S.N. Goenka
---o0o---
Nguồn
http://thuvienhoasen.org
Chuyển sang ebook 29-7-2009
Người thực hiện : Nam Thiên – namthien@gmail.com
Link Audio Tại Website http://www.phatphaponline.org
Mọi người đều tìm kiếm an lạc và hài hòa bởi vì đây là điều chúng ta thiếu
trong cuộc sống. Đôi khi chúng ta cảm thấy bứt rứt, bực bội, không yên. Và khi
bị những nỗi khổ này hành hạ, chúng ta không giữ riêng cho mình mà thường trút
đổ sang người khác. Sự buồn phiền nhiễm vào không khí xung quanh những người
đang bị đau khổ. Những ai tiếp xúc với những người này đều bị ảnh hưởng lây.
Chắc chắn đây không phải là cách sống khôn khéo. Chúng ta nên sống an lạc với
chính mình và an lạc với người khác. Tóm lại, con người là những sinh vật sống
hợp quần, tạo thành xã hội và phải giao tiếp với nhau. Nhưng làm sao chúng ta
có thể sống an lạc được? Làm sao có thể duy trì được hài hòa nội tâm, duy trì
được sự an lạc, hài hòa xung quanh chúng ta để người khác cũng được sống an lạc
và hài hòa?
Để thoát khỏi khổ đau, chúng ta phải biết nguyên nhân căn bản, nguồn gốc của
khổ đau. Nếu chúng ta tìm hiểu vấn đề này, nó trở nên rõ ràng rằng, mỗi khi
trong tâm có những phiền não, bất tịnh, chúng ta trở nên không vui.
Phiền não trong tâm, một sự xấu, bất tịnh tinh thần không thể tồn tại chung với
an lạc, hài hòa được. Chúng ta khởi sự tạo ra phiền não bằng cách nào? Một lần
nữa nếu tìm hiểu chúng ta sẽ thấy rõ. Chúng ta trở nên không vui khi thấy ai
hành xử theo lối chúng ta không thích, hoặc ta thấy những gì xẩy ra mà ta không
muốn. Những điều trái ý xẩy ra và chúng ta tạo căng thẳng trong tâm. Những cái
chúng ta muốn mà không được vì vài trở ngại nào đó và ta trở nên căng thẳng,
tạo thành những gút mắc. Và trong suốt cuộc đời, những điều chúng ta muốn có
thể hoặc không thể đạt được, những lối phản ứng bằng cách tạo ra gút mắc làm
cho toàn bộ tinh thần và thể xác căng thẳng, đầy phiền não khiến cho cuộc đời
trở nên đau khổ.
Bây giờ, một cách để giải quyết vấn đề này là dàn xếp để trong cuộc đời không
có điều gì trái ý xẩy ra, để mọi điều đều xẩy ra theo ý mình. Một là chúng ta
phải có quyền phép nào đó hoặc ai cho chúng ta quyền phép này, để những điều
trái ý không xẩy ra và mọi cái chúng ta muốn đều đạt được. Nhưng điều này không
bao giờ có thể được. Không một ai trên cõi đời này đạt được mọi mong ước, mọi
việc đều xẩy ra theo ý mình mà không có gì trái ý xẩy ra. Sự việc tiếp tục xẩy
ra trái với sự mong muốn và ước nguyện.
Do đó, câu hỏi được đặt ra là: Làm sao chúng ta ngừng phản ứng mù quáng khi gặp
những điều không hài lòng? Làm thế nào để chúng ta ngừng tạo ra căng thẳng và
giữ được an lạc và hài hòa?
Tại Ấn độ cũng như tại các nuớc khác, những thánh nhân trong quá khứ đã nghiên
cứu vấn đề này — vấn đề đau khổ của con người — để tìm ra giải pháp. Nếu điều
gì trái ý xẩy ra và chúng ta phản ứng bằng sự tức giận, bằng sợ hãi, hoặc bằng
những bất tịnh khác, thì ta lập tức chuyển sự chú tâm vào cái gì khác. Ví dụ
như: đứng dậy lấy một ly nước uống, sự tức giận của ta sẽ dịu bớt. Hoặc ta bắt
đầu đếm một, hai, ba, bốn. Hoặc bắt đầu lập lại một câu hoặc lời chú hoặc tên
của một vị thần linh mà ta tôn sùng, tâm ta sẽ chuyển hướng và ta sẽ bớt được
phần nào phiền não, sẽ nguôi bớt giận.
