Trả lời: Họ đâu có quỡn
đâu mà chửi lại. Khi bị chửi, họ bận quán sát thân tâm họ rồi. Đây gọi là hành
trì miên mật hoặc gọi là hạnh Nhẫn Nhục. Họ nhẫn nhục không phải vì họ hổng
chấp, không phải vì họ cho qua, không phải vì họ không thèm để ý, mà hạnh nhẫn
nhục nghĩa là hành trì miên mật, nghĩa là lúc nào cũng quán sát thân tâm. Vậy
thì đâu có quỡn mà chửi lại khi bị người ta chửi đâu.
Khi hoà làm một với Chân Lý thì khi ấy chính là Vô Tu Vô Chứng Vô Đắc Vô Cầu Vô Sợ. Mọi phải trái đúng sai chánh tà đen trắng đều là Chân Lý vì tất cả đều đi theo quỹ đạo của Nhân Quả.
Thứ Năm, 20 tháng 7, 2017
Thứ Ba, 18 tháng 7, 2017
Bát Nhã Tâm Kinh
Nguyên bài Bát Nhã Tâm Kinh dài thòng, không cần phân tích,
không cần hiểu, không cần học thuộc làm cái gì đâu, chỉ cần chú trọng và thực
hành những chữ đầu thôi. Đó là “Quán Tự Tại Bồ Tát”
Quán là một động từ.
Tự tại là đối tượng của động từ quán.
Bồ tát nghĩa là tất cả các hành giả đang làm hành động “Quán”
Quán Tự tại Bồ tát nghĩa là Ưng Vô Sở Trụ. Ưng Vô Sở Trụ
nghĩa là không dừng lại, không dính chấp, không ghim vào tàng thức bất cứ tâm
sở nào. Làm được điều này không có dễ. Về mặt thô thì dễ, chứ về mặt vi tế thì
cực kỳ khó.
Khi đã Ưng Vô Sở Trụ thì Nhi Sanh Kỳ Tâm là
điều tất nhiên. Nhi Sanh Kỳ Tâm nghĩa là Sau khi Quán Tự Tại Bồ Tát rồi thì mới
Hành Thâm (vào được) Bát Nhã (trí tuệ) Ba La Mật Đa (tối thượng). Khi vào được
trí tuệ tối thượng rồi thì thấy ra (Chiếu Kiến) mọi thứ đều là không (Ngũ Uẩn
Giai Không). Nghĩa là thấy ra được sự Vô Ngã của Vạn Pháp. Hay nói cách khác là
Kiến Tánh, còn gọi là có Chánh Kiến, cũng có nghĩa là vào được Cửa Không, hoặc
thể nhập vào Tánh Không.
Thứ Sáu, 14 tháng 7, 2017
Hăm dọa
Ngày xưa người ta hay dùng “Ông Ba Bị” ra để hăm dọa con nít. Hoặc hăm đánh đập tụi nhỏ cho chừa thói nói không nghe lời.
Bây giờ một số người tu hay có chiêu hăm dọa đọa địa ngục Vô gián, hay là bị cái này cái nọ (tôi quên mất rồi).
Lấy bản thân mà tự suy thì tôi thấy là: Khi tôi hăm dọa người khác điều này điều nọ, nghĩa là tôi đang sợ. Sợ gì? Tôi cũng hổng biết sợ gì luôn. Nhưng vì sợ và không thích cái nỗi sợ gì đó hổng biết tên mà tôi muốn chối bỏ nó bằng cách đẩy qua cho người khác với chiêu Hăm dọa. Túm lại, mình hăm dọa người khác là vì mình YẾU (từ này là tôi ăn cắp của người khác) Yếu mà không biết mình yếu nên mới hăm dọa.
Các nhà khoa học chứng minh rồi nghen! Cha mẹ mà hăm dọa, chửi mắng hay đánh đập con cái là vì cha mẹ bất lực.
Thứ Năm, 13 tháng 7, 2017
Vì sao “Nhẫn Nhục là phép thiền của Chư Thánh”?
