Chủ Nhật, 20 tháng 8, 2017

Lậm lý thuyết.

Lậm lý thuyết nghĩa là gì?
Lậm lý thuyết nghĩa là nghe thuyết pháp rất nhiều, đọc kinh sách rất nhiều. Do nghe và đọc nhiều quá thành ra tự kỷ ám thị. Nghĩa là tưởng mình đã thật thấy thật biết đúng như kinh sách hay y như người thuyết pháp đã nói.
Đó là cái thấy cái biết do Ngã tạo ra. Hay nói chính xác là chỉ hiểu rồi tâm đắc rồi tự cho rằng mình đã thật thấy thật biết như vậy. Vì vậy có thể thao thao bất tuyệt. Thuật ngữ chuyên ngành gọi đây chính là Sở Tri Chướng. Vướng vào Sở Tri mà không biết mình vướng vào Sở Tri. Chỉ thấy sao mình có thể đối đáp trôi chảy, thao thao bất tuyệt, hiểu rất rõ vấn đề mình đang nói.

Dấu hiệu cho thấy mình lậm lý thuyết:
1.    Thích lý luận, đặc biệt là lý luận vòng quanh
2.    Thích tìm hết kiến giải này đến kiến giải nọ để tích trữ cho Sở Tri càng thêm dày.
3.    Không biết chỗ kẹt của mình nên không có sự tập trung tâm vào chỗ kẹt ấy, thay vào đó thích thảo luận về đủ mọi đề tài, rồi tích trữ thêm tri kiến của người vào kho.
4.    Thiếu sự quán sát thân tâm nên toàn là thấy người chứ chẳng thấy mình. Cái 4 liên quan đến cái thứ 3. Vì không biết chỗ kẹt của mình nên đi lan man, vì đi lan man nên chỉ thấy người.

Người thật sự có hành pháp luôn biết rõ chỗ kẹt của mình. Vì biết rõ chỗ kẹt nên tập trung cả thân và tâm vào chỗ kẹt ấy để tìm cách thoát. Càng biết rõ chỗ kẹt thì sự tập trung càng cao. Khi sự tập trung cao thì tất cả mọi thứ/mọi điều thâu nhận qua mắt tai mũi họng đều trở thành đối tượng thiền quán để giúp họ ra khỏi chỗ kẹt ấy. Do đó họ chỉ ghi nhận hay tập trung vào những gì có liên quan đến chỗ kẹt hay còn gọi là có liên hệ đến mục đích. Những cái không liên quan thì cho qua, không quan tâm để tránh bị loạn tâm.


Còn người lậm lý thuyết thì do không biết chỗ kẹt nên tâm phân tán tứ tung, vì vậy toàn đi lan man. Thuật ngữ chuyên ngành gọi là tâm phóng dật.

Thứ Bảy, 19 tháng 8, 2017

Dấu hiệu cho thấy mình còn kẹt trong Nhị Nguyên.

Dấu hiệu dễ thấy nhất mà ai cũng có thể tự quán sát được cho dù là người hay chư thiên. Đó là khi nào mình khởi ý hành dâm là khi ấy mình kẹt trong Nhị Nguyên. Vì kẹt trong Nhị Nguyên nên mới có âm có dương. Vì có âm có dương nên mới cần phải cân bằng âm dương. Vì cần phải cân bằng âm dương nên mới có nhu cầu hành dâm bằng tâm ý hay bằng thể xác.
Khi không kẹt trong Nhị Nguyên thì âm dương chỉ là 1. Khi âm dương chỉ là 1 thì không có nhu cầu cân bằng. Khi không có nhu cầu cân bằng thì không khởi ý hành dâm.
Điều này tương tự như trời đất chỉ là một nhưng do mình chia chẻ nên mới có trời có đất.
Mọi thứ từ đúng sai, phải trái, chánh tà, đen trắng, xấu đẹp, hay dở,….đều chỉ là 1. Nhưng do mình chia chẻ nên mới thành 2.