Giải pháp này hữu ích và luôn luôn công hiệu. Giải quyết bằng cách này, tâm ta
sẽ bớt bứt rứt. Tuy nhiên giải pháp này chỉ công hiệu ở phần nhận thức. Trên
thực tế, bằng cách chuyển sự chú tâm, ta đẩy phiền não sâu vào trong vô thức,
và ta vẫn gia tăng gấp bội những phiền não đó. Ngoài mặt có vẻ có an lạc, hài
hòa, nhưng trong đáy lòng vẫn còn một núi lửa bị đồn ép đang ngủ yên và sẽ bùng
nổ dữ dội không biết lúc nào.
Có những vị khác nghiên cứu sự thật về nội tâm đã tìm hiểu sâu rộng hơn, và
bằng cách trực nghiệm sự thật về tâm và thân ngay trong chính họ, nhận ra rằng,
chuyển sự chú tâm chỉ là sự tránh né vấn đề. Tránh né không giải quyết được gì
cả. Quý vị phải nhìn thẳng vào vào vấn đề. Khi nào phiền não nổi lên trong tâm,
cứ quan sát nó, đối diện với nó. Ngay sau khi quý vị khởi sự quan sát, phiền
não sẽ giảm cuờng độ và từ từ biến mất.
Giải pháp này rất tốt vì tránh được những cực đoan: không dồn nén cũng không
buông thả. Vùi sâu sự phiền não trong vô thức sẽ không loại trừ đuợc nó, và để
nó tung hoành bằng những việc làm hoặc lời nói bất thiện chỉ tạo thêm rắc rối.
Nhưng nếu quý vị chỉ quan sát thì phiền não sẽ mất đi, và quý vị sẽ loại trừ
được nó.
Điều này nghe rất hay, nhưng trên thực tế có thực hiện được không? Đối phó với
cái xấu của chính mình không phải là dễ. Khi sân hận nổi lên, lập tức chúng ta
bị chế ngự khiến chúng ta không thể nhận ra được. Rồi mù quáng vì sân hận,
chúng ta có những hành động và lời nói làm hại chính ta và người khác. Sau đó,
khi đã nguôi giận, chúng ta khóc lóc, hối hận, cầu xin được tha thứ của người
này, người nọ, hoặc các vị thần linh: “Ôi tôi đã tạo nên lỗi lầm, xin tha thứ
cho tôi.” Nhưng rồi lần tới, chúng ta lại rơi vào tình trạng tương tự và cũng hành
xử y như thế. Hối lỗi kiểu này không mang lại ích lợi gì cả.
Sự khó khăn là chúng ta không biết khi nào phiền não bắt đầu. Nó khởi sự trong
vô thức và khi đã lên đến tầng nhận thức nó đã có đủ sức mạnh chế ngự chúng ta
khiến chúng ta không thể quan sát nó được.
Giả thử tôi mướn một thư ký riêng để khi nào sân hận nổi lên, người thư ký nói
với tôi: “Coi kìa, sân hận đã bắt đầu”. Bởi vì tôi không biết khi nào sân hận
xẩy ra, tôi phải mướn đủ thư ký cho ba ca. Nếu tôi có khả năng làm thư thế, và
khi sân hận nổi lên lập tức người thư ký báo cho tôi: “Coi kìa sân hận đã bắt
đầu”. Việc đầu tiên tôi làm là mắng người thư ký: “Đồ ngốc, bộ tưởng tôi trả
tiền để dậy bảo tôi hả?” Tôi đã bị sự sân hận chi phối nên sự khuyên bảo không
giúp ích gì được.