Nhẫn Nhục là phép thiền
của Chư Thánh hay nói khác hơn thì chỉ có Chư Thánh mới có thể hành được pháp
môn Nhẫn Nhục. Vì sao lại như vậy?
Vì Chư Thánh là người ít
nhất phải chứng Sơ Quả, hay còn gọi là bậc Nhập Lưu/ Nhập Dòng. Nói cách khác
là người đã Kiến Tánh hay đã có Chánh Kiến. Bậc Nhập Dòng là người đã thoát ra
khỏi Thân Kiến. Khi không còn Thân Kiến thì họ mới hành được pháp môn Nhẫn
Nhục. Vẫn còn Thân Kiến thì vẫn không thể Nhẫn Nhục mà chỉ có thể Nhẫn Nhịn.
Nhẫn Nhịn là phép tu của Phàm Phu, bởi vì đó chỉ là lấy đá đè cỏ, khi đủ duyên
thì sẽ bùng phát. Còn Nhẫn Nhục là phép tu của Chư Thánh. Bởi vì khi không còn
Thân Kiến, Hoài Nghi và Giới Cấm Thủ thì họ mới có thể hành Nhẫn Nhục hay nói
cách khác là mới có thể hành trì miên mật, công phu một khối như kim cương.
Thế nào là hành trì miên
mật? Hành trì miên mật nghĩa là “Hổng có thời gian quay ra ngoài để xem thiên
hạ mà tự quay vào để xem mình.” Khi
nào mà hành giả hành được “Hổng có thời gian quay ra ngoài để xem thiên hạ mà
tự quay vào để xem mình” thì khi ấy mới được gọi là Nhẫn Nhục.
Pháp môn Nhẫn Nhục hoàn
toàn khác với Thu Thúc Lục Căn. Vì sao lại khác biệt? Câu trả lời là: Chỉ có ai
hành được pháp môn Nhẫn Nhục thì mới có thể biết được sự khác biệt; nếu không
thì chỉ là Hý Luận.
Bất cứ người nào hành
được pháp môn Nhẫn Nhục thì họ không còn bị đọa vào các cảnh giới thấp như súc
sanh, địa ngục, ngạ quỷ.
Hành giả nào đã thoát
khỏi Thân Kiến, Hoài Nghi, Giới Cấm Thủ và hành pháp môn Nhẫn Nhục một thời
gian thì họ nhẹ gánh khỏi Sân Hận và Ái Dục. Lúc ấy họ bước vào giai đoạn thứ
hai của bậc Thánh, đó quả Tư Đà Hàm.
“Nhẫn Nhục là phép thiền
của Chư Thánh” là như vậy đó!
Nhãn:
Bài viết quan điểm riêng,
BUÔNG,
Hỏi - Đáp,
Nhẫn
Nhẫn Nhục
"Tự tin dựa vào sự bằng lòng với chính bản thân, khiến ta cảm thấy
tự tại. Không cần phải lấn lướt ai."
- Ni sư Ayya Khema
>>> Vì sao? "Vì sức
mạnh của kẻ ngu là áp đảo."
Tuy nhiên, người được gọi là kẻ ngu
thật ra chính là thiện tri thức. Vì nhờ sự áp đảo của họ mà chúng ta mới nhận
ra mình có sự nhẫn nhục hay không. Vì sao? Vì sức mạnh của kẻ ngu là áp đảo
nhưng sức mạnh của sa môn là nhẫn nhục. Nhẫn nhục không có nghĩa là nhịn. Bởi
vì nhịn là lấy đá đè cỏ, chờ cơ hội bùng phát. Nhẫn nhục chính là “Hổng có thời
gian quay ra ngoài để xem thiên hạ mà tự quay vào để xem mình mà thôi.” Đó là
lý do mà “nhẫn nhục” thường được dùng để làm thước đo của người tu.
Bài liên quan: Vì sao Nhẫn Nhục là phép thiền của Chư Thánh?
