Thứ Ba, 7 tháng 11, 2017

Giảng Kinh Thánh bằng ngôn từ Phật học


1. Một trong 10 điều răn của Chúa dành cho con chiên là: Chỉ thờ Ta, không thờ bất cứ thánh thần của các tôn giáo khác. Chỉ biết Ta, hãy phá tan thánh thần của các tôn giáo khác. 

Ta ở đây nghĩa là sự phát triển về tâm linh. Thánh thần của các tôn giáo khác nghĩa là các điều kiện vật chất như tiền tài danh vọng. Người theo đuổi sự phát triển tâm linh thì không theo đuổi tiền tài danh vọng; người chỉ biết đến tâm linh thì phá sạch sự thờ phụng tiền tài danh vọng. 

2. Một trong những câu nói bất hủ của Chúa:
Ta đến bằng gươm giáo, con chống đối cha, vợ chống đối chồng... Các ngươi sẽ thù hận chém giết lẫn nhau... chứ không đem đến bằng Hoà Bình.

Chúa nói như vậy thì Chúa có từ bi không?

Maya đáp: Chúa rất từ bi. Vì sao? Vì khổ là thầy của mọi người, khổ là đạo sư chân chính nhất. Con người không bao giờ có thể giác ngộ giải thoát nếu chưa từng trải nghiệm khổ, chưa từng thấu hiểu khổ. Chỉ khi khổ đến tận cùng, khổ đến chết đi sống lại, khổ đến mức bản ngã buông xuôi, bản ngả không chống cự lại được nữa, thì chính khi ấy con người mới có thể giác ngộ.

Thời Phật còn tại thế, biết bao người đã trải qua tận cùng của nỗi khổ, và khi gặp, Đức Phật chỉ thuyết một bài pháp là họ buông tay đi theo ổng luôn. Cho nên khổ là thầy của mọi thầy là vậy đó. Nếu chưa từng trải qua khổ thì dù Đức Phật có nói suốt ngày đêm thì vẫn quyết tâm không giác ngộ hihihi.

3. Một trong những câu nói bất hủ của Chúa:
Ta đến bằng gươm giáo, con chống đối cha, vợ chống đối chồng... Các ngươi sẽ thù hận chém giết lẫn nhau... chứ không đem đến bằng Hoà Bình.

Chúa nói như vậy thì Chúa có từ bi không?

Maya đáp: Chúa rất từ bi. Vì sao? Vì khổ là thầy của mọi người, khổ là đạo sư chân chính nhất. Con người không bao giờ có thể giác ngộ giải thoát nếu chưa từng trải nghiệm khổ, chưa từng thấu hiểu khổ. Chỉ khi khổ đến tận cùng, khổ đến chết đi sống lại, khổ đến mức bản ngã buông xuôi, bản ngả không chống cự lại được nữa, thì chính khi ấy con người mới có thể giác ngộ.

Thời Phật còn tại thế, biết bao người đã trải qua tận cùng của nỗi khổ, và khi gặp, Đức Phật chỉ thuyết một bài pháp là họ buông tay đi theo ổng luôn. Cho nên khổ là thầy của mọi thầy là vậy đó. Nếu chưa từng trải qua khổ thì dù Đức Phật có nói suốt ngày đêm thì vẫn quyết tâm không giác ngộ hihihi.

4. Một trong những câu mà các con chiên hay nói là:

Người giàu mà vào được nước Chúa là việc bất khả thi như con voi mà chui qua lỗ kim vậy đó.

Vậy là người giàu bị chỉ trích, phê phán và được khuyên là phải làm từ thiện, là phải đóng góp tiền của vào việc này việc nọ.

Ý Chúa hổng phải nói người giàu tiền giàu bạc mà Ý Chúa ở đây là: Người giàu nghĩa là người giàu lòng tham đấy. Hay nói cách khác là người tham thì không vào được nước Chúa. Dù người ấy có nhiều tiền hay ít tiền mà một khi quá dư lòng tham thì không thể vào được nước Chúa.

Tương tự, người mà có tập khí Tham quá dày thì làm sao mà Thể Nhập Tánh (vào nước Chúa) được chớ!

Chết rất là vui!

Vì chỉ có ai biết cách sống thì mới biết cách chết. Nghệ thuật sống chính là nghệ thuật chết. Người không thực sự sống thì người đó rất sợ chết. Đó là lý do mà người ta luôn dạy cách sống chứ không ai dạy cách chết. Vì sống thế nào thì chết như thế nấy.

Nói rằng chết rất là vui là vầy nè! Một người sống thực sự, sống toàn tâm toàn ý, sống phừng phừng từng phút một thì khi năng lượng hết rồi, hổng chết thì làm gì giờ trời!

Túm cái ý lại rằng người sợ chết hay hoài nghi về cái chết là do người ấy không biết cách sống. Đơn giản ghê chưa!