Giả thử tôi vẫn còn đủ trí khôn và không la mắng người thư ký. Trái lại, tôi
còn nói: “Cám ơn nhiều. Bây giờ tôi phải ngồi xuống để quan sát sự sân hận của
tôi”. Ngay sau khi tôi nhắm mắt để quan sát, căn nguyên gây ra sân hận hiện ra
trong đầu: Người hoặc sự việc gây ra sự sân hận này. Nhưng lúc đó tôi không
quan sát sự sân hận mà chỉ quan sát căn nguyên gây ra sân hận.Điều này chỉ làm
cho sân hận gia tăng và không giải quyết được gì cả. Thật khó khăn khi quan sát
phiền não hoặc cảm xúc trừu tượng và tách riêng được những căn nguyên bên ngoài
gây ra chúng.
Tuy nhiên, một người đã giác ngộ đã tìm ra một giải pháp thiết thực. Vị đó khám
phá ra rằng khi nào có phiền não trong tâm, về sinh lý có hai việc xẩy ra cùng
một lúc: một là hơi thở mất nhịp điệu bình thường.
Chúng ta bắt đầu thở mạnh hơn khi phiền não đến trong tâm. Ở mực độ tinh vi
hơn, các phản ứng sinh hóa bắt đầu tạo ra những cảm giác. Mọi phiền não đều tạo
ra cảm giác này hay cảm giác khác trong cơ thể.
Điều này đưa đến một giải pháp thiết thực. Một người bình thường không thể quan
sát được những phiền não trừu tượng trong tâm như sợ hãi, sân hận, si mê. Nhưng
với sự hướng dẫn và tập luyện đúng cách thì rất dễ quan sát sự hô hấp và cảm
giác, hai cái liên quan trực tiếp với những phiền não trong tâm.
Sự hô hấp và cảm giác sẽ giúp ta hai cách. Thứ nhất, nó giống như người thư ký
riêng. Ngay khi phiền não nổi lên trong tâm, hơi thở sẽ mất bình thường. Nó sẽ
báo động: “Coi kìa, có cái gì không ổn”. Vì chúng ta không thể la mắng hơi thở,
chúng ta phải chấp nhận sự cảnh cáo của nó. Tương tự, cảm giác sẽ cho chúng ta
biết có gì không ổn. Khi được cảnh giác, chúng ta có thể bắt đầu quan sát sự hô
hấp, bắt đầu quan sát cảm giác, và rất nhanh chóng chúng ta thấy sự phiền não
mất đi.
Hiện tượng này giống như hai mặt của đồng tiền kên. Một là ý nghĩ, cảm xúc hiện
ra trong tâm, mặt kia là hơi thở và cảm giác trên thân. Bất cứ ý tưởng, xúc
động nào, bất cứ phiền não nào trong tâm đều thể hiện bằng hơi thở và cảm giác
ngay lúc đó. Do đó, bằng cách quan sát sự hô hấp hoặc cảm giác, chúng ta thực
sự quan sát phiền não trong tâm. Thay vì tránh né vấn đề, chúng ta phải trực
diện với thực tế hiện hữu. Kết quả ta thấy rằng, phiền não mất đi sức mạnh,
chúng không còn trấn áp được ta như trong quá khứ. Nếu ta kiên trì, chúng sẽ
hoàn toàn biến mất và ta bắt đầu sống an lạc, một cuộc sống ngày càng ít những
điều xấu.
Bằng cách này, phương pháp tự quan sát cho chúng ta thấy thực tế ở hai trạng
thái: bên trong và bên ngoài. Trước đây, chúng ta chi nhìn bên ngoài mà quên đi
sự thật bên trong. Chúng ta luôn luôn tìm kiếm ngoài ta về nguyên nhân của
những bất hạnh. Chúng ta luôn luôn đổ lỗi và cố thay đổi sự thật bên ngoài. Vô
minh về sự thật bên trong, chúng ta không bao giờ hiểu rằng nguồn gốc của sự
đau khổ nằm trong ta, nằm ngay trong những phản ứng mù quáng đối với những cảm
giác dễ chịu hoặc khó chịu.