Bài liên quan: Vì sao Nhẫn Nhục là phép thiền của Chư Thánh?
Thứ Tư, 12 tháng 7, 2017
Làm sao để biết kinh nào là thật, kinh nào là giả?
Câu hỏi: Làm sao để biết kinh nào là thật, kinh nào là giả?
Trả lời: Đã là kinh thì hổng có cái gì thật hết trơn á! Chỉ
có cái gì mình tự thân trải qua thì cái đó mới là thật. Ví dụ: Ông Phật ổng mà
có nói: "Vạn pháp là khổ." Hay nói theo ngôn ngữ dân gian là
"Đời là bể khổ." Mà mình thì hổng thấy khổ gì hết thì câu ổng nói
cũng chỉ là tào lao bí đao. Không tin bất cứ điều gì cho dù người nói điều ấy
có là Phật toàn giác nếu tự thân mình chưa từng trải qua điều ấy. Bởi vậy mới
có câu: "Đến để mà thấy chứ không phải đến để mà tin." Túm lại, một
khi chưa trải qua thì hổng có kinh nào thật cả.
Thứ Ba, 11 tháng 7, 2017
Chấp tri kiến
Chấp tri kiến nghĩa là cho rằng cái thấy cái biết của mình là
số 1, những cái thấy cái biết khác là số 0, là sai lầm, là tà, chỉ có cái biết
của mình là chánh. Chính vì ai cũng cho rằng cái biết của mình là số 1 nên mới
xảy ra tranh luận, biện luận, thậm chí tranh cãi.
Có người chấp kiến đến mức cực đoan nên có những hành động
lời nói coi thường, xúc phạm, phỉ báng người có tri kiến khác mình. Và người bị
xúc phạm, phỉ báng sẽ nổi giận mà chửi bới lại. Cuối cùng hai người chửi nhau
và trở thành kẻ thù của nhau. Thù đến mức đi đâu cũng nói xấu, gặp ai cũng kể
xấu người kia. Chỉ cần nghe đến tên người kia thôi thì cũng đủ nổi giận lên rồi
hihihihi.
Có một vị đạo hữu nói: “Đâu đâu cũng là thiện tri thức.” Hay
nói cách khác: Người biết tu thì thấy ai cũng là thiện tri thức; người biết tu
thì không có kẻ thù, chỉ có thiện tri thức. Cho nên những người chấp tri kiến
đến mức cực đoan toàn là Bồ tát thị hiện chỉ bảo cho chúng ta một bài học đáng
giá. Đó là CHẤP THỦ. Nói cụ thể hơn thì đó là chấp thủ tri kiến. Khi nhìn sự chấp
thủ tri kiến được hiển thị đến mức cực đoan của họ thì chúng ta mới phát tâm
nhàm chán và kinh sợ sự chấp thủ tri kiến. Vì kinh sợ mà chúng ta cực kỳ cẩn
thận trong việc tu hành của mình để tránh rơi vào chấp tri kiến như họ.
Vì sao họ toàn là các bồ tát? Bởi vì sự chấp tri kiến được
hiển thị theo những cách khác nhau và đó là những dấu hiệu cảnh báo cho chúng
ta biết khi nào chúng ta có những hành động/ suy nghĩ/ lời nói tương tự thì hãy
cẩn thận bởi vì có thể mình đang rơi vào sự chấp thủ tri kiến. Chính nhờ vậy mà
mình có thể tránh được và dễ dàng vượt qua giai đoạn này. Chấp tri kiến là giai
đoạn mà ai cũng phải đi qua. Có người qua nhanh, có người qua chậm. Khi có bồ
tát chịu hiển thị cho mình sự chấp kiến cực đoan như vậy thì mình sẽ kinh sợ và
cẩn thận, vì thế sẽ đi qua giai đoạn này nhanh hơn. Người giúp ta làm được điều
này thì đó là bồ tát của ta. Cho nên họ toàn là bồ tát. Vì thế chúng ta nên có
thái độ tôn trọng họ.