Phải mất đến mấy ngàn năm thì tôi mới thật sự hiểu được câu hỏi của Ngài Xá Lợi Phất, A La Hán đệ nhất trí tuệ, thời Phật Thích Ca, hỏi vị nữ du sĩ: Thế nào là 1?
Vị nữ du sĩ tinh thông tất cả các giáo pháp trên thế gian, đi đến đâu thì đấu pháp đến đó và đã đấu pháp với Ngài Xá Lợi Phất. Vị nữ du sĩ hỏi gì Ngài cũng đáp được, nhưng Ngài chỉ hỏi một câu thôi: “Thế nào là 1?” Vị này quy y Phật Pháp Tăng ngay lập tức và sau đó trở thành A La Hán đệ nhất trí tuệ của Ni đoàn.
Khi biết câu chuyện này, lúc ấy chỉ tin Ngài Xá Lợi Phất, chứ để thật sự thấy và biết Thế nào là một thì phải đến mãi tận hôm nay. Đúng là một chặng đường dài dễ sợ dài!

Cũng vậy, khi khởi ý tri ân thầy thì đó là lúc mình kẹt trong Nhị Nguyên. Vì mình chia chẻ nên thấy thầy và mình là hai, chứ thật ra trí tuệ của thầy và mình chỉ là 1. Cho nên tri ân là một trong những thước đo của người tu. Nhưng khi khởi ý tri ân thì có nghĩa là mình kẹt trong Nhị Nguyên. Sự tri ân tối thắng nhất là hòa vào trí tuệ của thầy.

Khi đến được chỗ này mới thật sự hiểu câu nói: “Tất cả chúng sanh đều là Phật sẽ thành” là như thế nào. Vì tất cả chúng sanh đều hòa trong trí tuệ của Như Lai nên tất cả đều có nhân chủng Phật là vậy đó.

Quả là vi diệu! Quả là vi diệu quá!  

Vì sao có Hành dâm?

Vì tham ái nên có hành dâm.
Cách hành dâm ở cõi Dục giới là hành dâm thông qua sự đụng chạm thể xác.
Cách hành dâm ở các cõi trời là hành dâm thông qua tâm ý.
Cho nên khi Đại Bồ tát đầu thai vào bụng của hoàng hậu Maya, thì không có nghĩa là hoàng hậu Maya đã hành dâm với vua Tịnh Phạn mà mang thai Đại Bồ tát. Khi một vĩ nhân kiệt xuất chào đời thì không thông qua hành dâm bằng thể xác của cha mẹ là điều bình thường.
(Hồi xưa nghe người ta chém gió chửi Mẹ Đồng Trinh quá trời luôn bởi vì nói Mẹ có con rồi mà sao vẫn Đồng Trinh. Nghe họ chém cũng có lý. Bây giờ mới thấy, họ chém vậy là do họ vô minh. Bởi vì có con mà vẫn đồng trinh là chuyện bình thường.)

Bây giờ quay lại chuyện hành dâm. Hành dâm là do tham ái. Tham ái mà không biết mình tham ái cho nên tìm cách ngụy biện cho việc hành dâm bằng đủ mọi cách.
Ngoài ra, hành dâm còn là do chưa hưởng được hương vị của Pháp hỷ nên mới hành dâm. Vì sao?
Vì hương vị của Pháp hỷ là tối thắng. Bất cứ ai thưởng thức được hương vị này rồi thì hương vị do hành dâm mang lại chẳng khác gì sắc đẹp của con khỉ mà đem so với sắc đẹp của chư thiên vậy đó.
Tóm lại khi nào thực sự hưởng được Pháp hỷ thì chẳng thiết đến hành dâm nữa đâu.
Túm lại, hành dâm là do:
1.    Tham ái
2.    Chưa nếm mùi Pháp hỷ

Không hành dâm thì con người có bị tuyệt tự không?
Không hề.  Nếu không hành dâm thì con người trở nên thuần khiết hơn và thai được mang do tâm ý chứ không do sự xúc chạm thể xác nữa.

Chính hành dâm mới dẫn con người đến sự hủy diệt. Khoa học vừa chứng minh rằng tất cả các nền văn minh cổ đại bị phá hủy và tàn hoại chính là do sự hành dâm vô tội vạ của con người.

Làm sao để biết mình có thật sự kiến tánh hay không?

