách vở và những chuyến đi khi máy bay vừa cất cánh lúc trời còn chưa sáng. Thế rồi, chẳng hiểu thế nào, ngài linh mục, một người rất uyên bác, bỗng chuyển chủ đề sang nói về cái chết, sau khi máy bay bị mất độ cao trong chốc lát và làm nhiều hành khách, trong đó có tôi, hoảng hốt đến cùng cực: "Con người ta thỉnh thoảng vẫn tự hỏi, cái chết sẽ đến với mình như thế nào, nhẹ nhàng hay đau đớn? Không ai trả lời, vì họ không trả lời được, hoặc không muốn trả lời. Nghĩ đến cái chết khiến nhiều người sợ hãi". 

Cha bảo, sợ hãi cái chết là một bản năng của con người, nhất là đối với những ai còn ham sống, còn nhiều điều chưa thể thực hiện được hoặc còn muốn hưởng thụ. Chỉ có những người đã trải qua tất cả, hoặc buông xuôi và không còn điều gì tiếc nuối nữa thì cảm thấy thanh thản và nhẹ nhàng. "Chẳng ai tránh được cái chết. Ngay cả nếu như chuyến bay này là định mệnh dành cho mình, mình phải chấp nhận", cha nói. Tôi tiếp lời vị linh mục: "Nếu máy bay chúng ta đang rơi, điều gì cha nghĩ đến đầu tiên?". Cha trả lời: "Ta nghĩ ta đang về với Chúa. Còn con?". "Nếu kịp thì con sẽ nghĩ nhiều lắm, đến gia đình và người thân, đến chuyến đi này và bài viết trong máy tính còn đang dang dở, đến bao năm tháng phía trước không được sống. Con còn rất trẻ cha ạ", tôi nói. Chúng tôi cùng cười.

Cái chết là điều mà chúng ta không ai muốn nghĩ, hoặc đơn giản là chưa nghĩ tới, cho rằng như thế là quá sớm hoặc có thể đem đến vận rủi. Nhưng nó vẫn sẽ đến, theo cách này hay cách khác và không ai có thể tránh được. Nếu cái chết đã không thể tránh được, thì sống như thế nào luôn là một câu hỏi mà chính chúng ta cũng không dễ trả lời. Vị linh mục có thể tìm đến đức tin để nương náu trong những lúc gian khó nhất và Chúa có thể làm cho cái chết của ngài trở nên nhẹ nhàng và thanh thản, nhưng chúng ta, những người còn rất trẻ, có thể tìm đến ai và bấu víu vào điều gì để khỏa lấp đi những nỗi lo lắng thường trực, sự mất niềm tin vào tương lai phía trước và những nỗi cô đơn lớn lao mà thế giới này có lúc không ai có thể chia sẻ cùng ta?

Tôi đã gặp và nói chuyện với nhiều người cũng đặt ra những câu hỏi như trên những hành trình mình đã đi qua trong đời. Và chính tôi, khi đối diện với chính mình trong những lúc gian khó, cũng tự hỏi mình câu đó. Để rồi sau rất nhiều những vấp ngã và thậm chí có lúc tuyệt vọng, chợt nhận ra rằng, cách duy nhất có thể tạo ra được sự lạc quan cho bản thân mình khi đối diện với những điều tệ hại nhất là sống tốt và có niềm tin rằng, việc sống tốt ấy của mình có thể đem đến niềm vui cho càng nhiều người càng tốt bằng sự chia sẻ. Chia sẻ những điều tốt đẹp, chia sẻ những ý nghĩ và các câu chuyện về sự tử tế, chia sẻ những hình ảnh về những chuyến đi và hy vọng những chuyến đi và kinh nghiệm đã trải qua ấy có thể thôi thúc nhiều người trẻ rời khỏi thế giới an toàn và nhỏ hẹp của họ để vững tâm bước ra thế giới.

Vị linh mục bảo, chúng ta đang sống trong một thế giới của những điều trái ngược. Nhiều người trong chúng ta chưa hoặc rất ít bay đi đâu đó, nhưng luôn sợ máy bay rơi. Nỗi sợ hãi ấy đã giết chết những hoài bão nhỏ nhoi của họ, tự cầm tù họ trong một cuộc sống cá nhân buồn tẻ và hèn nhát. 