Thế nào là tâm? Thế nào là cảnh? Thế nào là không đồng nhất mình với tâm và cảnh? Thế nào là Bát Phong Bất động?

Có một cái không phải là tâm cũng không phải là cảnh, đó là cái ao. Tâm là dòng nước lưu chuyển trong cái ao ấy. Cảnh là những con cá bơi lội tung tăng trong ao.

Cá bơi kiểu gì đó là việc của cá; cử động bơi của cá tác động vào nước làm cho nước có những chuyển động theo cá. Còn cái ao thì vẫn là cái ao, như như bất động. Cá bơi kệ cá, nước chuyển kệ nước, ao vẫn cứ vậy mà ôm cả cá lẫn nước vào lòng, không phán xét việc bơi của cá, không chỉ trích việc chuyển động của nước.

Ao, cá và nước là riêng biệt nhưng lại hòa vào nhau thành một, đó là cái ao cá. Việc ai nấy làm, không pha tạp lẫn lộn vào nhau.

Bát phong bất động không phải là mô tả trạng thái đứng im của nước, mà chính là mô tả trạng thái đứng im của cái ao. Dù gì thì cái ao vẫn im lặng ôm cả cá lẫn nước vào lòng, không phán xét chê bai chỉ trích gì cả. Đó chính là sự từ bi không ngần mé, từ bi vô thượng của cái ao đối với nước và cá.

Vì lầm chấp ao là nước nên tìm cách làm cho nước đứng im bất động trước mọi chuyển động của cá. Đây là phi nhân quả. Vì phi nhân quả nên chỉ có thể vào được các cảnh giới trời chứ vẫn chưa xuất ra khỏi tam giới được đâu nha!

Đến khi nào tự thấy biết sự khác biệt giữa ao, cá và nước thì khi ấy mới là xong việc lớn!

Ai trong chúng ta mỗi ngày đều hưởng hương vị pháp mà tại không biết đấy thôi. Như vậy là sao?

Là vầy nè: Bậc giác ngộ là cái ao cá, còn người chưa giác ngộ là cái lu cá hay là cái ca cá. Dù giác ngộ hay chưa giác ngộ thì cũng vậy hà. Cũng vậy là sao? Nghĩa là cho dù có là cái ao, cái lu hay cái ca thì khi nào chúng ta không đồng nhất cái ao/cái lu/cái ca với nước và cá thì khi ấy chúng ta đang ở cảnh giới của Phật toàn giác, cảnh giới giác ngộ viên mãn. Mà mỗi ngày chúng ta làm việc này nhiều lần lắm rồi, do chúng ta không nhận ra thôi.
Đó là lý do mà tôi nói: Ai cũng có nhân chủng Phật toàn giác là vậy đó.

P.S Ai không có ao cá, không có lu cá thì lấy cái ca nước và cho vài con cá vào đó rồi ngồi ngó miết, ngó miết, ngó miết có khi giác ngộ ra luôn đó nha!

Vì sao có câu: Nếu là bậc chân tu, không thấy lỗi của đời?

Túm cái ý lại là nếu thấy lỗi đời hay lỗi người thì ngay ấy mình có lỗi.

Khi mình thấy lỗi người điều ấy thể hiện rằng mình không thấu tỏ được Nhân Quả hay mình chưa thông suốt lý Nhân Duyên.
Khi thấu Nhân Quả, thông được Nhân Duyên thì không có bất cứ cái gì được gọi là lỗi cả. Tất cả mọi thứ đều theo đúng sự vận hành của Nhân Quả. Cái này có cái kia có, cái này diệt cái kia.

Thấy lỗi nghĩa là chỉ nhìn ra được bề mặt, khi thấu suốt được cả bề chìm của cái được gọi là lỗi thì cái ấy hoàn hảo theo đúng với nó nên nó không hề lỗi. Lỗi nằm ở ngay trong tâm thức của chính mình, không hề nằm nơi cảnh. Lý do thấy lỗi là thiếu trí tuệ để thấu Nhân Quả và thông Nhân Duyên.

Đó là lý do bậc chân tu, bậc trí tuệ không thấy lỗi của người, cũng không thấy lỗi mình, chỉ thấy Nhân Quả vận hành chính xác từng tý từng tý một mà thôi.

Thấy lỗi người là tâm phóng dật
Chỉ thấy lỗi mình thì khi ấy biết hồi quang phản chiếu, phản quang tự kỷ.
Không thấy lỗi người lẫn không thấy lỗi mình, túm lại là không có cái được gọi là lỗi, mọi thứ hoàn hảo theo luật Nhân Quả, ấy là bậc đã thể nhập tánh hay còn gọi là thể nhập Chân Lý Nhân Quả, không còn lầm Nhân Quả nữa.