Người thật sự kiến tánh thì sau khi kiến tánh các tập khí giảm dần theo thời gian. Nếu cho rằng mình đã kiến tánh mà các tập khí chẳng những không giảm mà còn có xu hướng tăng thì đó chính là mình kiến cái Tánh do Nàng Ngã tạo ra rồi.
Mà Ngã thì lúc nào cũng đẹp, ngay cả khi sân cũng đẹp, cho nên cái gì do Ngã tạo cũng rất là đẹp, rất là quyến rũ lòng người.
Nói vầy cho dễ hình dung nha. Cái Tánh do Ngã tạo ra mê ly y như tiếng hát của mỹ nhân ngư ở mũi Hảo Vọng vậy đó. Ai dính vào tiếng hát này rồi thì chỉ có mà phi thẳng thuyền vào, rồi bị đánh chìm, rồi tự mình nạp mạng cho người đẹp.
Bởi vậy lúc nào cũng nhớ kỹ rằng: Người thật sự kiến tánh thì tập khí ngày càng giảm chứ hổng phải ngày càng tăng.

Đó là điểm thứ nhất của kiến tánh. Điểm thứ hai là: Người thật sự kiến tánh thì do đã thấy Tánh rồi, biết chính xác Tánh là gì rồi, hổng có ảo tưởng nữa. Cho nên họ rất sáng suốt và biết luôn nên dùng phương tiện nào để giảm tập khí, khi nào nên dùng phương tiện nào là phù hợp; khi nào cầm lên, khi nào buông xuống, họ biết rất rõ, chứ hổng có mù mờ nữa. Nếu tự cho rằng mình đã kiến tánh mà không biết rõ phương tiện nào nên dùng, dùng như thế nào và khi nào nên bỏ phương tiện ấy thì ấy là mình kiến cái Tánh do Nàng Ngã tạo ra rồi đấy. Vì đó không thật, cho nên rất mờ ảo, chẳng thể rõ ràng là vậy đó.
Phật cao một thước. Ma cao một trượng. Cái Tánh thật thì chỉ có một, ai kiến rồi thì cái thấy giống nhau, không cần phải cãi hay bàn luận làm chi. Còn cái Tánh do Nàng Ngã tạo ra thì mơ mơ hồ hồ, chính vì nó mơ mơ hồ hồ nên mỗi người kiến một kiểu. Chính vì mỗi người kiến một kiểu, cho nên mới phải bàn luận tới lui.
Cái thật thì chỉ có một và giống nhau ở tất cả, còn cái na ná thì là vô số luôn.

Cho nên người thật sự kiến tánh chẳng cần bàn luận dài dòng. Chỉ cần trong vòng một nốt nhạc (thậm chí là chẳng cần nốt nhạc nào) vẫn có thể hiểu nhau là vậy đó.

Thứ Sáu, 18 tháng 8, 2017

BI ÁI

Trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta thường dính phải bi ái mà mình hổng biết, cứ tưởng là mình đang từ bi. Bi ái nghĩa là do Ái nên mới Bi, vì vậy càng Bi thì càng dính là vậy đó.

Làm sao để biết mình dính phải bi ái? Đó là:
1. Khi khởi ý: Thấy thương ghê. Tội nghiệp ghê.
>>> Ý này khởi là do tập khí kiêu mạn. Thường mình chỉ khởi ý này khi thấy người/vật thua kém mình. Nghĩa là mình thấy mình hơn họ thì mới khởi ý như vậy.
2. Khi khởi ý ganh tị. Người thua mình thì mình thương, người hơn mình thì mình ganh tị. Nhưng do mình được học nên biết rằng ganh tị là không tốt. Cho nên khi gặp người hơn mình, ý ganh ghét trỗi lên; nhưng mình tìm cách đè nó xuống bằng cách cố tìm ra điểm nào đó của họ để “Thấy thương ghê. Tội nghiệp ghê.”
3. Khi khởi ý: Vì lòng từ bi nên tôi mới nói/làm/nghĩ,… việc này nha! Khởi ý này là do xuất phát từ Sân. Và để đối trị Sân thì mình khởi ý từ bi.
Cho nên ba dấu hiệu thường thấy khi mình dính bi ái là do tập khí kiêu mạn, ganh tị và sân.

Còn Từ Bi của bậc giác ngộ là Bi với Tâm bất động. Thế nào là bi với tâm bất động?
Bi với Tâm bất động thì Bi khi vắng mặt đi kiêu mạn, ganh tị và sân hận. Khi không có mặt ba đứa này thì từ bi tự hiển lộ. Còn bi mà thấy mình đang bi thì đó là Bi ái.