Phải, cha hoàn toàn đúng. Không ít người chưa sống cho ra sống đã sợ chết. Cái chết không phải là tất cả, mà là một phần quan trọng của cuộc sống, một sự chuyển tiếp giữa những trạng thái của sự tồn tại. Sao không sợ sống một cách vô nghĩa, không có định hướng, không hoài bão và ước mơ, trong một cuộc đời nhờ nhờ hơn là sợ chết? Chết về tâm hồn, vì sự bon chen và xảo trá của cuộc sống khiến ta mờ đi cái tâm và mất đi sự lạc quan, tự nướng tuổi trẻ của mình vào điều vô bổ là cái chết ghê sợ hơn cả. 

Nhiều năm trước, tôi đã từng mất một người bạn. Một khối u não đã cướp đi cuộc sống của cô và đứa con trong bụng cô. Nỗi đau đớn trong tôi lúc nhìn cô hôn mê trong bệnh viện sau đó được thay thế bởi một ý nghĩ khác: mọi điều xảy ra trong cuộc đời này đều có lí do và đều có ý nghĩa của nó. Điều quan trọng là ta giải nghĩa nó thế nào. Cái chết của người bạn ấy có thể là động lực cho những người khác còn đang sống cảm thấy sự may mắn mà họ đang có trong tay: họ có cuộc sống. 

Và nữa, những người nghĩ nhiều về cái chết thực ra không phải là người bi quan, mà là người muốn sống thế nào cho không vô nghĩa và rồi họ biết cách xua tan đi những nỗi sợ hãi ngày càng dày lên xung quanh, vì sự bất trắc, những đe dọa rình rập ta ở bất cứ lúc nào trong từng mảnh li ti của cuộc sống. Một tế bào ung thư bắt đầu phát triển ở đâu đó trong cơ thể, lối sống không khoa học và theo chiều hướng bê tha, những suy nghĩ bi quan và bế tắc, những tai nạn dọc đường. Sợ chết, xét cho cùng là bình thường. Nhưng sợ sống không tốt thì không phải ai cũng nghĩ đến...
Chúng tôi tạm biệt nhau ở Nairobi. Trước khi chia tay, đột nhiên vị linh mục hỏi: "Ta muốn hỏi điều này. Nếu nói về cái chết, thì con muốn có điều gì trong đám tang của chính mình?", linh mục hỏi. Nghĩ một lúc, tôi trả lời: "Những nụ cười. Con không muốn cái chết của con trở thành một gánh nặng cho tất cả. Cái chết ấy phải đem đến sự thanh thản và niềm vui, bởi con muốn, sau này, mọi người nhớ đến con thì chỉ nghĩ đến những niềm vui, rằng con đã sống không vô ích". Vị linh mục gật đầu cười. Chúng tôi chia tay. Tôi không gặp lại ông từ ngày ấy, nhưng cái chết của người bạn và cuộc gặp trên máy bay đã ảnh hưởng rất nhiều đến quan điểm sống của tôi.
Xét cho cùng, cũng chỉ được sống có một lần thôi...
Trương Anh Ngọc (từ Roma, Italia)
Xem nguồn bài viết ở đây.


Lời bình: Người sống từng ngày mới thật sự là người biết sống. Mỗi sáng thức dậy thì hãy tự nhủ: “Có thể buổi sáng nàybuổi sáng cuối cùng của mình.”  Mỗi ngày đều tự nhủ: “Có thể đây là ngày cuối cùng của mình.”.Mỗi khi ăn đều tự nhủ: “Có thể đây là bữa ăn cuối của mình.” Mỗi khi làm gì đều tự nhủ: “Có thể đây là cơ hội cuối cùng cho mình làm công việc này.” Mỗi đêm trước khi đi ngủ đều tự nhủ: “Đêm nay là đêm cuối, giấc ngủ này có thể là giấc ngủ cuối.” Đừng tưởng những người như vậy là bi quan, mà họ chính là vô cùng lạc quan, vì họ biết giá trị của từng ngày, từng giấc ngủ và từng thứ mà mình đang có. Họ chính là những người thật sự sống và sống rất thực tế!