Có câu hỏi: Giác ngộ rồi thì sao nữa? Giác ngộ rồi thì làm gì? Vì sao cần giác ngộ?

Để trả lời những câu hỏi này thì tôi kể một câu chuyện cổ tích nha!

Câu chuyện như sau: Ngày xửa ngày xưa, trong một khu rừng nọ, có một cái cây to thiệt to và cao thiệt cao. Cây tỏa bóng mát nguyên một vùng, và quả thì ngọt lịm lịm lịm. Chim chóc khắp nơi bay về ăn trái và làm tổ, líu ra líu ríu suốt ngày trên cây. Ăn xong rồi chim ị luôn xuống gốc cây. Cây chẳng thấy phiền vì tiếng líu ríu của chim cũng không chê trách rằng phân chim dơ làm bẩn gốc cây. Cây cứ lặng im làm nhiệm vụ của mình. Đó là ra quả ngọt và tỏa bóng mát. Phân chim được cây dùng làm phân bón nên càng nhiều phân thì cây càng phát triển, quả càng nhiều và ngọt, bóng mát tỏa từ cây càng lan ra. Vì vậy mà cây được gọi là đại thụ.

Người thực sự giác ngộ sống cũng y như cây đại thụ vậy đó.

Vì sao chúng ta cần có những bậc giác ngộ?
Đơn giản là vì cuộc đời cần những cây đại thụ, lặng lẽ tỏa bóng mát và cho quả ngọt, không phê phán lên án chỉ trích tiếng líu ríu của chim chóc cũng không phiền hà vì phân chim rơi vẩy khắp thân cây.


Vì sao tôi gọi Nhân Quả là Mẹ?

Vì Nhân Quả đúng là một bà mẹ hiền. Thương cho roi cho vọt. Mẹ rất thương chúng ta, luôn theo sát chúng ta mọi lúc mọi nơi. Không bao giờ Mẹ bỏ quên chúng ta. Đó là một bà mẹ rất thương con và cũng cực kì nghiêm minh. Không một người nào, kể cả chư Phật ba đời là không do Mẹ sanh ra. Mẹ sanh ra tất cả chúng ta và đối xử với chúng ta cực kì công bằng và bình đẳng.

Nhờ được Mẹ thương yêu và chiếu cố thì chúng ta nên người. Đó là lý do người càng trải nghiệm nhiều điều trong cuộc sống là người càng dễ quay về với Mẹ. Vì được Mẹ đánh miết, đánh miết, đánh miết, đánh đến khi nào không còn ngoan cố, không còn bướng bỉnh, không còn chống cự lại Mẹ nữa, khi ấy buông lơi bản ngã, buông bỏ sự cố chấp, hoàn toàn quy phục Mẹ.

Đó là lý do nhiều người nói người giả dễ tu hơn người trẻ. Thật ra chữ già ở đây không có nghĩa là tuổi tác mà có nghĩa là sự già dặn về trải nghiệm sống, càng nhiều trải nghiệm sống, nghĩa là càng chịu nhiều đòn roi của Mẹ thì càng trưởng thành. Trưởng thành nghĩa là chín chắn, nghĩa là bồ đề tâm trổ quả.

Đó là lý do chúng ta không nên sợ Mẹ Nhân Quả. Mọi người hay lấy Nhân Quả ra hù như người ta lấy ông ba bị ra hù trẻ con vậy đó. Càng được Mẹ Nhân Quả đánh thì càng nên người. Bởi vậy thay vì sợ bị Mẹ đánh thì nên mong sao cho Mẹ đánh mình hoài hoài, đánh miết miết để làm sao trong kiếp sống này mình có thể trở về quy phục bên Mẹ. Đó là điều may mắn nhất!

Bởi vậy mọi người đừng sợ làm sai, đừng sợ nói sai, đừng sợ mà không dám làm hay không dám nói. Cứ thấy cái gì hợp là làm, cái gì có lý thì nói. Vì Mẹ Nhân Quả giám sát chúng ta kỹ lắm. Hễ sảy một cái là bị Mẹ quất roi liền hà. Mà nhờ được quất hoài quất miết trầy da tróc thịt hết trơn mà chúng ta không sảy chân nữa.


Đó là lý do người giác ngộ hay còn gọi là người trưởng thành là người DỪNG/NGỪNG làm các việc ác. Nên lưu ý  là DỪNG LÀM chứ không phải là KHÔNG LÀM. Vì trước khi Dừng thì bị Mẹ oánh tơi bời rồi, nhờ vậy mà khôn ra mới Dừng được chớ. 