Sự vận hành của Pháp không có theo ý mình đâu. Cho nên khi cơ
hội đến thì hãy tận dụng triệt để mà học hỏi. Nếu bỏ lỡ thì không biết
khi nào mới có lại được cơ hội tương tự. Vì sao? Vì sự chấp tri kiến không phải
là bản tánh thật cho nên ai cũng vậy, chấp một thời gian, chán rồi thì
tự bỏ. Bởi vậy chúng ta tranh thủ mà học hỏi.
Chúc mọi người ai cũng thấy được sự cực đoan của chấp tri
kiến là đáng kinh sợ đến mức nào và sẽ tự bỏ để thoát khỏi Thân Kiến và Giới
Cấm Thủ mà Nhập Dòng!
Thứ Hai, 10 tháng 7, 2017
TU XUẤT GIA & TU TẠI GIA
Hỏi: Thưa Thầy, có một ni sư chia sẻ với con rằng tu tại gia không
thể bằng xuất gia, sống trong gia đình còn lấn cấn với biết bao quan hệ xã hội
thì đến bao giờ mới giác ngộ được. Xin Thầy cho con lời khuyên ạ.
Thầy trả
lời: Tu tập chỉ
là quá trình điều chỉnh nhận thức và hành vi khi tâm tiếp xúc với những biến
động của đời sống, vì vậy sống không gia đình hay cùng với gia đình đều có thể
tu tập được. Ai ai cũng có thể ngay trong nghiệp mệnh của mình mà học hỏi và
phát hiện ra những bài học quý giá về bản thân và cuộc sống.
Cuộc sống của mỗi con người thường diễn biến theo
nghiệp mệnh của người đó, tử vi gọi đó là mệnh cách, bên Công giáo thì gọi là Ý
Cha. Đó chính là trường học thích hợp nhất mà vũ trụ chọn cho mỗi người, để họ
có thể ngay trong sự thăng trầm của đời sống cá nhân, qua trải nghiệm, chiêm
nghiệm để học ra những bài học mà họ học chưa xong. Ai rồi cũng phải trải qua
tất cả ngần ấy những bài học trong cuộc sống, kể cả bài học về cuộc sống xuất
gia. Không học sinh nào có thể bỏ học, trốn học, tìm đường tắt mà lên lớp, vượt
cấp. Vì vậy nhiều sư/ni thúc giục người khác xuất gia là không đúng vì phải
biết mỗi người đều có bài học từ sinh nghiệp riêng mà họ cần trải qua trong mỗi
kiếp. Can thiệp vào bài học của người khác có khi làm chậm quá trình giác ngộ
của người đó mà không biết.
Có thể sống tùy duyên thuận pháp và vô ngã vị tha,
thực hành lời dạy của Đức Phật ngay trong đời sống, trong công việc hàng ngày
của mình là điều mà người Phật tử chân chính nên làm, chứ không phải đợi đến
khi chuyển tới sống trong ngôi chùa nào đó như ý mình thì mới thực hiện được.
Thật ra tu tập là một tiến trình hoàn toàn tự nhiên, tùy duyên mà ứng, tùy pháp
mà hành, chứ không phải ở đó mà chọn lựa, lấy bỏ vì cho là thế này, phải là thế
kia với thái độ cầu toàn đầy bản ngã ảo tưởng. Dù nghiệp mệnh của mình là sống
xuất gia hay tại gia, có làm nhà sư, bác sĩ, kỹ sư hay làm người nông dân, …nếu
trong từng hành động của đời sống mình luôn trọn vẹn, chuyên tâm, thực hiện mọi
việc với thái độ trầm tĩnh, sáng suốt và trong lành thì đó chính là đã tu tập
theo đúng lời dạy của Đức Phật.