Thứ Hai, 31 tháng 8, 2015

Kiếp Sau Của Mỗi Bậc Thánh-Nhân

* Bậc Thánh-Nhập-lưu đã diệt-đoạn-tuyệt được 2 loại phiền-não là tà-kiến và hoài-nghi, nên kiếp hiện-tại không còn khổ tâm do 2 loại phiền-não ấy nữa.
Sau khi bậc Thánh-Nhập-lưu chết, chắc chắn vĩnh viễn không còn tái-sinh trong 4 cõi ác-giới: địa-ngục, a-su-ra, ngạ-quỷ, súc-sinh nữa, chỉ có dục-giới đại-thiện-nghiệp cho quả tái-sinh kiếp sau trong cõi-thiện-giới là cõi người hoặc 6 cõi trời dục-giới nhiều nhất 7 kiếp nữa mà thôi.
Đến kiếp thứ 7, chắc chắn sẽ trở thành bậc Thánh-A-ra-hán, rồi tịch diệt Niết-bàn, giải thoát khổ tử sinh luân hồi trong tam-giới.

* Bậc Thánh-Nhất-lai đã diệt-đoạn-tuyệt được 1 loại phiền-não là sân loại thô, nên kiếp hiện-tại không còn khổ tâm do sân loại thô ấy nữa.
Sau khi bậc Thánh-Nhất-lai chết, dục-giới đại-thiện-nghiệp cho quả tái-sinh kiếp sau trong  cõi người hoặc cõi trời dục-giới một kiếp nữa mà thôi. Trong kiếp ấy chắc chắn sẽ trở thành bậc Thánh-A-ra-hán, rồi tịch diệt Niết-bàn, giải thoát khổ tử sinh luân hồi trong tam-giới.

* Bậc Thánh-Bất-lai đã diệt-đoạn-tuyệt được 1 loại phiền-não là sân loại vi tế, nên kiếp hiện-tại không còn khổ tâm do sân nữa.
Sau khi bậc Thánh-Bất-lai chết, chắc chắn sắc-giới thiện-nghiệp cho quả tái-sinh kiếp sau làm phạm-thiên trên cõi trời sắc-giới, sẽ chắc chắn trở thành bậc Thánh-A-ra-hán, rồi sẽ tịch diệt Niết-bàn, giải thoát khổ tử sinh luân hồi trong tam-giới.

* Bậc Thánh-A-ra-hán đã diệt-đoạn-tuyệt được 7 loại phiền-não còn lại là tham, si, ngã-mạn, buồn-chán, phóng-tâm, không biết hổ-thẹn tội lỗi, không biết ghê-sợ tội lỗi không còn dư sót, nên kiếp hiện-tại hoàn toàn không có khổ do phiền-não nữa.
Bậc Thánh-A-ra-hán ngay kiếp hiện-tại tịch diệt Niết-bàn (chết), không còn tái-sinh kiếp nào nữa, giải thoát khổ hoàn toàn tử sinh luân hồi trong tam-giới. 

Xem nguồn bài viết ở đây.

Thứ Sáu, 24 tháng 4, 2015

Ngôi nhà thực sự của ta - Thiền sư Ajahn Chah

Lưu ý: nhà ai có người già, người bệnh nặng hay người hấp hối sắp chết thì nên cho họ nghe bài pháp thoại này của thiền sư Ajahn Chah, người Thái Lan.

Nghe bài pháp thoại bằng mp3 ở đây.
Đọc bài pháp thoại ở đây.



Thứ Năm, 23 tháng 4, 2015

Nghĩ về cái chết - cách tận hưởng niềm vui ở Bhutan

Người dân sống bên triền Himalaya nghĩ về cái chết mỗi ngày, đối mặt với nó một cách bình thản và nhờ đó, họ luôn tìm thấy niềm vui, ý nghĩa của cuộc sống trước khi tới gặp tử thần.

12345.jpg
Trong chuyến tham quan tới Thimphu - thủ đô của Bhutan, một du khách vô tình ngồi chung chuyến xe với Karrma Ura - người dân bản địa có phong thái giản dị và dễ gần. Lúc trà dư tửu hậu, vị khách phương Tây đã kể về sức khỏe của mình cùng những trải nghiệm bệnh tật khiến ông hoảng sợ như tự nhiên khó thở, chóng mặt, tê bàn tay, chân. Ông đã nghĩ đến một cơn đau tim và nỗi lo lắng đó khiến vị khách gần như phát điên, vội vàng tìm đến bác sĩ.