Mẹ Nhân Quả đánh càng nhiều thì càng dễ giác ngộ, cho nên đừng có sợ gieo nhân gì cả. Cứ việc theo đúng cái mình cho là đúng mà làm. Nếu cái ấy không thật đúng thì sẽ được Mẹ Nhân quả đánh. Nhờ được Mẹ Nhân quả đánh thì mình mới ngộ rằng cái ấy là không đúng, nên mới dừng lại được (đó là lý do bậc giác ngộ giải thoát là bậc dừng làm các việc ác). Nếu không tự thân ngộ ra điều ấy mà chỉ nghe người này người kia nói thì đó chỉ là cái biết của sở tri chướng. Cho nên phải có Mẹ Nhân quả đánh thì mới thật sự ngộ là vậy đó.

Biết rõ luật trời thì sống rất an nhiên. Biết rõ luật Nhân Quả thì sống rất tự tại. Vì mình làm cái gì là mình biết Mẹ Nhân Quả chuẩn bị đánh đòn mình như thế nào. Cái mình làm xong, mình chuẩn bị sẳn roi đưa cho Mẹ Nhân Quả, mình chuẩn bị sẳn mông cho Mẹ đánh đòn vì mình biết chắc chắn điều đó luôn. Vậy mà Mẹ Nhân Quả cũng biết thiên vị con cái dễ sợ luôn nha! Thấy con biết ăn năn hối lỗi là Mẹ đánh nhẹ hều hà, hổng đau gì hết trơn!

Mẹ Nhân Quả thương con lắm! Đứa nào vừa ngu vừa lì là Mẹ đánh tàn bạo luôn cho bỏ tật lì. Còn đứa nào ngu nhưng mà hổng lì, biết ăn năn, biết sắp sẳn roi đưa mông cho Mẹ đánh là Mẹ giơ cao đánh khẽ thôi hà. Hiểu rõ Mẹ Nhân Quả thì sống bình thản lắm! Nhờ hiểu Mẹ nên ít lì, còn không hiểu Mẹ thì lì lắm, càng lì thì Mẹ càng đánh cho thật đau cho bỏ tật lì.

Thế nào là nhiệm vụ của minh sư?

 Họ có hai nhiệm vụ chính sau:

Thứ nhất, sự xuất hiện của họ chính là một sự gieo duyên. Tất cả mọi thứ xuất phát từ họ, từ lời nói cho đến hơi thở hành vi cử chỉ của họ, tất cả đều là để gieo duyên. Nhờ những hạt giống mà những bậc giác ngộ hay những minh sư cần mẫn gieo như những chú kiến, cứ từng chút một từng chút một mà đến một lúc nào đó đủ nhân đủ duyên, chúng ta mới có cái gọi là thoát nhiên ngộ, tự nhiên ngộ, đột nhiên tỉnh giấc. Không có gì là đột nhiên cả nếu không được gieo từ trước. Và khi chúng ta giác ngộ, chúng ta cũng làm y như họ, cần mẫn gieo duyên cho người. Cứ thực hiện hạnh nguyện của mình, không cần lời khen hay động viên, bình thản tỏa bóng mát và cho quả ngọt như những cây đại thụ. Chim có ỉa lên thân cây thì họ dùng đó làm phân bón cho cây.

Dù chúng ta có biết họ hay không, có gặp được họ hay chưa, có biết họ ở nơi nào hay không cũng không quan trọng, tất cả chúng ta đều đang tận hưởng duyên do họ gieo hằng ngày mà không biết đấy thôi.

Đó là lý do thiện tri thức chưa bao giờ rời bỏ chúng ta, họ luôn luôn bên cạnh chúng ta.

Đó là nhiệm vụ thứ nhất.

Nhiệm vụ thứ hai của minh sư là họ ấn chứng ở những chỗ giao lộ. Giao lộ là sao? Ai muốn đi đường nào thì tùy theo căn cơ mỗi người. Nhưng mọi con đường đều dẫn đến những giao lộ. Những người từng đi qua những giao lộ này thì họ biết đó là gì nên họ có thể ấn chứng cho người khác. Có những giao lộ lớn như chứng ngộ tam pháp ấn, kiến tánh, thể nhập tánh. Nhưng cũng có vô số giao lộ nhỏ. Ai đi đường nào cũng được, đi thế nào cũng chẳng sao, nhưng khi đến giao lộ thì minh sư sẽ bảo: con đi đúng đường rồi đấy. Rồi từ giao lộ ấy lại tiếp tục đi con đường của riêng mình. Rồi lại đến giao lộ khác, rồi lại ấn chứng. Cứ tiếp tục vậy hoài thì sẽ đến những giao lộ lớn thôi hà.

Một minh sư đúng nghĩa không xen vào con đường người khác đi, không phê phán, chê bai, chỉ trích con đường của ai cả. Vì ai cũng có con đường riêng, không hề giống con đường của bất cứ người nào khác. Minh sư chỉ có nhiệm vụ gieo duyên và ấn chứng ở những giao lộ thôi hà.