Bây giờ, với sự tập luyện, chúng ta có thể thấy được mặt kia của đồng bạc.
Chúng ta có thể có ý thức về hơi thở của mình cũng như những gì xẩy ra trong
người. Dù là hơi thở hay cảm giác, chúng ta biết cách chỉ quan sát mà không mất
bình tâm. Chúng ta ngừng phản ứng, ngừng gia tăng sự đau khổ của mình. Trái
lại, chúng để cho phiền não thể hiện rồi mất đi.
Càng thực tập phương pháp này, những phiền não càng ngày càng mất đi nhanh chóng
hơn. Dần dần tâm ta hết những bất tịnh và trở nên trong sạch. Một tâm thanh
tịnh lúc nào cũng tràn đầy tình thương không vị kỷ đối với mọi người, đầy lòng
từ bi về những đau khổ, những thất bại của người khác, đầy mừng vui vì sự thành
công, an lạc của người, đầy bình tâm trong mọi hoàn cảnh.
Khi đạt được trình độ này, mọi thói quen trong đời ta đều thay đổi. Không thể
nào có thể có những lời nói hoặc hành động phá rối sự an lạc và hạnh phúc của
người khác. Trái lại, một tâm quân bình không những chỉ trở nên an lạc mà bầu
không khí chung quanh cũng nhuốm đầy an lạc và hài hòa.
Điều này sẽ bắt đầu ảnh hưởng đến người khác, giúp ích cho họ luôn. Bằng cách
giữ được bình tâm với mọi cảm xúc trong người, ta tìm được cách tách rời những
gì ta gặp bên ngoài ta luôn. Tuy nhiên sự thoát ly không phải là cách tránh né
hoặc thờ ơ với những khó khăn của cuộc đời. Những người thực tập thiền
Vipassana thường trở nên nhạy cảm đối với những khổ đau của người khác và làm
hết khả năng mình để xoa dịu những khổ đau này, không phải vì bắt buộc, mà với
đầy từ, bi và bình tâm Họ biết cách có được sự vô tư thánh thiện, học được cách
tham gia hết lòng, tham dự nhiệt thành trong việc giúp đỡ người khác, cùng một
lúc duy trì được sự bình tâm.
Bằng cách này, họ giữ được an lạc và hạnh phúc, đồng thời tạo nên an lạc và
hạnh phúc chongười khác. Đây là những gì Đức Phật giảng dậy: Một Nghệ Thuật
Sống. Ngài không dậy cho họ những giáo điều, những hình thức nghi lễ rỗng
tuếch. Ngài chỉ dậy cho họ quan sát thiên nhiên hiện hữu bằng cách quan sát
thực trạng nội tâm. Vì vô minh nên chúng ta cứ hành xử theo lối có hại cho mình
và cho người. Nhưng khi đã có trí tuệ - trí tuệ của sự quan sát sự thật đúng
như thật — thói quen phản ứng này mất đi. Khi chúng ta ngừng phản ứng mù quáng,
chúng ta có khả năng hành xử một cách vô tư với sự bình tâm, một cái tâm thấy
và hiểu được chân lý. Lối hành xử như vậy chỉ có thể tích cực, đầy sáng tạo có
lợi cho mình và cho người.
Như vậy điều cần thiết là “Biết Mình”, lời khuyên của mọi thánh nhân. Chúng ta
phải hiểu chính mình không phải chỉ bằng sách vở, bằng lý thuyết, không phải
chỉ bằng cảm xúc, hoặc lòng tin, chỉ chấp nhận một cách mù quáng những gì chúng
ta nghe và học được. Sự hiểu biết như vậy không đủ.
Tốt hơn hết, chúng ta phải hiểu đươc thực thể của hiện tượng tâm và thân này.
Chỉ riêng điều này sẽ giúp chúng ta giải thoát khỏi đau khổ.
