Thứ Năm, 28 tháng 9, 2017

Phát hiện đáng kinh ngạc của Mỹ: Tế bào ung thư sợ nhất Tình yêu!

Tình yêu có sức mạnh to lớn trong đời sống tinh thần của mỗi người. Không chỉ có vậy, phát hiện mới nhất của nhà khoa học Mỹ đã gây chấn động: Tế bào ung thư sợ nhất là tình yêu!

Tiến sĩ David Hawkins là một bác sĩ rất nổi tiếng ở Mỹ, bệnh nhân của ông đến từ khắp nơi trên thế giới. Ông cho biết, chỉ cần nhìn thấy bệnh nhân là ông biết người đó vì sao bị bệnh. Bởi trên cơ thể người bệnh không bao giờ tìm thấy chữ ‘yêu’, chỉ thấy chữ ‘khổ, hận, phiền muộn’ bao bọc toàn cơ thể họ.

“Rất nhiều người bị bệnh vì không được yêu, ở họ chỉ thấy nỗi khổ và phiền muộn, tần số rung động thấp hơn 200 sẽ dễ bị bệnh”, ông cho biết. Tần số rung động chính là từ trường mà mọi người thường hay nói.
Ông cũng phát hiện ra rằng, những người bệnh thường có suy nghĩ tiêu cực. Tần số rung động của người trên 200 sẽ không bị bệnh. Ở người bệnh, tần số này thường thấp hơn 200. Tần số rung động của những người như nào thấp hơn 200? Đó là những người hay oán giận, chỉ trích, hận thù người khác, tần số của họ chỉ là 30, 40. Trong quá trình trách móc người khác sẽ làm tiêu hao rất nhiều năng lượng của họ vì thế tần số rung động sẽ giảm thấp hơn 200, những người này có nguy cơ bị mắc rất nhiều loại bệnh.

Chỉ số rung động cao nhất là 1000, thấp nhất là 1. Ông nói, trong cuộc đời ông từng gặp người có tần số rung động cao nhất là 700, năng lượng trong cơ thể anh ấy rất dồi dào. Khi những người này xuất hiện, họ sẽ làm ảnh hưởng đến từ trường của cả khu vực xung quanh. Lấy ví dụ, như khi bà tu sĩ Trisara lên nhận giải thưởng Nobel Hòa bình, không khí cả hội trường rất tốt, tần số rung động rất cao, từ trường của bà làm cho cả hội trường đều cảm nhận được năng lượng tràn ngập sự tốt đẹp và cảm động từ bà.

Khi người có năng lượng cao xuất hiện, từ trường của họ sẽ làm cho vạn vật trở lên tốt đẹp hơn. Còn với người có suy nghĩ tiêu cực, không chỉ làm tổn hại chính họ mà còn làm cho từ trường xung quanh cũng bị xấu đi.

TS Hawkins nói, ông đã từng làm bệnh án cho hàng triệu người, các chủng loại người khác nhau trên toàn thế giới, tất cả đều cho một đáp án giống nhau. Chỉ cần tần số rung động thấp hơn 200 là người đó sẽ bị bệnh. Trên 200 sẽ không bị bệnh, những suy nghĩ có tần số rung động trên 200 gồm có: quan tâm đến người khác, giàu lòng từ bi, nhân ái, hướng thiện, bao dung, độ lượng, v.v. Đây đều là những đức tính có tần số rung động rất cao, đạt đến mức 400 – 500.

Ngược lại, người có tính căm ghét, phẫn nộ, hay chỉ trích, trách móc, đố kị, đòi hỏi người khác, luôn tư lợi cá nhân, ích kỷ, không màng đến cảm nhận của người khác sẽ có tần số rung động rất thấp. Tần số rung động thấp là nguyên nhân dẫn đến các bệnh như ung thư, tim v.v.

Từ góc độ y học ông cho rằng, ý niệm có ảnh hưởng vô cùng lớn đến sức khỏe con người.

Sau khi nghệ sỹ chơi đàn Violoncelle Sean của Nhật Bản bị bệnh ung thư, ông đã không ngừng chiến đấu với bệnh tật nhưng xem ra tình trạng ngày một nặng hơn. Ông đã thay đổi tâm trạng, quyết định chuyển sang yêu từng tế bào ung thư trong cơ thể mình. Ông lạc quan với cuộc sống, mọi việc ông đều luôn thấy vui vẻ và biết ơn các tế bào ung thư. Ông thấy cảm giác này rất tuyệt. Sau đó, ông đã quyết định yêu mọi thứ trong cuộc sống, bao gồm cả mỗi con người và mỗi sự việc.