"Chẳng có vấn đề gì đâu", Ura bình thản trấn an vị khách, "anh nên nghĩ về cái chết ít nhất năm phút một ngày. Việc đó sẽ chữa khỏi mọi căn bệnh". Vị khách lạ dường như chết lặng trước câu nói của người đàn ông và hỏi một câu với thái độ hoài nghi: "Bằng cách nào chứ?". 

"Anh chỉ việc nghĩ về nó, cái chết và sự sợ hãi rằng bản thân sẽ qua đời trước khi trông thấy lũ trẻ của mình lớn lên. Anh chỉ cần nghĩ về những vấn đề khiến mình lo lắng như thế thôi", Ura trả lời. 

Không chỉ Ura, phần lớn người dân Bhutan đều nghĩ về cái chết mỗi ngày. Đối với họ, đây không phải là một điềm gở, cũng chẳng phải nỗi buồn hay sợ hãi. Chính sự đối mặt với cái chết khiến họ mạnh mẽ, suy nghĩ tích cực hơn. Nhờ đó, dân bản địa nơi đây trân trọng cuộc sống, biết tận hưởng từng giây phút vui vẻ bên mọi người.

"Những người giàu ở phương Tây không chạm vào xác chết, vết thương hay sự thối rữa. Đây cũng là một vấn đề. Chúng ta phải sẵn sàng cho thời điểm mà chúng ta không còn tồn tại nữa chứ", Ura giải thích về việc người dân thường nghĩ về cái chết.

Thực tế, trong văn hóa dân bản xứ, cái chết được mỗi người nghĩ tới 5 lần một ngày. Họ không cô lập cái chết giống người phương Tây.

Hình ảnh của nó xuất hiện khắp nơi tại quốc gia này, đặc biệt là trong các ngôi đền, chùa và tích gắn liền với Phật giáo. Người qua đời sẽ được để tang 49 ngày nhằm thể hiện sự đau buồn từ gia đình, thân nhân.

Trong một nghiên cứu của Đại học Kentucky, Mỹ do hai giáo sư tâm lý tên Nathan DeWall và Roy Baumesiter cùng hàng chục sinh viên thực hiện, họ nhận thấy sự kỳ diệu trong suy nghĩ về cái chết ở người dân nơi đây.

Với những người thường xuyên nghĩ tới tử thần, họ sẽ bình thản hơn khi đối mặt với cái chết và coi nó như một phần của cuộc sống, dù có thích hay không. Từ đó, suy nghĩ của họ theo chiều hướng tích cực để tận hưởng cuộc sống hơn. Một trong số đó chính là "niềm vui".

Ngoài ra, người dân Bhutan có cái nhìn nhẹ nhàng hơn về cõi tử vì họ tin vào thuyết luân hồi trong Phật giáo với kiếp này và kiếp sau. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa họ không thấy đau buồn hay sợ hãi. "Chỉ là chúng tôi đối diện với nó mà thôi", Ura giãi bày.

1_1429591808.jpg

Đường đến Bhutan:
Bhutan là quốc gia nằm giữa Trung Quốc và Ấn Độ. Mọi du khách đến Bhutan cần có thị thực nhập cảnh và phải du lịch thông qua một công ty lữ hành trong nước hoặc đối tác quốc tế.
Công dân Ấn Độ, Bangladesh và Maldives có thể nhập cảnh mà không cần đặt tour của một công ty du lịch. Ngoài ra, công dân Ấn Độ chỉ cần có hộ chiếu là có thể vào Bhutan.
Sân bay quốc tế Paro có kết nối với các điểm đến như Bangkok, Delhi, Kolkata, Bagdogra, Bodh Gaya, Dhaka, Kathmandu, Guwahati, Singapore và Mumbai.
Bay chặng Paro - Kathmandu được cho là một trải nghiệm tuyệt vời. Bạn sẽ được bay qua 4 trong 5 ngọn núi cao nhất thế giới. Vào những ngày nắng đẹp, du khách sẽ được nhìn thấy quang cảnh hùng vĩ của các đỉnh Everest, Lhotse, Makalu và Kangchenjunga một cách rõ nét nhất.