Cho nên ai chưa đến giao lộ mà hỏi cái này cái nọ thì họ cũng chẳng chỉ được đâu, mà có chỉ thì mình cũng chẳng đi theo họ được. 

Thế nào là Kiến tánh khởi tu và Kiến tánh thành phật?

Hai câu này thật ra chỉ là một.

Kiến tánh là gì? Kiến tánh không phải là kiến cái tánh không mà kiến tánh là thấy ra niệm thứ nhất/niệm nguyên thủy hay còn gọi là niệm trước tưởng thức.

Thế nào là kiến tánh khởi tu? Sau khi thấy ra niệm nguyên thủy thì mới bắt đầu bước đi trên con đường Phật thừa, con đường giác ngộ viên mãn. Nói vầy đi cho dễ hình dung. Trước khi kiến tánh thì chỉ là cầu thủ dự bị, còn sau khi kiến tánh thì mới là cầu thủ chính thức. Khi nào là cầu thủ chính thức rồi thì mới thực sự tham gia vào trận đá bóng. Kiến tánh khởi tu là vậy đó.

Thế nào là kiến tánh thành Phật? Để có thể kiến tánh thì phải có đại nguyện phụng sự chúng sanh. Lấy tái sanh làm phương tiện. Lấy tam giới làm nhà. Lấy việc làm osin cho tam giới làm sự nghiệp. Chỉ ai có đại nguyện như vậy thì mới có thể kiến tánh. Người có đại nguyện như vậy thì chắc chắn sẽ thành Phật. Có đại nguyện làm Phật rồi thì mới có thể kiến tánh. Cho nên kiến tánh thành Phật là vậy đó.

Để có thể phát đại nguyện và đại nguyện được chư thiện tri thức ấn chứng thì đầu tiên phải qua được Tam Pháp Ấn, nghĩa là phải chứng ngộ Khổ Vô Thường Vô Ngã, hay còn gọi là chứng ngộ Tánh Không. Khi chứng ngộ Tam Pháp Ấn thì tâm mới có thể tương ưng thiện tri thức. Khi tâm tương ưng thiện thi thức thì khi phát đại nguyện, thiện tri thức mới ấn chứng. Thiện tri thức ấn chứng xong rồi mới có thể kiến tánh.

Nếu không qua hết những giai đoạn này thì không thể nào kiến tánh.

Kiến tánh không phải là cái danh hiệu hay phù hiệu gì hay ho đâu. Kiến tánh xong rồi thì phải trải qua một cuộc hành trình triền miên và đăng đẳng, đầy gay go và khổ nhọc của công việc osin đúng nghĩa. Chỉ làm osin cho gia đình mình thôi là đã oải rồi, còn đây là làm osin cho tam giới một cách triền miên và bền bĩ. 

Ghi chú các khái niệm:

  • Tánh Không trong Đại thừa chính là Pháp Ấn Vô Ngã (một trong Tam Pháp Ấn Khổ- Vô thường- Vô Ngã) của Nguyên Thủy. Từ ngữ có khác nhau nhưng đều để chỉ cùng một việc.


  • Chứng ngộ được Tánh Không cũng có nghĩa là chứng ngộ được Tam Pháp Ấn. Một khi chứng ngộ được Tánh Không (Vô Ngã) thì dĩ nhiên sẽ chứng ngộ được hai pháp ấn còn lại.


Nhưng đây vẫn chưa phải là Kiến Tánh. Tánh trong Kiến Tánh không có nghĩa là Tánh Không mà có nghĩa là Niệm Nguyên Thủy/ Niệm ban đầu hay còn gọi là Niệm trước Tưởng Thức.


  • Thể Nhập Tánh không có nghĩa là Thể Nhập Tánh Không mà có nghĩa là Thể Nhập Chân Lý Nhân Quả. Người thể nhập Chân Lý Nhân Quả thì không còn lầm Nhân Quả nữa. Chính vì không còn lầm Nhân Quả nên họ biết rõ nên gieo nhân gì tạo duyên gì để tái sanh, tái sanh như thế nào, tái sanh ở đâu, tái sanh bằng cách nào,……….. Đó chính là những Đại thừa Bồ tát với những đại nguyện nhằm phục vụ chúng sanh. Và họ tái sanh cũng chỉ để phục vụ chúng sanh mà thôi.

Thứ Hai, 6 tháng 11, 2017

Vì sao có câu: Bồ tát bó tay là Bồ tát hay. Bồ tát thài lai là Bồ tát dở.

Thế nào là Bồ tát hay? Bồ tát hay là Bồ tát đã thể nhập Chân Lý Nhân Quả, thấu tỏ Nhân Quả, nên không xen vào sự vận hành của Nhân Quả, không xen vào con đường giác ngộ của người khác.

Thế nào là bó tay?