Sau một thời gian, toàn bộ các tế bào ung thư đã không còn nữa, đây là kết quả nằm ngoài sức tưởng tượng của con người. Sau này, ông trở thành bác sĩ trị liệu nổi tiếng tại Nhật Bản. Đây chính là bản chất của cuộc sống: Tình Yêu.
Căn nguyên của bệnh tật là do trong cơ thể người bệnh thiếu tình yêu thương. Bệnh tật bị đẩy lùi một cách vô điều kiện là nhờ ‘yêu và được yêu’.
Nguồn: sưu tầm từ Facebook



Thứ Tư, 27 tháng 9, 2017

Tập Yoga là cách quán thân trên thân rất tuyệt vời đó mọi người!

Khi không quán thân trên thân, nghĩa là vừa tập vừa thiền thì cơ thể rất dễ bị chấn thương. Điều này vẫn xảy ra với người tập yoga lâu năm. Cho nên thường khi tập cần phải có giáo viên hướng dẫn để cho mình biết những cử động nào mình có thể làm, những cử động nào mình không được phép làm, hoặc khi mình bị bệnh gì đó thì có những động tác mà nếu tập có thể làm bệnh thêm nặng.
Nhưng khi vừa tập yoga vừa quán thân trên thân thì không cần giáo viên hướng dẫn, mình có thể tự quán sát cơ thể. Quán sát như thế nào:
Đó là quán sát độ dẻo của cơ thể, quán sát xem cơ thể mình có thể cong được bao nhiêu độ, khi đến độ cong vừa sức chịu đựng của cơ thể thì dừng lại, nếu muốn cong hơn thì cần phải có thời gian cho cơ thể thích ứng. Nếu vừa tập vừa thiền mình quán sát được hết đó mọi người, không cần giáo viên hướng dẫn.
Ngoài ra khi vừa tập vừa thiền, mình biết được động tác nào nên tập động tác nào không nên tập đối với cơ thể mình, khi kéo căng cơ thì cơ căng đến mức nào là vừa, để tránh bị tổn thương.
Ngoài ra khi vừa tập vừa thiền thì mình tự sáng tạo ra những động tác yoga phù hợp với thể trạng của cơ thể mình luôn đó mọi người. Giáo viên không thể biết cơ thể mình rõ hơn mình đâu. Cho nên tập trong sự tỉnh giác cao độ thì mình tự biết được hết.
Túm lại tập yoga là cách quán thân trên thân tuyệt vời. Vì chỉ cần mình mất chánh niệm thì cơ thể mình bị tổn thương. Và các động tác yoga rất chậm chạp và từ tốn, cho nên cực kì thích hợp cho thiền quán thân trên thân.

Khi vừa tập yoga vừa quán thân trên thân thì từ trong ra ngoài có sự tĩnh lặng và trang nghiêm, sảng khoái và khỏe khoắn. Nghĩa là mỗi sáng bắt đầu ngày mới bằng cách thiền quán thân trên thân với các động tác yoga thì đầy đủ năng lượng cho cả ngày luôn, không cần phải nghỉ ngơi buổi trưa. 

Cái mình thấy ở người chính là cái nằm trong vô thức.

 Cho nên đối cảnh là một cách quán sát vô thức.

 Ví dụ: cùng một bài viết hay một câu nói hay một bức ảnh,…., mỗi người lại có phản ứng khác nhau. Người thì khen, người thì chê, người thì chửi rủa, người thì tán thán, người thì mỉm cười, người thì nhăn nhó,………..Vì sao?

 Vì vô thức mỗi người khác nhau nên sự biểu hiện là khác nhau. Ví dụ câu nói/bài đăng là sự biểu hiện vô thức của người nói A nên nó là A’. Khi người B đọc thì nó thành B’ do người B không dùng vô thức của A để đọc mà dùng vô thức của chính mình để đọc, cho nên nó thành B’ Người C đọc thì thành C’. Người D đọc thì thành D’. Nếu B và D có vô thức tương tợ nhau thì họ trở thành “đồng bọn” của nhau. Tự cho cái vô thức của mình là chân lý và cùng nhau chỉ trích người không có cùng vô thức với mình.

 Tôi viết đến đây tôi thấy mắc cười quá ha ha ha ha ha. Chúng ta giống như những con rối trong bàn tay biểu diễn của vô thức.

 Làm sao để không trở thành con rối của vô thức nữa?

Khi đọc bài viết của A thì hòa vào A và dùng vô thức của A để quán sát bài viết ấy. Khi đọc bài viết của B thì hòa vào B và dùng vô thức của B để mà đọc bài viết ấy.