Anh Minh (theo BBC)

Xem nguồn bài viết ở đây

Thứ Năm, 2 tháng 4, 2015

Khoảnh khắc chào đời


Một ekip nhiếp ảnh mang tên “Cradled Creations The Birth Photographer” đã thực hiện bộ ảnh ghi lại khoảnh khắc tuyệt vời của người phụ nữ trong quá trình sinh con.

Xem nguồn bài viết ở đây

















wlgabs0a

Chủ Nhật, 1 tháng 3, 2015

Sau khi chết kẻ Giác Ngộ đi về đâu?

Một hôm người cùng tử Vacchagotta hỏi Đức Phật: “Bạch Đức Thế Tôn, sau khi chết kẻ Giác Ngộ đi về đâu?” Đức Phật đáp: "Nầy Cùng tử, hãy lượm những que củi nhỏ quanh đây và nhóm lửa lên". Người cùng tử lượm các que củi và đốt lửa. Đức Phật lại nói: "Hãy bỏ thêm củi vào!" Người cùng tử làm theo lời Đức Phật dạy. Đức Phật hỏi: "Thế nào rồi?" Vacchagotta đáp: "Dạ, lửa cháy rất tốt". Đức Phật lại bảo: "Thôi đừng bỏ thêm củi vào nữa". Sau đó đám lửa lụn tàn. Đức Phật hỏi: "Thế nào rồi?" "Dạ, đám lửa đã tàn, thưa Ngài". Đức Phật nói: "Vậy đám lửa đã đi đâu? Đi tới trước? Hay phía sau? Trái? Phải? Lên hay xuống?". Người Cùng tử trã lời: "Dạ không đi đâu cả. Nó chỉ tắt". Đức Phật nói: "Đúng thế. Đó cũng là điều sẽ xảy ra cho kẻ Giác Ngộ sau khi chết".
Không chêm thêm củi vào ngọn lửa đam mê, ham muốn, cầu sinh tử, thì ngọn lửa sẽ tắt. Đấng Giác Ngộ không tạo ra nghiệp thì họ sẽ không luân hồi. Với chúng ta -vẫn còn lòng ham muốn sinh tồn- và đó là hộ chiều đưa chúng ta đi vào luân hồi sanh tử. Sức nóng của đam mê là năng lượng chuyển tiếp. Đôi khi cũng có những nỗi đam mê trái ngược lại phát sinh. Tôi không muốn sống vì đời sống quá khổ. ‘Tôi muốn sống" hay ‘Tôi không muốn sống", đều là các ảo tưởng của ngã chấp. Muốn được sống là nỗi ao ước mãnh liệt nhất. Mãnh liệt đến nỗi trên giường đợi chết, cũng có ít người buông tay, chịu thua một cách nhẹ nhàng.
Người ta nói giây phút hấp hối là giây phút hiếm quí nhất để ta giác ngộ, vì giây phút đó là giây phút ta từ bỏ sở hữu của thân. Nhưng phần lớn chúng ta không muốn xuôi tay. Dầu cơ thể ta đã bất lực, ta vẫn chống cự, vùng vẫy. Tuy nhiên, nếu ta tự ý buông xuôi thì đó có thể là giây phút giác ngộ. Khi cuộc sống của ta còn thoải mái và mọi thứ trên đời còn như ý: ta có thức ăn ngon, thân thể khỏe mạnh, người quanh ta thương mến - thì ta không thấy nhu cầu phải từ bỏ cuộc sống nầy. Giải thóat lúc đó không phải là điều tối ưu. Nhưng khi sắp chết, đó có thể là điều chúng ta phải làm: buông tay theo số mệnh.
Những gì đã được khắc ghi trong tâm qua các thói quen suy nghĩ, lời nói và hành động tạo ra chất chồng nghiệp. Những gì luân hồi, tái sinh sẽ là một đồ họa di truyền, một đồ hoạ của nghiệp, hoàn toàn không phân biệt. Đức Phật nói thật là sai lầm khi nghĩ rằng người tạo nghiệp và người lãnh nghiệp báo là một; mà nghĩ rằng khác cũng sai. Sự thật là cả hai. Có một sự kế thừa nhưng không có một thực thể. Không có một cá nhân nào gây nhân và lãnh quả, nhưng có sự tiếp