Sự sống là một tiến trình chuyển hóa liên tục
không có điểm cuối, giác ngộ không phải là giải thưởng được treo ở cuối con
đường tu tập để mà cố gắng, loay hoay tìm cách nhanh nhất đạt tới. Ngay đây tâm
không còn tìm kiếm mà trở về với những gì đang xảy ra chính là tu tập, thấy rõ
ràng, minh bạch mọi thứ như nó đang là tức là giác ngộ chứ không có tu tập,
giác ngộ nào khác.
Cách đây 2600 năm, vào thời của Đức Phật, những
người xuất gia, ai ai cũng đều sống tự tại với ba y một bát, không bám víu vào
bất cứ điều gì. Đời sống của họ phạm hạnh hoàn toàn viên mãn và thanh tịnh,
trắng bạch như vỏ ốc. Vì vậy tất cả những người xuất gia thời Đức Phật đều được
xã hội tôn trọng và cúng dường. Trong thời kỳ ấy cũng có rất nhiều cư sĩ tại
gia chứng đắc đạo quả.
Ngày nay xuất gia cũng không hoàn toàn là sống
không có gia đình, mà gần như là chuyển từ gia đình nhỏ để gia nhập vào gia
đình lớn của tăng đoàn. Thành phần những người xuất gia cũng rất phức tạp,
ngoài những người xuất gia chân chính còn lẫn lộn những kẻ xuất gia vì lười
biếng muốn sống ăn bám xã hội, xuất gia vì trốn tránh pháp luật, vv… Cuộc sống
xuất gia vì vậy mà cũng gặp nhiều trắc trở với những mối quan hệ cá nhân phức
tạp không khác gì ngoài xã hội.
Vì nhiều người xuất gia đã không thực hành theo
đúng lời Phật dạy nên hình ảnh người xuất gia không còn được mọi người hoàn
toàn tin tưởng và tôn trọng như xưa. Đối với các Phật tử muốn xuất gia để
chuyên tâm tu tập, việc lựa chọn môi trường, địa điểm cần được tiến hành một
cách kỹ càng và thận trọng. Nếu vào chùa tụng kinh nhưng tâm rối loạn thì tu
tại gia mà được tinh tấn chánh niệm tỉnh giác còn tốt hơn.
Hòa Thượng Viên Minh
Xem nguồn bài viết ở đây
Vì sao gần gũi với thiên nhiên mới giúp người ta dễ đắc đạo?
Cuộc đời của Phật Thích Ca toàn gắn liền với………….gốc cây. Từ
khi sinh ra cho đến khi đắc chánh quả rồi nhập tịch. Trong lịch sử Phật giáo tất
cả các tông phái cho đến lịch sử các tôn giáo khác nhau, những bậc đắc đạo toàn
gắn liền với thiên nhiên. Không có thiên nhiên con người ta khó mà đắc đạo.
Thiên nhiên cực quan trọng bởi vì thiên nhiên không chỉ giúp con người sinh tồn
mà còn giúp người ta thấy ra chân lý. Hủy diệt thiên nhiên cũng chính là hủy
diệt đi khả năng đắc đạo của chính mình. Bảo tồn thiên nhiên cũng chính là bảo
tồn khả năng đắc đạo của chính mình.
Các trường thiền hay những nơi tôn giáo thường tọa lạc trong
rừng hay những nơi có quang cảnh thiên nhiên tươi đẹp, cây cối xanh rì rì.
Những bậc thiền giả cũng thường vào rừng sâu núi thẳm mà tọa thiền hòng thấy ra
chân lý. Thiên nhiên xinh đẹp trải dài mút mắt khơi gợi cho hành giả những điều
mà ngay cả chính họ cũng không thể ngờ tới.
Đạo nằm trong thiên nhiên chứ không nằm trong sách vở. Sự
giác ngộ đến từ thiên nhiên chứ không đến từ sách vở. Cho nên khi đọc sách hay
nghe thuyết pháp mà mình ngộ ra điều gì đấy, thì có khi đây chỉ là cái ngộ giả hay
giả ngộ. Kinh sách hay các bài thuyết pháp có công dụng để mình kiểm tra lại
cái ngộ của mình mà thôi. Nghĩa là ngộ trước rồi mới đối chiếu với kinh sách,
chứ không phải đọc kinh sách để ngộ. Chính vì đọc kinh sách để ngộ mà thành Sở Tri
chướng, một rào cản khốc liệt cho hành giả thời nay, một thời đại công nghệ
thông tin lan tràn, kinh sách khắp nơi.