 Không phải ai cũng làm được điều này. Chính vì vậy mà có tranh luận và cãi vả.

Thứ Hai, 25 tháng 9, 2017

Bồ tát ly dục.

Người nào tu theo hạnh bồ tát ly dục thì hãy tự mà quán sát lại tâm mình.
Khi mình khởi tâm theo hạnh bồ tát ly dục thì sẽ được thiện tri thức giúp đỡ. Họ giúp mình tháo gỡ những chướng ngại trong tâm mà nếu không có họ thì mình không thể nhận diện ra mà luôn ảo tưởng rằng mình đã ly dục. Sự giúp đỡ thể hiện bằng nhiều hình thức khác nhau. Không hiểu điều này sẽ tự gán cho đó là chướng duyên hay chướng ngại. Người thật tu đạo giác ngộ giải thoát không có chướng duyên hay chướng ngại chỉ có thuận duyên và thiện tri thức. Tất cả mọi tình huống mọi sự việc xảy đến với mình đều là những bài học vô giá đẩy mình nhanh tiến trên con đường giác ngộ giải thoát. Khi xem những cái này là chướng ngại thì ắt là tâm mình có chướng ngại.
Ví dụ, khi phát nguyện tu theo hạnh bồ tát ly dục thì sẽ gặp vô số chuyện tình ái từ trên trời rơi xuống. Phản ứng thông thường là chống cự, lui vào im lặng. Im lặng chưa chắc đã Ly, mà Nói ra chưa chắc đã Vướng. Cho nên dù chọn Im hay chọn Nói thì điều ấy cũng chẳng quan trọng. Im hay Nói chẳng qua chỉ là phương tiện cho mình tự quán sát chính mình. Thái độ của mình đối với việc mới là cái quyết định. Thái độ mở trói hay thái độ ràng buộc. Nói chưa chắc đã là trói mà Im chưa chắc đã là mở. Nói hay im thì chỉ có mình mới tự biết.
Nên biết khi tu đạo giải thoát cái mà mình quyết định làm, đó là nói hay im nó thuộc về bề nổi hay còn gọi là mặt ý thức. Cái bề sâu vô thức mới là đáng sợ. Đọc được bề sâu vô thức thì mới có cơ may mà giác ngộ mới có cơ may mà giải thoát. Ý thức nằm trên ngôn ngữ có lời (ngôn ngữ có lời không chỉ là Nói) và vô thức nằm ở ngôn ngữ không lời (ngôn ngữ không lời không có nghĩa là im lặng.)

Do vậy các bồ tát tu theo hạnh ly dục tự quán sát cái vô thức của mình để mà chọn phương tiện nói hay im nhằm cởi trói cho chính mình. Im lặng chưa chắc đã thoát đâu nhé!

Thứ Tư, 20 tháng 9, 2017

HỎI: Chửi có phải là ác nghiệp hay không?

ĐÁP: Đúng vậy. Chửi là một ác nghiệp cho dù chửi với bất kì lý do gì đi chăng nữa. Sự khác biệt nằm ở chỗ: Chửi do sân hận thì đó là nhân hữu tình. Gieo nhân hữu tình thì thọ quả hữu tình. Chửi với thiện ý (ví dụ: giúp người giác ngộ, giúp người thoát mê, giúp người bớt khổ,….) thì đó là nhân vô tình. Gieo nhân vô tình thì gặt quả vô tình.
Nên nhớ: một người cho dù có giác ngộ giải thoát hoàn toàn như Phật toàn giác Thích Ca Mâu Ni thì hằng ngày vẫn gieo nhân vô tình và vẫn gặt những quả vô tình khi còn ngũ uẩn.

HỎI: Nói lời ái ngữ có phải là thiện nghiệp hay không?
ĐÁP: Đúng vậy. Nói lời ái ngữ chính là thiện nghiệp cho dù nói với bất kì lý do gì đi chăng nữa. Sự khác biệt nằm ở chỗ: Nói lời ái ngữ với thiện ý thì đó là nhân hữu tình. Gieo nhân hữu tình thì gặt quả hữu tình. Nói lời ái ngữ với ác ý hay còn gọi là khẩu Phật tâm xà thì đó là gieo nhân ái ngữ vô tình. Gieo nhân vô tình thì thọ quả vô tình.

Nhân Quả của lời nói ái ngữ và Nhân Quả của thiện ý hay ác ý thì khác nhau. Do vậy khi một lời ái ngữ được thốt/viết ra thì trong đó (có thể) đã bao hàm nhiều loại nhân quả khác nhau rồi.