nối. Người tái sinh không phải là cùng một con người vừa mất đi có lẻ dễ hiểu vì thân, tâm, tình cảm đã thay đổi. Mọi thứ đều đã thay đổi kể từ giây phút nghiệp được tạo ra cho đến lúc nghiệp báo. Nhưng có một sự tiếp nối giữa người gieo nhân và người lãnh quả, điều đó cũng rỏ. Vì nghiệp bao trùm cả đời ta. Trong đó đã bao hàm các nghiệp quá khứ, nhưng không có nghĩa là ta có thể nói: "Ồ, đó chỉ là nghiệp của tôi", rồi bó tay đầu hàng.
Có những vị thầy dưới thời Đức Phật đã dạy rằng tất cả mọi thứ đều do nghiệp tạo ra, do đó ta không có sự lựa chọn nào. Đức Phật bác bỏ lối dạy đó. Cũng có các vị thầy dưới thời Đức Phật nói không có nghiệp. Bất kể ta làm gì, không có hậu quả gì cả. Đức Phật cũng không tán thành lối suy nghĩ nầy. Có tạo nghiệp, có nghiệp báo, nhưng chúng ta cũng có quyền lựa chọn của mình.
Khi giảng về luân hồi, tái sinh, Đức Phật đã so sánh tư tưởng cuối cùng của ta trước khi chết với một đàn gia súc trong chuồng. Nếu không có gia súc nào mạnh nhất, thì con vật thường là đầu đàng sẽ dẫn cả nhóm ra khỏi chuồng. Nếu thường không có con đầu đàng, thì con đứng cạnh cửa chuồng sẽ đi ra trước. Nếu không tất cả mọi con đều tranh nhau để ra trước.
Điều đó có nghĩa là ý nghĩ của ta trước giờ lâm chung sẽ tạo sức đẩy cho luân hồi, tái sinh. Điều đó không có nghĩa là tất cả các nghiệp quá khứ đều đã hoại diệt, mà chỉ là hoàn cảnh tái sinh của ta bị ảnh hưởng. Nghiệp căn nào mạnh nhất, nặng nề nhất chắc chắn sẽ hiện lên lúc đó và dẫn ta theo nó. Nếu không có, thì các suy nghĩ ta thường có sẽ hiện ra trong tâm ta. Nếu ta thường nghĩ về lòng từ bi, thì điều đó sẽ là những ý nghĩ cuối cùng của ta. Nếu ta không hay suy nghĩ về điều gì rõ ràng, thì điều gì xảy ra cận kề cánh cửa tử thần sẽ hiện ra trong tâm ta. Thính giác là giác quan cuối cùng ra đi. Vì thế muốn giúp đỡ người đang hấp hối, ta nên nói với họ về những hành động tốt họ đã làm. Những điều tốt đẹp đó có thể dẫn dắt họ đến một sự tái sinh tốt đẹp hơn. Không có những điều như thế, thì tất cả tư tưởng đều hiện lên lộn xộn, và bất cứ điều gì cũng có thể xảy ra. May nhờ, rủi chịu.
Tất cả chúng ta đều phải trải qua giờ phút hấp hối, thì tại sao ta không sửa soạn cho chúng. Ta cần phải chuẩn bị cho giây phút ấy. Sửa soạn cho sự ra đi của mình bằng cách tập luyện để có những thói quen suy nghĩ một cách khôn ngoan. Thì ta sẽ được tái sinh một cách khôn ngoan. Khi ta giữ năm giới luật, không có thói quen phạm giới, ta sẽ được sanh trở lại làm người. Phần đông chúng ta có những giây phút lơ là, không giữ năm giới, nhưng tạo ra thói quen phạm giới sẽ làm cho việc tái sinh trở lại kiếp người rất khó khăn.
