Một thời, Thế Tôn ở
Magadha, tại làng Ekanàlà. Lúc bấy giờ là thời gian gieo mạ, Bà la môn Kasi
Bhàradvàja sắp đặt khoảng năm trăm lưỡi cày, đang phân phát đồ ăn cho nhân công
thì Thế Tôn đi đến. Bà la môn Kasi Bhàradvàja thấy Thế Tôn đang đứng khất thực, thấy vậy liền nói: Này Sa
môn, tôi cày và gieo mạ, sau khi cày và gieo mạ, tôi ăn. Còn ông, ông có cày và
gieo mạ không, nếu không thì lấy gì ông ăn?
Này Bà la môn, Ta cũng có cày và gieo mạ, sau khi
cày và gieo mạ, Ta ăn.
Nhưng chúng tôi không hề thấy cái ách, cái cày, cái
lưỡi cày, cây gậy hay các con bò của ông. Ông nói là nông phu nhưng không hề thấy
ông cày cấy. Hãy nói cho chúng tôi biết là ông thực sự có cày cấy.
Này Bà la môn: Lòng tin là hạt giống, khổ hạnh là
mưa móc, trí tuệ đối với ta là cày và ách mang, tàm quý là cán cày, ý căn là
dây cột, chánh niệm đối với ta là lưỡi cày, gậy đâm… đưa ta tiến dần đến, an ổn
khỏi ách nạn, đi đến không trở lui, chỗ ta đi không sầu. Như vậy cày ruộng này,
đưa đến quả bất tử, sau khi cày ruộng này, mọi đau khổ được thoát.
(ĐTKVN, Tương Ưng Bộ I, chương 7, phẩm Cư sĩ, phần
Cày ruộng, VNCPHVN ấn hành, 1993, tr. 377)
LỜI BÀN:
Không phải ngày nay mà từ thời Thế Tôn tại thế, đời
sống thánh thiện, cao cả của người xuất gia chưa hẳn được đại đa số dân chúng
hiểu rõ để tán thán và tôn vinh. Thảng hoặc đây đó vẫn phảng phất những quan điểm
lệch lạc rằng tu sĩ là những thành phần lười biếng lao động, ăn bám và là gánh
nặng của xã hội. Quan niệm thiển cận của Bà la môn Kasi Bhàradvàja là một điển
hình.
Thế Tôn đã khẳng định rõ lập trường rằng Ngài và những
đệ tử xuất gia của Ngài là những người lao động chân chính. Thành quả lao động
của Thế Tôn là hoàn thiện tự thân, giải thoát giác ngộ đã ảnh hưởng tích cực đến
xã hội, góp phần hướng thiện giúp ổn định và phát triển xã hội.
Tuy không cày ruộng và gieo mạ nhưng Ngài vẫn là một
nông phu thực thụ vì đã cày xới đất tâm, gieo trồng hạt giống Thánh nhân và gặt
hái được hoa trái giải thoát. Vì thế, dâng cúng vật thực cho Thế Tôn và những đệ
tử giới đức, đạo hạnh là nghĩa vụ đồng thời là phương thức vun bồi, nâng cao
phước báo tự thân của hàng Phật tử. Tuy nhiên, hàng đệ tử xuất gia nếu không
hoàn thiện sứ mạng của mình thì rõ ràng không xứng đáng và không có quyền thọ
nhận bất cứ sự dâng cúng nào.
Ngày nay, khi người xuất gia ngày một đông, sự dâng
cúng của tín đồ ngày càng hậu hĩ thì trách nhiệm của chư Tăng lại càng nặng nề
thêm. Pháp thoại giữa Thế Tôn và Bà la môn Kasi Bhàradvàja vẫn còn nóng hổi
tính thời sự, là bài học quý báu để Tăng tín đồ Phật tử suy gẫm nhằm sống và tu
tập ngày một tinh tấn hơn.
ST
ST
Đức Phật vun xới ruộng tâm
Trả lờiXóaVào độ thu, khi lúa chín rộ, những cánh đồng bát ngát như một tấm thảm vàng hoe. Nông dân đây đó tụ tập chúc mừng nhau một vụ mùa thắng lợi, và trời đất cũng hòa nhịp trong bầu không khí tràn ngập niềm hạnh phúc ấy. Khi đức Phật đến nông trang nọ, rất nhiều người cung kính cúng dường Ngài, riêng có một anh nông phu vốn tính tình cố chấp cáu gắt với Ngài. Anh ta giận dữ nói:
Hằng ngày chúng tôi phải vất vả cày bới vun trồng, gian khổ lắm mới có thu hoạch như ngày hôm nay. Sao Ngài không bắt chước làm như chúng tôi?
Này trưởng giả! Như lai cũng có cày cấy trồng trọt đấy chứ! Anh là nông phu phải không? Trâu, hạt giống và ruộng đất là những thứ cần thiết của nhà nông? Như lai cũng có các thứ ấy, đất tâm của chúng sanh chính là thửa ruộng, Bát chánh đạo là hạt giống và tinh tấn chính là trâu cày. Ngài giải thích thêm:
Như lai gieo vào lòng mọi người hạt giống Bát chánh đạo rồi hết lòng vun xới, giúp mọi người nhổ sạch cỏ tham, sân, si trong tâm, khiến ai nấy đều được nhổ sạch gốc cỏ phiền não, đạt được hạnh phúc chân thật.
Người nông phu kia nghe xong thấu hiểu hết mọi lẽ và lập tức sám hối đức Phật, đồng thời hết lòng cung kính dâng lên Ngài thứ cơm sữa thượng hạng nhất. Anh ta thành kính thưa:
Kính đức Thế tôn! Xin Người từ bi thâu nhận cho con món cúng dường nhỏ mọn này. Ngài đã vun xới mảnh đất tâm và gieo trồng cho con hạt giống hiền thiện, con tin rằng mình sẽ gặt hái được hạnh phúc.