Bi ái còn thể hiện rất nhiều trong cuộc sống hằng ngày nữa nha!
Ví dụ: Tôi có thói quen, thấy con gì có đuôi là ẳm lên hun chóc chóc rồi nói: “Cưng lắm đó, biết không vậy!” Cái này xuất phát từ tập khí thích sở hữu. Do mình muốn sở hữu nên mình mới nói như vậy.

Khi nghĩ đến đây thì tôi khởi lên sự tri ân tất cả thiện hữu tri thức đã đang trực tiếp và gián tiếp giúp mình đến được chỗ này. Sự tri ân này được khởi lên là do tập khí thích cái gì có lợi cho mình. Vì tôi thấy tôi được lợi cho nên tôi tri ân.

CON RẬN TIẾC CỦA

Như sét từ sắt sinh ...
Câu chuyện này xảy ra khi đức Phật ở tại Kỳ Viên, liên quan đến thầy Tỳ-kheo Tissa.
Ở Xá-vệ, có một chàng trẻ tuổi con nhà quyền quý xuất gia, làm đầy đủ bổn phận, là Thượng tọa Tissa. Lúc thầy còn ở tinh xá trong thành, được cúng dường một tấm vải thô dài tám thước. Sau ngày mãn hạ, thầy về nhà, đưa vải cho chị xem. Chị thầy nghĩ thầm: "Tấm vải này không xứng với em ta". Cô bèn lấy dao bén, rọc vải thành từng mảnh, bỏ vào cối giả đập cho mềm, bỏ những sợi thô, dệt thành tấm vải mới.
Vài hôm sau, thầy Tissa, tìm ra chỉ và kim, rủ thêm vài thầy và vài chú Sa-di biết may y, đến nhà người chị bảo:
- Ðưa em khúc vải, em muốn may y.
Cô lấy khúc vải mịn dài chín mét, đưa cho thầy. Thầy từ chối:
- Vải kia của em là thứ thô xấu, dài tám mét, khúc này đẹp lại dài chín mét, không phải của em. Hãy đưa khúc vải hôm trước ấy.
- Thưa thầy, vải này của thầy đó.
Cô kể lại những việc làm của mình và bảo thầy hãy lấy vải.
Thầy Tissa đem vải về tinh xá, và tìm người may y. Chị thầy sửa soạn cơm canh mang đến cho thợ may, và khi tấm y hoàn thành, trông nó rất đẹp. Thầy Tissa rất thích chiếc y mới, thầy định ngày mai sẽ đắp nó.
Nhưng hôm ấy, thầy bị bội thực và chết, tái sanh làm một con rận trong chiếc y mới của mình. Chị thầy nghe tin, nhào lăn dưới chân các Tỳ-kheo khóc lóc. Các Tỳ-kheo lo tang ma xong, bàn định:
- Không ai hầu cận Tissa khi thầy đau, chiếc y này thuộc Tăng chúng, chúng ta hãy chia phần.
Con rận la hoảng:
- Các thầy tước đoạt tài sản của tôi.
Và nó vừa kêu la vừa bò quanh chiếc y.
Ðức Thế Tôn ngồi trong hương thất, biết việc xảy ra, bèn gọi A-nan:
- Này A-nan, hãy bảo chúng Tăng dời việc chia y bảy ngày.
Tôn giả làm theo lời dạy. Cuối ngày thứ bảy, con rận chết và tái sanh lên cõi trời Ðâu-suất. Ngày thứ tám, đức Phật cho phép chúng Tăng chia y.
Sau khi chia xong, chư Tăng bàn tán:
- Tại sao đức Thế Tôn ra lệnh để chiếc y của Tissa lại bảy hôm, ngày thứ tám mới cho phân chia.
Ðức Phật đến gần các thầy hỏi:
- Các ông tụ họp ở đây bàn tán việc gì?
Và khi các thầy kể lại. Ngài nói:
- Tissa đã tái sanh làm con rận trong y mới của mình. Khi các ông định phân chia y, con rận đã nổi giận. Nó sẽ cự lại các ông, và sẽ đọa địa ngục. Vì lẽ đó Ta bảo để y lại. Hiện nay thì Tissa đã sanh lên cõi trời Ðâu-suất, Ta mới cho phép các ông lấy y đem chia.
Các Tỳ-kheo bạch Phật:
- Bạch Thế Tôn, tham ái thật là một nỗi khổ lớn.
Phật xác nhận:
- Tham ái thật là vấn đề lo lắng lớn của chúng sanh trên quả đất, như gỉ sét phát sanh từ sắt, trở lại ăn mòn sắt, tham ái phát sanh từ chúng sanh và đưa chúng sanh xuống địa ngục.
Phật nói kệ:
(240) Như sét từ sắt sinh,
Sắt sinh lại ăn sắt,
Cũng vậy, quá lợi dưỡng,
Tự nghiệp dẫn cõi ác.