Có chuyện kể rằng một hôm Đức Phật đi với các đệ tử của Ngài dọc bờ biển, và Ngài nói với họ: "Nầy các đệ tử, nếu có con rùa mù bơi qua các biển của vũ trụ và một khúc gổ trôi. Chú ruà mù chỉ trồi lên thở không khí mỗi một trăm năm, các đệ tử có nghĩ là chú rùa có thể đụng đầu vào khúc gổ không?" Các đệ tử trả lời: "Không thể nào, thưa Ngài. Chúng không thể nào ở cùng một chỗ trong một khỏang thời gian, nếu như chúng cùng lội quanh các biển vũ trụ". Đức Phật nói: "Không. Không phải là không thể nào. Mà là không có thể". Rồi Đức Phật tiếp: “Cũng thế cơ hội để được tái sinh làm người cũng khó khăn như thế.” Điều đó đáng cho chúng ta suy nghĩ xem cần phải làm gì khi ta đã may mắn được sinh trở lại làm người. Nếu không, ta khó có thể trở lại làm người.
Chúng ta không chỉ được tái sinh làm người -là một điều quá may mắn- nhưng chúng ta lại có đầy đủ tay chân, các giác quan. Ta có đủ thức ăn để sống, sức khỏe đủ tốt để toạ thiền. Chúng ta cũng rất may mắn được biết Pháp. Có thể nói là chúng ta được ở trên đỉnh cao so với nhiều người khác, nếu không coi đó là một đặc quyền thì ta khó có thể hiểu thế nào là làm chủ nghiệp của mình. Đó không chỉ là một cơ hội, một thuận lợi cho chúng ta mà còn là một bổn phận nữa. Chúng ta phải sử dụng kiếp tái sinh nầy sao cho hữu ích.
Cũng cần phải nói thêm rằng: chúng ta đang tái sinh từng giây phút. Rất ít người có đủ chánh niệm hay chủ tâm để cảm nhận điều đó. Nhưng ta có thể nhận ra ta được tái sinh mỗi buổi sáng. Điều đó không khó khăn gì. Ngày đã qua, đêm tới. Thân tâm ta ‘chết’ mệt, ta ngủ thiếp đi. Vào buổi sáng ta có cảm giác hồi sinh khi thức giấc. Ta trở nên nhẹ nhàng trở lại. Thân tâm lại tươi mát, trẻ trung, ta lại có một ngày trước mặt để sử dụng sao cho tốt nhất, giống như nó là một cuộc đời mới. Hãy tập nhìn mỗi buổi sáng như một sự hồi sinh, thì ta có thể hiểu chỉ có một ngày này hiện hữu. Ta cũng có thể tạo ra thói quen sử dụng mỗi ngày tối đa cho sự tăng trưởng -phát triển về tinh thần, tâm linh, tình cảm. Không có nghĩa là lăng xăng làm thật nhiều việc vào.
Sự tái sinh được nhìn dưới khía cạnh đó thì ích lợi hơn là nghĩ đến kiếp sau. Việc gì sẽ xảy ra cho chúng ta ở kiếp sau, hoàn toàn tùy thuộc vào những gì ta đang làm bây giờ, vì thế chỉ có ‘hiện tại’ mới quan trọng. ‘Hiện tại’ là nhân, kiếp sau là quả. Nó cũng quan trọng hơn là ngồi suy nghĩ xem mình đã làm gì trong kiếp trước. Điều đó đã qua rồi. Việc ta không thể nhớ những kiếp sống trước cũng là một điều tốt. Ta đã đau khổ đủ trong cuộc sống nầy, làm sống lại làm gì những nỗiđau cũ trong tiền kiếp. Một tâm hồn vẫn còn đau khổ với những bất như ý trong cuộc đời nầy, làm sao có đủ sức chịu đựng những nỗi đau khổ gấp đôi.
Sự hồi sinh mỗi buổi sáng cũng đủ để mang đến cho ta cảm giác thúc bách, một yếu tố không thể thiếu trong cuộc sống tâm linh. Tính cấp bách phát sinh khi ta nhận biết được sự đau khổ thực sự. Tính cấp bách bắt ta phải bắt tay ngay vào cuộc, và không thể chờ đợi nửa.
Trích:
Vô Ngã, Vô Ưu
Tác giả: Ni sư Ayya Khema
Dịch giả: Diệu Liên Lý Thu Linh

Xem nguồn bài viết ở đây