Bó tay nghĩa là tôn trọng con đường giác ngộ của từng người. Ai cũng đang trong quá trình học hỏi của chính mình. Không xen vào vì nếu xen vào thì chỉ làm chậm đi sự giác ngộ của họ mà thôi. Ví như một con sâu bướm ở trong cái nhộng phải tự thân trải qua sự vật vã đau đớn, tự thân xé bỏ được cái kén thì mới thành con bướm mà tung cánh bay khắp được. Còn nếu xen vào quá trình nhân quả từ nhộng thành bướm, nghĩa là nhìn thấy sự vất vả khổ nhọc của con sâu bướm trong sự trưởng thành thành con bướm quá đau đớn nên đưa tay CỨU GIÚP bằng cách xé tan cái kén bướm ra. Do đây là việc làm phi nhân quả nên con bướm dù ra khỏi kén nhanh hơn những con khác nhưng không bao giờ có thể bay được, chỉ có thể quanh quẩn trên mặt đất mà thôi.

Bó tay nghĩa là tôn trọng quá trình giác ngộ của người khác, không chen ngang, không xen vào.

Thế nào là Bồ tát dở? Bồ tát dở là Bồ tát không thấu tỏ Mẹ Nhân Quả. Do không thấu tỏ Mẹ Nhân Quả nên khởi ý thương, khởi ý bi ái và xen vào việc làm của Mẹ để CỨU người này người nọ. Nói là cứu chứ thật ra lại làm chậm tiến trình giác ngộ của họ.

Ví dụ: Một kẻ có nhân giết người và muốn giết người khi đã đủ duyên. Vì thương kẻ này nên Bồ tát ra tay khuyên giải hòng cho kẻ ấy bỏ ý định giết người. Nghe lời khuyên giải của Bồ tát nên vị này từ bỏ ý định giết người. Rồi lại tái sanh, rồi lại muốn giết người, rồi lại được khuyên, rồi lại tái sanh, rồi lại muốn giết, rồi lại được khuyên,….Lời khuyên của Bồ tát là cái đến từ bên ngoài, không phải do vị này tự thân ngộ ra và dừng hành động giết người ấy được. Do vậy mà cái nhân ấy cứ theo cùng miết khi tái sanh và ngày càng lớn hơn. Đến lúc nào đó khi quả thật sự trổ, vị này trải qua sự giết người, trải qua trận đòn của Mẹ Nhân Quả cho hành vi giết người, thấu rõ thân tâm của kẻ giết người là như thế nào, thực sự tự thân trải nghiệm điều kinh khủng ấy thì phát sanh sự sợ hành vi ấy mà dừng hành vi ấy lại. Chẳng những dừng mà còn có thể cảm thông, bao dung và tha thứ cho những kẻ giết người. Dù cho kẻ ấy có giết chính mình thì cũng tha thứ được. Vì sao? Vì từng trải qua trải nghiệm giết người ấy, từng hiểu rõ thân tâm khi ấy nên mới có thể yêu thương, bao dung và tha thứ cho kẻ giết mình. Nếu không tự thân trải qua những điều này thì  không thể hiểu và không thể thương mà tha thứ được.

Vậy nếu không có Bồ tát dở xen ngang vào, có phải vị này đã trải nghiệm và giác ngộ ra hành vi giết người từ bao nhiêu kiếp trước rồi ư? Do lời khuyên của bồ tát mà làm trì hoãn sự giác ngộ ra hành vi ấy biết bao kiếp.

Đó là lý do Bồ tát thài lai là Bồ tát dở vì xen vào con đường giác ngộ của người khác và làm chậm đi tiến trình giác ngộ của họ.

Nhiệm vụ của một Bồ tát đúng nghĩa là tỏa bóng mát và ra quả ngọt, chứ không phải là xen vào công việc của Mẹ Nhân Quả.

Có người hỏi rằng: Vậy nếu Mẹ Nhân Quả đánh hoài mà không không ngộ thì sao?

Đáp rằng: Vì chưa đủ duyên để ngộ. Do vậy mà sẽ bị đánh tiếp, đánh miết, đánh đến lúc nào đó sẽ vỡ òa ra giác ngộ rằng đó là sai. Khi tự thân mình ngộ ra điều ấy thì mới dừng lại hành vi ấy. Khi dừng được rồi thì dù có tái sanh bao nhiêu kiếp đi chăng nữa thì cũng chẳng dám lặp lại lỗi lầm cũ.

Thứ Bảy, 4 tháng 11, 2017

Tôi quả là có duyên với Kinh Pháp Hoa!