Người ngu sinh sở tri.
Hủy phần sáng của mình.
Tự chẻ đầu chính nó.
Đó là lý do vì sao kinh sách càng nhiều, người tu càng nhiều
mà người thực sự Giác thì càng ít là như vậy đó.
Thứ Bảy, 8 tháng 7, 2017
Cửa Không/ Tánh Không/ Chân Không Diệu Hữu thật ra là gì?
Tất cả đều là những từ ngữ khác nhau để nói về tính Vô Ngã
của vạn pháp.
Vạn pháp là khổ.
Vạn pháp là vô thường.
Vạn pháp là vô ngã.
Cho nên Cửa Không/ Tánh Không/ Chân Không Diệu Hữu nghĩa là “Vạn
pháp là vô ngã” chứ có gì đâu ghê gớm mà nhiều người đẩy lên đến cùng cực. Chỉ
bàn luận về tính Vô ngã của vạn pháp mà nhiều luận sư/ giảng sư đã viết dài
dòng lê thê thành những bộ sách dày cộm và làm cho người đọc sau này ảo tưởng
về sự ghê gớm của những danh tự như Cửa Không/ Tánh Không/ Chân Không Diệu Hữu.
Ảo tưởng đến mức cho rằng người ngộ ra Tánh Không là cái gì đó rất cao siêu và “mạt
sát” các A La Hán vì cho rằng A La Hán vẫn chưa qua được Cửa Không. Đây là sự
ngộ nhận kinh khủng. Vì người ngộ ra Tánh Không thật ra chỉ mới Nhập Dòng hay
nói cách khác là mới chứng Sơ Quả thôi, còn hai bậc nữa mới thành A La Hán.
Nhưng qua bàn luận tới lui, cái Sơ Quả này trở thành kỳ diệu đến mức A La Hán
vẫn chưa đạt tới!!!!!!!!!!!
Người ngộ ra Tánh Không hay còn gọi là người đã vào Cửa Không
là người ngộ ra sự vô ngã của vạn pháp. Khi ngộ ra sự vô ngã của vạn pháp thì
đồng thời ngộ ra luôn “vạn pháp là vô thường.” Khi thấy ra được “vạn pháp là vô
thường” cũng có nghĩa là tỏ rõ Lý Nhân Duyên. Khi tỏ rõ Lý Nhân
Duyên thì không còn bị Thân Kiến trói buộc. Khi thoát ra khỏi Thân Kiến thì
đồng thời cởi được sợi dây xiềng xích Giới Cấm Thủ. Người đi được những bước
này thì được gọi là bậc Thánh Nhập Lưu hay còn gọi là Nhập Dòng.
(KINH) LUẬN nhiều khi dẫn đến những tác hại lâu dài. Bởi vậy
kinh sách chỉ ra đời sau khi Phật nhập diệt chứ thời Phật tại thế làm gì có
kinh sách cho mà luận. Ai hổng hiểu gì toàn chạy đến hỏi ổng. Tùy căn cơ người
hỏi mà ổng có câu trả lời tương ưng, vậy là thành bài kinh cho người đời sau
luận. Luận riết mà từ cái Sơ Quả được đẩy lên thành cái gì đó mà ngay cả A La
Hán cũng chưa đạt đến luôn là vậy đó hihihihi.
Bài liên quan: Vì sao Chánh Kiến lại đứng đầu trong Bát Chánh Đạo?
Bài liên quan: Vì sao Chánh Kiến lại đứng đầu trong Bát Chánh Đạo?
Nhãn:
Bài viết quan điểm riêng,
Hỏi - Đáp,
KHÔNG,
Vô Thường
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)