Sự trực nghiệm nội tâm của chính mình, phương pháp tự quan sát này được gọi là
thiền Vipassana. Theo ngôn ngữ Ấn dộ vào thời của Đức Phật, passana có nghĩa là
thấy một cách bình thường với con mắt mở rộng. Nhưng vipassana là quan sát sự
thật đúng như thật chứ không phải tưởng như thật. Sự thật hiển nhiên phải được
xuyên thủng cho tới khi ta đạt được sự thật tối hậu của toàn thể cấu trúc tâm
lý - vật lý. Khi đã chứng nghiệm được sự thật này, chúng ta sẽ biết cách ngừng
phản ứng mù quáng, ngừng tạo ra phiền não mới và những phiền não cũ sẽ từ từ
mất đi một cách tự nhiên. Chúng ta sẽ hết khổ và hưởng đưọc hạnh phúc thật sự.
Trong một khóa thiền, sự tu tập gổm có ba phần. Đầu tiên ta phải tránh những
hành động bằng lời nói hoặc việc làm quấy rối sự an lạc và hài hòa của người
khác. Ta không thể tu tập để giải thoát khỏi những bất tịnh trong khi có những
hành động và lời nói làm gia tăng những bất tịnh này. Do đó, giới luật là điều
tối cần trong bước đầu của sự tu tập. Ta thực hành không sát sinh, không trộm
cắp, không tà dâm, không nói dối, không sửdụng rượu. Bằng cách tránh khỏi những
hành động này, ta làm cho tâm đủ tĩnh lặng để tiến xa hơn.
Phần kế tiếp là tu tập làm chủ được cái tâm vọng động bằng cách chú tâm vào một
đối tượng: đó là hơi thở. Ta cố gắng giữ được sự chú tâm vào sự hô hấp càng lâu
càng tốt. Đây không phải là sự tập luyện về hơi thở, ta không điều khiển hơi
thở. Trái lại ta quan sát sự hô hấp bình thường, lúc ra, lúc vào. Bằng cách
này, ta làm cho tâm được yên tĩnh, để nó không bị những phiền não chi phối.
Cùng một lúc ta định được tâm, làm cho tâm đủ bén nhậy và sâu sắc để đưa đến
tuệ giác.
Hai phần đầu này, sống có đạo đức và làm chủ được tâm rất cần thiết nhưng chúng
chỉ đưa đến sự dồn nén những phiền não nếu chúng ta không tập phần thứ ba, đó
là thanh lọc tâm hết những phiền no bằng cách phát triển huệ nhãn vào chính bản
thân mình. Đây là Vipassana: Chứng nghiệm sự thật về bản thân bằng cách quan
sát trong ta một cách vô tư, có phương pháp những hiện tượng thay đổi không
ngừng của thân và tâm thể hiện qua cảm giác.
Đây là tổng hợp những lời dậy của Đức Phật: tự thanh lọc tâm bằng tự quan sát.
Mọi người ai cũng có thể tu tập được. Mọi người đều phải đương đầu với khổ đau.
Đây là bệnh chung của con người và cần phải có thuốc chữa chung, không riêng
cho ng ười nào. Khi ta đau khổ vì sân hận, nó không phải sân hận của Phật giáo,
hoặc sân hận của Ấn độ giáo, hoặc sân hận của Thiên chúa giáo. Sân hận là sân
hận. Khi ta bị giao động vì giận giữ, sự giao động này không phải riêng của
người theo Thiên chúa giáo, hoặc Do thái giáo hoặc Hồi giáo. Bệnh này là bệnh
chung của nhân loại. Thuốc chữa phải chữa được cho mọi người. Vipassana là loại
thưốc này. Không ai phản đối lối sống tôn trọng an lạc và hài hòa của người
khác. Không ai phản đối việc làm chủ được tâm mình. Không ai phản đối sự phát
triển tuệ giác vào chính bản thân mình để có thể giải thoát tâm mình khỏi những
phiền não. Vipassana là đường lối chung cho mọi người.