Thứ Sáu, 15 tháng 9, 2017

Trong Nhị Nguyên thì cái gì phù hợp với mình cái nấy là Chân Lý.

Ví dụ, con mèo săn con chuột thì săn chuột là chân lý của con mèo. Còn chân lý của con chuột là làm sao để chạy thoát khỏi con mèo. Đứng ở góc độ nào thì có chân lý ở góc độ nấy. Khi nào chuyển góc độ khác thì chân lý sẽ thay đổi. Đó là lý do mà chân lý trong Nhị Nguyên là chân lý tương đối.
Vì vậy trong Nhị Nguyên có rất nhiều chân lý. Chỉ khi nào thấy rõ chỗ đứng của người ôm chân lý ấy thì mới có thể tôn trọng chân lý của họ. Bằng không sẽ dẫn đến tranh cãi triền miên về việc cái gì là đúng, cái gì là sai, cái gì là trái, cái gì là phải, cái gì là chánh, cái gì là tà,……

Do vậy mà cổ đức có câu: Khôn cũng chết, dại cũng chết, chỉ có biết mới sống. Biết ở đây không có nghĩa là gió chiều nào thì theo chiều nấy mà biết ở đây có nghĩa là đặc mình và chỗ đứng của người để tôn trọng chân lý của họ. Còn cố ép người phải đứng vào chỗ của mình để tôn trọng chân lý của mình thì điều đó sẽ dẫn đến chiến tranh và hận thù.

Vì sao cúng dường, khen ngợi, chửi bới hay làm hại một phàm phu thì thọ quả khác với cúng dường, khen ngợi, chửi bới hay làm hại một bậc giác ngộ giải thoát?

So sánh vầy đi nha:
Tâm của một phàm phu như một cái ao nhỏ, còn tâm của một bậc giác ngộ (giải thoát) thì như đại dương. Việc cúng dường, khen ngợi, chửi bới hay làm hại cũng giống như khi mình ném một hòn đá xuống ao hồ hay xuống biển vậy đó. Khi hòn đá được ném đi thì sẽ tạo ra những gợn sóng lăn tăn trên mặt hồ. Hồ nhỏ nên những gợn sóng để lại tác động trong phạm vi nhỏ hẹp của cái hồ thôi. Còn biển thì mênh mông nên những gợn sóng để lại tác động trên phạm vi toàn đại dương. Do hồ nhỏ nên sóng thần từ hồ cũng nhỏ. Do đại dương mênh mông nên sóng thần từ đại dương cũng rất khủng khiếp.
Tâm 1 phàm phu tương thông 1 thế giới nên những khởi ý của mình tác động đến chỉ một thế giới. Tâm một bậc giác ngộ (giải thoát) tương thông nhiều thế giới, nên những khởi ý của mình tác động đến  nhiều thế giới. Cho nên khi mình cúng dường 1 phàm phu thì tương đương mình cúng dường 1 thế giới. Khi cúng dường 1 bậc giác ngộ (giải thoát) (nếu tâm vị này tương thông một ngàn thế giới) thì cũng có nghĩa là mình cúng dường một ngàn thế giới. Khi mình chửi bới 1 phàm phu, tương đương mình chửi bới 1 thế giới. Khi mình chửi bới 1 bậc giác ngộ (giải thoát) thì tương đương mình chửi bới một ngàn thế giới.

Túm lại, khi mình cúng dường, khen ngợi, chửi bới hay làm hại một người mà tâm càng nhiều ngăn ngại thì quả mình thọ nhận càng nhỏ, khi mình cúng dường, khen ngợi, chửi bới hay làm hại một người mà tâm càng ít ngăn ngại thì quả mình thọ nhận càng lớn.

Thứ Năm, 14 tháng 9, 2017

Một bậc giác ngộ khác với một bậc giác ngộ giải thoát như thế nào?

Giác ngộ là mới thấy tánh (hay còn gọi là kiến tánh). Nếu ngay lúc thấy tánh mà nhập Niết Bàn luôn thì xem như hết chuyện. Nhưng nếu không nhập Niết Bàn lúc ấy mà lại ráng tiếp tục duy trì cái thân ngũ uẩn thì dù đã thấy tánh vẫn bị tập khí sai khiến. Cho nên một bậc giác ngộ ngay lúc kiến tánh, chính tại thời điểm ấy thì rũ sạch tập khí, vì vậy nếu chết vào lúc đó thì nhập Niết Bàn. Còn thời cơ nhập Niết Bàn ấy trôi qua rồi, phải tiếp tục sống với thân ngũ uẩn thì phải tiếp tục tu để rũ sạch tập khí. Nếu may mắn có thể rũ sạch tập khí ngay kiếp sống này thì khi nào rời bỏ thân ngũ uẩn sẽ thể nhập Niết Bàn. Bằng không phải tái sanh tới lui thêm tối đa 7 lần nữa. Cho nên chớ nhầm 1 bậc giác ngộ hay một người đã kiến tánh là đã xong chuyện lớn. Chưa xong đâu, còn phải đến giai đoạn thể nhập tánh nữa. Cho nên kiến tánh khởi tu là vậy đó.