Ngôi chùa Nhật Bản này chỉ thờ Kinh Pháp Hoa và tụng đúng câu Nam Mô Diệu Pháp Liên Hoa Kinh mỗi ngày. Tôi không biết tiếng Nhật nhưng tôi có thể tụng kinh Pháp Hoa bằng tiếng Nhật với tăng ni trong chùa mỗi sáng và chiều tối. Người Nhật thì họ đọc thẳng bằng tiếng Nhật, còn người không biết tiếng Nhật thì được phát bộ kinh có phiên âm ra chữ La tinh. Tụng theo họ, không phải là tôi đọc lí nhí trong miệng trong nha, đọc lớn tiếng hòa âm cùng họ luôn đó. Có lần trong chùa không có ai, tôi cùng 1 cô ni đại diện chùa đến dự một buổi lễ nào đó của địa phương và tôi cùng cô ni đọc tụng 1 đoạn kinh Pháp Hoa. Chỉ có 2 người thôi, mới đầu tôi cũng run, sợ không tụng hòa âm với cô ni được. Vậy mà mọi việc xảy ra suông sẻ đến không ngờ. Và tôi cũng không ngờ tôi có thể tụng và hòa âm nhịp nhàng đến vậy luôn đó. Ai cũng tưởng tôi là người Nhật, hoặc ở chùa đó lâu lắm rồi hoặc ít ra phải biết tiếng Nhật. Hổng ngờ tôi vừa không phải người Nhật, không biết tiếng Nhật và vừa ở đó được có vài tuần thôi hà. Vui ghê!

Mấy người Nhật ở chung bảo: Nghe nói dân Việt Nam thông minh lắm mà giờ mới được tận mắt thấy nè! He he he he he. Hổng phải do tôi thông minh mà do tôi có duyên với kinh Pháp Hoa mấy ông ơi!

Đỉnh điểm duyên của tôi là chuyện này nè! 

Hôm ấy là ngày gì quên mất rồi mà có nguyên một đoàn người dân của quốc gia ấy đến viếng chùa đúng ngay buổi lễ chiều tối. Họ đến từ nơi xa, dù họ nói họ là Phật tử nhưng thật ra gốc của họ vẫn là Bà La môn giáo, nên họ bị ảnh hưởng bởi Bà la môn giáo nhiều hơn.

Lúc ấy tôi cùng sư trụ trì và vài Phật tử người Nhật vừa đi công chuyện bên ngoài về, chưa kịp nghỉ ngơi gì là đến giờ tụng kinh buổi chiều. Do có nguyên đoàn khoảng 20 người khách đến chùa nên mọi người phải lên chánh điện hết để tụng câu Nam Mô Diệu Pháp Liên Hoa, mục đích là tụng cho những vị khách này nghe câu này, để gieo duyên với họ và để họ có thể học mà tụng theo.

Theo truyền thống trong chùa thì mỗi khi tụng câu này, mỗi người đều được phát một cái trống cầm tay, vừa tụng vừa gõ trống, tiếng tụng và tiếng trống hòa vào nhau nhịp nhàng như một bản nhạc. Chỉ cần không khớp một âm là bản nhạc lạc điệu liền hà. Cho nên để hướng dẫn người mới thì những người cũ phải tụng và gõ liên tục cho họ bắc chước làm theo, gọi là dìu. Thường người mới thì họ gõ trống nhẹ nhẹ, tụng nhỏ nhỏ để nếu có lạc điệu thì không phá buổi lễ

20 vị khách này, mỗi người được sư Nhật bản phát cho một cái trống tay, và câu Nam Mô Diệu Pháp Liên Hoa Kinh bằng tiếng Nhật được phiên âm ra tiếng La Tinh khắc trên bản gỗ để trước mặt họ. Vậy mà họ vẫn không đọc được, họ chỉ gõ trống thôi, mà họ chẳng biết cách gõ cho hòa giọng đọc, họ gõ theo kiểu Bà La Môn giáo, gõ rất lớn và không theo tiếng tụng gì cả.

Trùi ui, thấy họ mà nản ghê luôn, đã không biết mà còn gõ trống cho thiệt lớn, y như họ đang phá buổi lễ vậy đó. Nhưng quan trọng là họ không biết họ đang phá, họ chỉ tưởng họ phải ra tay gõ thật mạnh vào trống thì thần linh mới chứng, nên người nào cũng ráng gõ hết cỡ. Và để dìu họ thì người tụng phải tụng lớn hơn tiếng của 20 cái trống lạc điệu hợp lại. Tôi bó tay rồi nha!

Lúc ấy có mấy Phật tử Nhật Bản trẻ trẻ nản quá, bỏ ra khỏi chánh điện rồi. Còn lại vài cô hơi lớn tuổi và tôi (bởi tôi bị kẹt giữa 20 vị khách này, chứ nếu không chắc tôi cũng bỏ đi mất tiêu òi).

Cô ni giữ cái trống cái bên tay trái có việc gì đó nên nhờ 1 cô Phật tử người Nhật ngồi vào ghế trống cái thay cô ấy.