(Tích truyện Pháp Cú
Thiền viện Viên Chiếu
Nguyên tác: "Buddhist Legends", Eugene Watson Burlingame)

Thứ Hai, 14 tháng 8, 2017

Các bước tu để vào pháp Như Là/Đang Là

Bước 1: Hạ bản ngã
Thường thì toàn là nhìn thấy người chứ hổng thấy mình. Vì sao? Vì cái ngã của mình lớn đến nỗi nó trở thành trung tâm để quán xét người khác. Cho nên chiếu đến đâu thì thấy người đến đó. Vì vậy, việc tu ở bước này là tìm mọi cách mọi phương tiện để hạ bản ngã xuống. Khi cái ngã được hạ xuống rồi, cái bóng của nó phải nhỏ thì mới có thể thấy được pháp Nhị Nguyên.

Bước 2: Thấu tỏ Nhị Nguyên
Khi thấu tỏ pháp Nhị Nguyên thì hổng thấy người nữa mà chỉ toàn thấy mình thôi. Bất cứ một phản chiếu nào của tâm về người khác đều có gốc từ cái ngã của mình. Những gì mình thấy toàn là những hạt giống đã được gieo sẳn từ trước đó.
Đến đây thì gọi là chỉ thấy lỗi mình không thấy lỗi người.

Bước 3: Vào pháp Vô Ngã
Sau khi thấu tỏ Nhị Nguyên, nghĩa là thấy được nhân quả trong từng suy nghĩ của mình thì bắt đầu vào pháp Vô Ngã. Đến đây thì cả mình lẫn người đều không thấy, chỉ thấy tập khí đang vận hành. Nghĩa là chẳng lỗi ở người, chẳng lỗi ở mình, lỗi ở tập khí.

Bước 4: Vào pháp Như Là
Đến đây thì ngay cả tập khí cũng chẳng thấy luôn. Nghĩa là chẳng lỗi ở người, chẳng lỗi ở mình, chẳng lỗi ở tập khí. Chỉ thấy mọi thứ cứ Như Là (Bước này thì tôi vừa mới vào thôi nên vẫn chưa thấu lắm, phải có thời gian ứng dụng thì mới có thể thấu được.)

Trong các bước thì bước 1 là kinh khủng nhất, mất thời gian nhiều nhất vì cái bản ngã được tích lũy trong vô số vô số kiếp cho nên nó to đến nỗi chẳng gì có thể to hơn. Vậy mà bây giờ buộc phải làm cho nó nhỏ lại. Đó là “nhiệm vụ bất khả thi.” Cho nên bước này là khổ hạnh nhất, trầy da tróc vảy nhất, và cũng là nguy hiểm nhất (vì có thể bị tử nạn. Nói thật đấy, hổng có nói đùa đâu.) Bị nó lừa vô số lần, vì nó dụ cho mình tưởng rằng nó đã nhỏ rồi chứ thật ra không phải, chỉ là ảo tưởng. Cho nên ở bước này là té lên té xuống vô số lần với nó luôn, và bị nó lừa hết tập này đến tập khác. Trong suốt hành trình này có vô số cảm giác, trong đó đáng sợ nhất là cảm giác cô độc, một mình chống mafia. Rất rất rất cô độc. Một sự cô độc bao trùm, không đầu cũng chẳng cuối, cứ thế mà chụp lấy cả thân tâm. Đến đây thì khả năng bỏ cuộc rất rất cao hoặc thậm chí muốn tự tử luôn đấy. Ai từng trải qua sự cô độc này thì mới thật sự hiểu đó là gì.
Hành giả là tráng sĩ.
Cô độc giữa rừng tâm.
Bóng vô minh bao phủ
Trùm kín cả hư không
Lầm lũi trong bóng đêm
Dày đặc và mịt mờ.
Tuy bước 1 là gian nan nhất nhưng cũng là quan trọng nhất để vào các bước kia.