Còn một bậc giác ngộ giải thoát là người sau khi kiến tánh tiếp tục tu để thể nhập tánh. Khi thể nhập tánh thì chắc chắn là giải thoát cho nên người này gọi là bậc giác ngộ giải thoát. Người thể nhập tánh là người chứng quả Bất Lai hay còn gọi là Vô Sanh Pháp Nhẫn.

Một vị đã kiến tánh thì phải đi tiếp để thể nhập tánh. Còn vị đã thể nhập tánh rồi thì ung dung tự tại mà khám phá ra sự vi diệu của tánh trong cuộc sống hằng ngày.
Chỉ có bậc giác ngộ giải thoát hay nói cách khác là bậc thể nhập tánh mới có thể thấu tỏ nhân quả, vì thấu tỏ nên không còn lầm nhân quả nữa, hay nói cách khác vị này đã quy phục hoàn toàn nhân quả. Vì quy phục hoàn toàn nhân quả mà không còn trở lui lại nữa. Còn vị kiến tánh hay mới chỉ giác ngộ thì vẫn còn bị nhân quả sai khiến nên vẫn phải tái sanh.

Người đã giác ngộ thì mọi thứ đã an bày. Đúng là vậy, một người giác ngộ rồi thì việc giải thoát là việc tất nhiên. Tất nhiên nghĩa là dù họ có khởi ý muốn tiếp tục tu hay không thì vẫn không thành vấn đề, vì tập khí tự tu chứ không phải họ tu. 

Từ bi vô lượng

Không dừng lại không bước tới Như Lai bước khỏi bộc lưu.
Dừng lại là chống đối
Bước tới là chạy theo
Bộc lưu là dòng chảy luân hồi sanh tử.
Khi đối cảnh, không chống đối cũng không chạy theo cảnh thì bước khỏi luân hồi sanh tử.
Thế nào là không chống đối cũng không chạy theo? Đó là hòa, hòa nhập thành một vào cảnh.
Bậc giác ngộ giải thoát khi đối cảnh thì hòa vào cảnh. Khi hòa vào cảnh thì thành kiến định kiến vắng mặt, tâm phán xét, tâm chỉ trích, tâm sân hận không có cơ hội bộc lộ. Khi ấy từ bi vô lượng tự hiển lộ.

Còn phàm phu khi đối cảnh thì hoặc là chống lại hoặc là chạy theo. Có người chọn thái độ dửng dưng mặc kệ. Dửng dưng mặc kệ cũng là một cách chống đối. Vì khởi tâm chống đối hoặc chạy theo cho nên từ bi với tâm khởi như vậy là từ bi của sự dính mắc hay còn gọi là bi ái, khác hẳn với sự từ bi vô lượng của bậc giác ngộ giải thoát. Từ bi không dính mắc, từ bi do vắng đi sân hận và phán xét, cho nên từ bi ấy mới là vô lượng.

Thứ Tư, 13 tháng 9, 2017

Tự làm kem chuối bá đạo

Nguyên liệu để làm món này đa phần đến từ vườn. Cách làm là như sau:
- Chuối chín cây, đốn đem vào để cho chín rục thì lột vỏ rồi bóp nhuyễn.
- Khoai lang luộc chín rồi lột vỏ, bóp nhuyễn.
- Đậu phộng rang chín vàng rồi cà vỏ, sau đó đâm nhuyễn.
- Dừa khô lột vỏ xong, chẻ đôi lấy nước uống, rồi dùng bàn nạo để nạo cái dừa ra.
Sau khi chuẩn bị hết các thành phần thì cho vào thau trộn chung lại với nhau. Chuối, khoai lang, đậu phộng, dừa nạo, rưới thêm sữa không đường cho thơm thơm.
Trộn đều các thành phần với nhau, sau đó lấy muỗng múc cho vào bịch ny lông, dùng tay ấn cho dẹp dẹp Sau đó cho vào tủ đông.
Xong rồi măm măm thôi.
Chỉ là kem chuối thôi mừ, có cần ngon dữ vậy hem.

Hổng có miếng đường nào cả mà nó ngọt lịm lịm lịm cả người.