Được một lúc thì ông tăng ngồi ở trống cái bên phải ngoắc tôi lên ghế trống cái ngồi thế ổng. Còn ổng ra ngoài làm gì đó.

Hời ơi, nguyên cái chánh điện còn lại ông sư trụ trì, ngồi một mình phía trước gần bàn thờ Phật, trống cái bên trái là một cô Nhật Bản, còn trống cái bên phải là tôi, cùng 20 tay trống lạc điệu đang cố sức gõ cho thật mạnh.

Lúc ấy tôi cũng đuối lắm rồi, nhưng thấy sư trụ trì từ bi ghê gớm. Sư vẫn ngồi một mình một cõi đọc thật nhịp nhàng sang sảng câu Nam Mô Diệu Pháp Liên Hoa Kinh, đọc như thường lệ như hổng có chuyện gì xảy ra. Cái tôi tự hỏi: Sao sư làm được mà mình lại làm hổng được nhỉ? Rồi tôi cảm động bởi sự từ bi của sư quá nên tôi thực sự vào cuộc chiến nha. Thường tụng thì chia hai phe. Sư trụ trì đọc trước một mình câu Nam mô Diệu Pháp Liên Hoa Kinh. Sư vừa dứt thì những người khác bắt đầu đọc Nam Mô Diệu Pháp Liên Hoa Kinh. Cứ thay phiên nhau mỗi phe đọc một câu vậy đó. Cô Phật tử bên trống cái kia tắt tiếng rồi, nên cổ chỉ ngồi đánh trống thôi. Còn lại duy nhất sư trụ trì, cùng tôi chiến đấu với 20 tay trống lạc điệu. Cứ sư tụng 1 câu là tôi  tụng một tụng, cứ luân phiên vậy làm miết trong vòng mấy chục phút. Tiếng tụng vút lên cao hơn hẳn tiếng 20 tay trống lạc điệu kia, theo đúng tinh thần của trường phái này luôn. Tôi ráng giữ nhịp cùng sư nha. Trong vòng mấy chục phút tiếng tụng luôn ở trạng thái áp đảo tiếng 20 cái trống lạc điệu kia. Cứ thong thả từng tiếng một được buông ra, vút lên, áp đảo sự lạc điệu. Tôi không ngờ tôi lại làm được điều này. Có những lúc, đuối quá, chịu hết nổi, muốn nín lại luôn cho rồi vì sắp bể tiếng rồi, nhưng tôi nguyện: Thôi ráng cho con qua cơn này đi, và tôi chăm chăm vào tiếng tụng của sư, tiếng trống của sư, tập trung hết tinh thần và thể lực vào đó, không chú ý đến bất cứ điều, không chú ý đến bất cứ thứ gì, dù cho trời đất có sập , tôi cũng không quan tâm, vì chỉ cần tôi lãng ra một cái là tôi sụp đổ xuống liền luôn đó. Lúc ấy chắc có bồ tát trợ Kinh Pháp Hoa hỗ trợ cho tôi hay sao ấy, chứ sức một mình tôi không bao giờ có thể làm được điều này. Sự trụ trì thì còn ngồi cách xa 20 tay trống kia, còn tôi ngồi sát bên họ luôn. Và mặc dù 20 tay trống gõ tùm lum điệu kia nhưng buổi lễ vẫn diễn ra trong không khí cực kì trang nghiêm và thanh tịnh đến ghê gớm! Chắc do tôi tập trung dữ quá nên tôi thấy được sự thanh tịnh này chăng?
Bất chấp sự lung tung của 20 tay trống, mọi thứ vẫn rất khớp, rất nhịp nhàng như thể không có 20 tay trống kia tồn tại vậy đó.

Tôi cũng không biết tôi đã làm điều ấy như thế nào nhưng khi buổi lễ vừa chấm dứt, tôi buông tay trống, chuẩn bị đứng dậy lạy Phật là ánh mắt của 20 vị khách kia đều dồn về phía tôi, mở to với sự ngạc nhiên quá cỡ. Hổng biết sao họ ngạc nhiên đến vậy! Khi lạy Phật xong, buổi lễ hoàn toàn chấm dứt, sư trụ trì quay người lại, nhìn thẳng vào mắt tôi và trong ánh mắt sư lấp lánh một niềm vui khó tả.

Lúc ấy chẳng quan tâm đến gì nỗi nữa rồi, tôi phóng luôn về phòng, uống liền một lúc mấy viên thuốc thông giọng của Thái Lan. Công nhận thuốc tốt dễ sợ, uống xong là cổ họng được xoa dịu ngay lập tức, và tôi không bị tắt tiếng. Hôm sau tiếng nói vẫn bình thường như chưa hề có chuyện gì xảy ra.


Mục đích bài viết này là để quảng cáo thuốc thông giọng Thái Lan hahahahahaha