Quan sát thực thể bằng cách quan sát sự thật nội tâm — đây là biết mình trực
tiếp và bằng trực nghiệm. Càng thực tập ta càng thoát được đau khổ vì tâm phiền
não. Từ một sự thật sơ đẳng, ngoại vi, giả thực, ta xuyên thấu tới sự thật tối
hậu về tâm và thân. Khi vượt qua được giai đoạn này, ta chứng nghiệm được sự
thật bên kia tâm và thân, vượt thời gian và không gian, vượt môi trường tương
đối: chân lý về sự giải thoát hoàn toàn khỏi phiền não, bất tịnh và khổ đau.
Bất cứ danh từ nào ta gán cho sự thật tối hậu này đều không thành vấn đề; đó là
mục tiêu cuối cùng của con người.
Chúc Quý vị chứng nghiệm được sự thật tối hậu này. Chúc mọi người được giải
thoát khỏi khổ đau. Chúc mọi người hưởng được an lạc thật sự, hài hòa thật sự,
hạnh phúc thật sự.
---o0o---
NGUYỆN CHO MỌI CHÚNG SINH ĐƯỢC HẠNH PHÚC
Bài trên đây dựa trên buổi nói chuyện trước công chúng của Thiền sư S.N. Goenka
tại Berne, Thụy sĩ vào năm 1980.
S. N.Goenka là một thiền sư về thiền Vipassana theo truyền thống của Sayagyi U
Ba Khin tại Miến điện. Mặc dầu là người Ấn độ, Thiền sư Goenka sinh trưởng và
lớn lên tại Miến điện. Trong khi sống tại Miến điện, Thiền sư may mắn được gặp
U Ba Khin và được truyền thụ phương pháp thiền Vipassana. Sau mười bốn năm tu
tập với sư phụ, Thiền sư Goenka trở về sinh sống tại Ấn độ và bắt đầu giảng dậy
Vipassana vào năm 1969. Tại một quốc gia bị chia rẽ bởi nhiều giai cấp và tôn
giáo, những khóa thiền do Thiền sư Goenka giảng dậy đã lôi cuốn được nhiều
người thuộc mọi thành phần trong xã hội. Thêm vào đó, hàng ngàn người từ nhiều
quốc gia trên thế giới đã tới tham dự những khóa thiền Vipassana.
Thiền sư Goenka đã truyền dậy cho hàng ngàn người trong hơn 400 khóa thiền-mười
ngày tại Ấn độ và tại những quốc gia khác, cả ở Đông phương lẫn Tây phương. Năm
1982, Thiền sư bắt đầu bổ nhiệm những Thiền sư Phụ tá để giúp Ngài đáp ứng nhu
cầu thêm khóa thiền ngày một gia tăng. Hơn 70 trung tâm thiền đã dược thành lập
dưới sự hướng dẫn của Thiền sư tại Ấn độ, Nepal, Tích lan, Miến điện, Thái lan,
Cam bốt, Đài loan, Mông cổ, Nhật bản, Úc đại lợi, Tân tây lan, Tây ban nha,
Pháp, Ý, Bỉ, Đức, Thũy sĩ, Anh, Mỹ, và nhiều khóa thiền được giảng dậy thường
xuyên tại nhiều quốc gia trên thế giới.
Phương pháp do Thiền sư Goenka giảng dậy tượng trưng cho một truyền thống có từ
thời của Đức Phật. Đức Phật không bao giờ giảng dậy một tôn giáo riêng biệt;
Ngài giảng dậy Dhamma (Pháp) - đường lối giải thoát – là đường lối chung cho
mọi người. Với cùng truyền thống, phương pháp của Thiền sư Goenka hoàn toàn
không tông phái. Vì lý do này, sự giảng dậy của Thiền sư thích hợp với mọi
người thuộc mọi thành phần, mọi tôn giáo hoặc không thuộc tôn giáo nào, ở mọi
trên thế giới.
Người dịch và gửi bài: Đinh Văn Thao
---o0o---
HẾT
Xem nguồn của bài viết tại đây
Xem thời khóa biểu các khóa thiền Vipassana HOÀN TOÀN MIỄN PHÍ trên toàn thế
giới tại các trung tâm thiền của Ngài S.N Goenka tại đây
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét