Thứ Ba, 29 tháng 4, 2014

Tiểu Hiếu, Trung Hiếu, Đại Hiếu

Trong nhà phật chữ hiếu có 3 chữ là Tiểu Hiếu, Trung Hiếu và Đại hiếu.


Tiểu hiếu tức là chăm nom , chăm sóc ân cần cha mẹ, bên cạnh hầu hạ cha mẹ làm cho cha mẹ vui đó là tiểu hiếu .



Trung hiếu là người con biết hướng dẫn dìu dắt cha mẹ học Phật pháp và khai mở trí huệ, tâm bồ đề tăng tiến khiến cho cuộc sống của cha mẹ được an nhàn tự tại hiểu được đạo lý của nhân sinh là Trung Hiếu .



Còn Đại hiếu chính là người con nổ lực tu hành đắc đạo, có đủ năng lực thần thông có thể nhìn thấy cha mẹ ở bất cứ cảnh giới sanh tử nào đều có thể hóa thân tiếp độ cho cha mẹ thoát khỏi biển sanh tử đi về nơi giác ngộ , đó mới chính là Đại hiếu là cái chữ hiếu mà nhà Phật muốn hướng đến . . . 



Ngược lại tìm cách tẩm bổ cho cha me bằng các loại thịt chúng sanh, các sơn hào hải vị, dẫn dắt cha mẹ vào những chốn vui đê mê hưởng thọ làm cho cha mẹ mất hết công đức, nghiệp quả mang đầy thì điều đó không còn là đạo hiếu nữa mà chính là Bất Hiếu mất rồi .Còn con người phải hữu tình mới nhìn thấy chân lý là đúng , nhưng phải hiểu hữu tình ở đây chính là tâm bình đẳng , không phải là hữu tình là có tình theo ngữ nghĩa thế gian . 



Sưu tầm



Thứ Hai, 28 tháng 4, 2014

VÔ MINH

H.T thiền sư Thích Thanh Từ


Hôm nay tôi được mời về giảng cho Ni chúng cũng như quý Phật tử một thời pháp. Tôi thường nói, làm sao cho tất cả người phát tâm tu đều biết được chánh pháp và thực hành đúng chánh pháp, đó là nguyện vọng của tôi.

Đề tài của thời pháp này là Vô minh. Khi biết rõ vô minh rồi, chúng ta mới có thể tìm cách tiêu diệt nó. Tiêu diệt được vô minh rồi, chúng ta sẽ giải thoát sanh tử. Chúng ta ai cũng biết trong mười hai nhân duyên, đức Phật nói cái đầu là vô minh. Từ vô minh duyên hành, hành duyên thức, thức duyên danh sắc, danh sắc duyên lục nhập, lục nhập duyên xúc, xúc duyên thọ, thọ duyên ái, ái duyên thủ, thủ duyên hữu, hữu duyên sanh, sanh duyên lão tử ưu bi khổ não.

Như vậy đau khổ cuối cùng của sanh già bệnh chết gốc từ vô minh mà ra. Vì vậy chúng ta muốn tu cho được kết quả, tu đến giải thoát sanh tử thì gốc vô minh chúng ta phải biết rõ. Biết rõ rồi chúng ta trừ diệt nó. Như vậy mới là người biết cội gốc tu hành.

Trước tiên, tôi định nghĩa vô minh là gì? Vô là không, minh là sáng. Vô minh tức là không sáng. Cái khổ của sanh tử gốc từ vô minh mà ra. Vô minh hiểu theo nghĩa mê lầm, đen tối là nghĩa đen. Vô minh còn có nghĩa khác mà trong kinh đức Phật giải thích rất rõ ràng.

Nghĩa khác thế nào? Như đức Phật dạy trong các kinh A Hàm: "Thấy các pháp, không biết đúng như thật gọi đó là vô minh". Nghĩa là chúng ta thấy mọi sự vật ở trên đời mà không biết đúng như thật, chỉ biết bằng cách tưởng tượng sai lầm, đó là vô minh. Cho nên trong các bộ kinh A Hàm luôn luôn nói "vô minh là không thấy, không biết đúng như thật". Nói rõ hơn không biết, không thấy đúng như thật pháp Tứ đế: khổ đế, tập đế, diệt đế, đạo đế, gọi là vô minh. Đó là lời giải thích trong kinh A Hàm.

Kinh Viên Giác giải nghĩa khác, có một vị Bồ-tát hỏi: "Bạch Thế Tôn, thế nào là vô minh? ". Phật dạy:

"Vô minh nghĩa là đối với thân tứ đại duyên hợp tưởng lầm là thật, là quí. Đối với tâm duyên theo bóng dáng sáu trần cho đó là tâm thật. Như vậy là vô minh". Chấp thân tứ đại là thật, chấp tâm duyên theo bóng dáng sáu trần là thật, đó là vô minh. Tôi xin hỏi Ni chúng và Phật tử ở đây, quý vị có vô minh không? Chắc ai cũng đồng ý có vô minh. Tại vì tất cả đều thấy thân mình là thật, thấy tâm nghĩ tưởng việc này, việc nọ là tâm mình thật. Thấy hai cái đó thật là vô minh.

Chúng ta vì vô minh lôi dẫn mà sanh tử đến ngày nay không dừng. Người tu Phật là người cầu được phước lên cõi trời, hay cầu đời sau sang giàu? Người tu Phật là người cầu giải thoát sanh tử. Muốn giải thoát sanh tử thì phải dẹp sạch vô minh. Nếu không hết vô minh thì không làm sao ra khỏi sanh tử được.

Vì vậy tất cả chúng ta đều phải cố gắng, đều phải nhận định cho chín chắn, rõ ràng về vô minh. Nếu không biết nó, không dẹp nó thì muôn kiếp tu là tu, chớ không ra khỏi sanh tử được. Nên bài giảng này rất quan trọng đối với việc tu hành của chúng ta. Quý vị cố gắng nghe thật kỹ, nhớ thật rõ để ứng dụng tu thì sẽ có lợi lạc lớn.

Nhà Phật chia vô minh làm hai phần: Căn bản vô minh và chi mạt vô minh. Căn bản là cội gốc, chi mạt là ngọn ngành hay nhánh nhóc. Trong mười hai nhân duyên cái gì là căn bản vô minh, cái gì là chi mạt vô minh? Thường ai cũng biết Phật nói vô minh duyên hành. Tức từ vô minh phát ra nghiệp, nghiệp dẫn thần thức đi thọ sanh v. v… Vậy vô minh ban đầu là gốc của sanh tử, nên gọi là căn bản vô minh.

Kế đến cái gì là chi mạt vô minh? Chúng ta thử ôn lại: vô minh duyên hành, hành duyên thức, thức duyên danh sắc, danh sắc duyên lục nhập, lục nhập duyên xúc, xúc duyên thọ, thọ duyên ái, ái duyên thủ… Ái và thủ chính là chi mạt vô minh.

Bây giờ chúng ta tu, không thể diệt được căn bản vô minh vì căn bản vô minh là vô minh ban đầu, nó thuộc về quá khứ đã qua rồi. Nên hiện tại chúng ta tu là làm sao tiêu diệt được chi mạt vô minh. Phá được chi mạt vô minh rồi thì chúng ta sẽ dứt được sanh tử. Còn nếu chưa phá được nó thì chúng ta đi mãi trong sanh tử.

Trở lại căn bản vô minh. Như trong kinh A Hàm nói: "Biết không đúng như thật về khổ đế, tập đế, diệt đế, đạo đế gọi là vô minh". Tất cả quý vị đối với Tứ đế đã biết đúng như thật chưa? Nếu biết đúng như thật về Tứ đế thì chúng ta đã ngộ, đã nhận được giáo lý giải thoát của pháp Tứ đế dạy rồi. Nhưng bây giờ chúng ta còn mơ màng, chưa nhận chân sự thật nên chưa hiểu thấu được lý Tứ đế.

Trong Tứ đế, đế đầu tiên là Khổ đế. Chúng ta thấy cuộc đời này khổ hay vui? Khổ. Nhưng chỉ khổ lúc có người làm phiền, làm cho ta tức giận thôi. Còn lúc được người tâng tiu, khen ngợi đâu có khổ. Nghĩa là chỉ khổ lúc buồn tủi, còn khi được tán thán khen ngợi thì quên khổ.

Phật nói Khổ đế vì tất cả con người sanh ra trên thế gian này có tám thứ khổ, gồm bốn phần thuộc vật chất: sanh, lão, bệnh, tử và bốn phần thuộc tinh thần: ái biệt ly, oán tắng hội, cầu bất đắc, ngũ ấm xí thạnh. Trong tám khổ, chúng ta có ai qua khỏi không?

Xét về thân thì ai rồi cũng già, cũng bệnh, cũng chết. Quý vị thấy già khổ không? Khổ. Bệnh khổ không? Khổ. Chết khổ không? Khổ. Nhưng sao tôi già, tôi không khổ. Già khổ nếu mình không biết tu. Bởi không biết tu nên thấy thân hơi mỏi mòn, bệnh yếu, rồi đi đứng lọng cọng… đủ thứ hết nên thấy khổ.

Nếu biết tu thì già là một lẽ thật, nó phải tới tự nhiên thôi, không ai trốn tránh được, kể cả Phật cũng không trốn được. Nếu Phật trốn được thì thân tứ đại của Ngài đâu có mất. Ai có thân thì cũng phải già bệnh chết. Vì đó là qui luật của thế gian, chúng ta không ai chối cãi được. Đã là qui luật thì sợ có khỏi được không? Nếu không khỏi được thì sợ chi cho vô ích. Thay vì sợ mình cười chơi cho vui, khoẻ hơn không. Như vậy thì đâu có gì khổ. Tại chúng ta sợ nó cho nên khổ. Nên biết già chỉ khổ đối với những người không biết tu thôi.

Đến bệnh khổ, tại sao bệnh khổ? Ví dụ như đau bụng có khổ không? Khổ toàn thân hay chỉ cái bụng khổ? Đau chỗ nào thì khổ chỗ đó thôi. Lâu nay chúng ta hay hiểu lầm, cứ nghĩ đau cái chân thì cả thân đều đau nên rên rỉ "đau quá chịu không nổi". Nếu hỏi cái gì đau thì nói "tôi đau". Nhưng thật ra tôi đau hay cái chân đau? Chân đau thì chỉ đau một chút dưới chân, còn các một bộ phận khác đâu có đau. Nếu bụng đau thì chỉ một chút ở bụng, còn các chỗ khác đâu có đau, tại sao phải khổ dữ vậy?

Chúng ta có bệnh đồng hóa khi chân đau nghĩ là mình đau, nên quằn quại rên xiết. Cái đau chỉ ở một nơi, một chốn chớ không phải mình. Mình là cái gì quý vị biết không? Nếu mình là tứ đại thì mai mốt tứ đại hết thở, mình đi đâu, có còn không? Tứ đại là mình thì tứ đại rã, mình cũng phải rã theo chứ. Nhưng tứ đại này rã không phải là hết, mình vẫn còn. Cho nên tứ đại đau chớ mình đâu có đau.

Có một Thiền sư khi bệnh, thầy Tri sự vô thăm hỏi:

- Hoà thượng bệnh, có cái không bệnh chăng?

Thiền sư trả lời:

- Có.

Thầy Tri sự hỏi tiếp:

- Cái gì không bệnh?

Thiền sư kêu lên:

- Ui da, ui da.

Như vậy là sao? Bệnh chỉ là thân thôi, cái biết rên "ui da" đó không có bệnh. Chúng ta bệnh, chúng ta khổ nhưng còn có cái không bệnh không khổ mà mình không biết. Vì vậy chúng ta cứ lầm lẫn một bộ phận đau coi như toàn thân đau, rồi khổâ sở, lăn lóc rên rỉ. Nếu bộ phận nào đau, chúng ta cứ nhìn xem nó đau ra sao. Ví dụ chân đau, nhìn xem nó đau ra sao. Nhìn một hồi nó quên đau. Còn nếu mình quằn quại rên rỉ thì đau cả người.

Chúng ta tu phải có nhận định đúng đắn không sai lầm thì hết khổ. Nhiều người hay nói, mấy cô còn nhỏ đau, thì bệnh chừng năm mà thêm cái nhõng nhẽo nữa. Bệnh chừng năm mà rên quá nên thành mười. Đó là không can đảm, không sáng suốt. Chúng ta bệnh phải nhìn lại, xem nó hành làm sao, đau nhức thế nào. Phải luôn luôn can đảm thấy rằng đau là một bộ phận đau, chớ mình không đau, như vậy sẽ bớt đau. Được thế thì đau không còn khổ nữa. Ngược lại, nếu thấy đau là mình thì khổ liên miên. Nay nhức đầu, mai đau bụng, lúc nào cũng thấy khổ. Như vậy bệnh là khổ.

Đến chết có khổ không? Phật nói chết là khổ, đó là nói theo con mắt của thế gian. Bởi vì người phàm tục rất quí thân, lúc nào cũng muốn sống mà bây giờ phải chết thì khổ. Vậy chết khổ là đối với người quí chuộng thân, muốn giữ nó mãi. Còn người tu đạt đạo rồi, chết không có khổ. Cho nên người thế gian gần chết thì khóc rên giãy giụa, còn các Thiền sư chết thì cười.

Vậy chết nhất định là khổ chăng? Không hẳn thế. Người nào nhận chân được lẽ thật, thấy được chân lý rồi thì không khổ. Người nghĩ thân này là mình, mất rồi không còn nữa thì người đó sẽ khổ. Thân này giả dối, tạm bợ, đủ duyên nó tụ, hết duyên nó tan, còn cái chân thật của mình không tan không mất bao giờ. Nên khi thân sắp tan, nhìn nó cười thôi không có gì sợ hết.

Phật nói Khổ đế là căn cứ trên người mê lầm. Nếu chúng ta khéo tu, vượt qua không còn chấp thân nữa thì không còn khổ. Cho nên người tu là người không khổ. Nhưng bây giờ người tu còn khổ hay hết khổ? Chắc là còn khổ. Sao dở vậy? Tu là để giải khổ hết khổ, mà mình tu lại khổ. Tại sao? Tại tu mà chưa lãnh hội được nguồn cội của Phật dạy cho nên thấy khổ.

Người hiểu thấu đạo lý rồi, mỗi ngày tu là mỗi ngày vui. Đi đâu cũng cười hoài vì được tu là chuyện hy hữu. Ở thế gian bao nhiêu thứ trói buộc, vô chùa đâu có gì trói buộc. Thảnh thơi tự tại quá, mà khổ là sao? Khổ là tại vì thấy người này được thầy thương, còn mình không được thương nên buồn giận sanh khổ. Thấy người kia được Phật tử cúng dường, còn mình không ai cúng hết nên khổ. Khổ này là do bỉ thử nhân ngã mà sanh.

Chúng ta nhớ người xuất gia là hành hạnh siêu thoát, kẻ trần tục không làm được. Phật tử ham tu, nhưng vẫn còn bị gia đình trói buộc, không tự do. Nhìn lại quí thầy quí cô thảnh thơi quá, họ khen thầy cô thật là phước lớn. Được khen mà quý vị lại than khổ. Người ta mơ ước như mình, mà mình được rồi lại khổ là chuyện vô lý quá.

Là người tu, chúng ta phải biết lý do gì mình đi tu. Tu để tiến tới đâu, cầu cái gì? Thấy cho rõ như vậy thì sự tu hành mới tới nơi tới chốn, mới giải thoát sanh tử được. Nếu cứ nhìn theo tâm phàm tục thương ghét v. v… thì quý vị sẽ khổ hoài, không bao giờ hết khổ. Như vậy Khổ đế là do chúng ta chưa thấy được như thật. Đó là tôi nói căn bản vô minh để quý vị nắm đại khái.

Kế đến tôi nói về chi mạt vô minh.

Tất cả chúng ta đã bị vô minh thúc đẩy tạo thành hành nghiệp dẫn đi trong sanh tử nhiều đời. Bây giờ đã có thân thì đối với cái vô minh ban đầu không thể dẹp vì nó thuộc về quá khứ. Cho nên dẹp là dẹp chi mạt vô minh, tức cái ngọn ngành trong hiện đời. Vậy ngọn ngành của vô minh là gì? Là ái, thủ.

Ái là ái cái gì? Thường trong nhà Phật nói ái nặng nhất, nguy hiểm nhất là ái ngã. Ái ngã tức là thương mình, thương mình là số một. Trong truyện xưa, vua Ba Tư Nặc hỏi Mạt Lợi phu nhân: "Trên thế gian này ái khanh thương ai nhiều nhất? " Vua nghĩ hỏi vậy, phi sẽ trả lời: "Thương Bệ hạ nhiều nhất". Nhưng ngược lại bà nói: "Thiếp thương mình nhiều nhất". Vua thất vọng hỏi: "Tại sao ái khanh thương mình nhiều nhất? ". Bà giải thích: Vì thương mình nhiều nhất nên thiếp mới quí trọng Bệ hạ, bởi Bệ hạ làm cho thiếp được sung sướng, giàu sang". Vua nghe thấy có lý, nên gật đầu khen phải.

Rõ ràng như bà phi đã nói, bà thương vua là vì bà, chớ không phải vì vua. Quý vị ở đây có ai thương người khác nhiều hơn thương mình không? Chắc là không. Ví dụ mình bệnh, có huynh đệ chăm sóc chu đáo. Mình thấy huynh đệ đó tốt nên thương. Do người đó săn sóc mình trong lúc bệnh nên mình mới thương, chớ đâu phải bỗng dưng mà thương. Vậy thương người đó là qua mình, chớ đâu phải tự người đó được thương.

Xét kỹ tất cả cái thương người khác đều là qua mình hết, không bao giờ người ta chửi mình mà mình thương họ. Dầu người đó tu hay cũng mặc, hễ họ mắng nhiếc mình thì mình vẫn không thương như thường. Vậy thương mọi người đều qua cái ngã của mình. Cho nên nói ái ngã là số một. Bởi thương mình nhiều, nên thân này sắp hoại mình khổ, khổ vì sợ mất nó. Do đó khi nó hoại rồi, mình hoảng tìm thân khác để tựa vào, vô minh sanh hành là như thế.

Từ vô minh chi mạt là ái ngã, nên tìm thân khác để tựa vô rồi sanh ra ngã kế tiếp, vì vậy nó dẫn mình đi trong sanh tử. Do ái ngã mà sanh tử tiếp nối không cùng. Dẹp được ái ngã thì vòng sanh tử đời sau không còn. Nếu dẹp không được thì khó mà đi trên đường giải thoát. Tuy nhiên dẹp ái ngã là chuyện rất cay đắng. Mặc dù nó không ra gì nhưng dẹp nó rất khó, bởi vì ai cũng thương mình hết. Thương mà muốn dẹp thì làm sao dẹp được? Phải không thương mới có thể dẹp chứ. Do đó Phật dạy phương pháp để chúng ta không thương ngã nữa.

Phật dạy thân này vô ngã, tức không có cái ta thật. Nếu biết thân này không có cái ta thật thì bớt thương nó. Còn thấy thân này là ta thì nhất định phải thương, không nghi ngờ. Vì vậy Phật dạy phải quán các pháp vô ngã. Các pháp vô ngã thì thân này cũng vô ngã. Không có cái thật ta thì thương cái gì. Nhờ thế phá trừ được ngã chấp.

Do ái ngã nên tất cả vật chung quanh ngã, mình cũng ái theo. Ái ngã nên ái luôn sở hữu của ngã. Mình thương mình nên mới thích đồ ăn ngon, nếu không thương mình thì ăn cái gì cũng được. Thương mình nên mới thích mặc đồ đẹp. Tóm lại tất cả những gì đáp ứng cho ngã sử dụng được tốt, được vừa ý thì mình thương hết. Cho nên nói ái ngã thì ái pháp.

Nếu không ái ngã thì có ái pháp không? Ví dụ mình coi mình không ra gì, khi thấy người ta có món ăn ngon mình đâu cần xin. Còn thấy thân này quí, nên người ta có món ăn ngon mình cũng thèm, thèm thì muốn xin. Vì quí ngã nên phải tìm những vật dụng bổ túc cho ngã được sung mãn. Cho nên thương mình thì sẽ thương tất cả sự vật chung quanh mình, đó gọi là ái ngã và ái pháp. Đây chính là nhân để đi trong sanh tử luân hồi. Phật dạy muốn dứt sanh tử phải phá trừ ngã. Ngã hết thì sanh tử theo đó mà dứt. Ngã còn thì sanh tử không bao giờ hết được. Đó là một lẽ thật.

Tôi nói qua về vô minh căn bản và vô minh chi mạt rồi.

Từ vô minh ban đầu đưa đẩy chúng ta đi vào vòng sanh tử. Đã đi trong sanh tử rồi thì phải chịu đau khổ. Vì vậy chúng ta tu là làm sao biết rõ gốc vô minh, để chuyển từ mê lầm sanh tử trở về giải thoát an lạc, đó là minh. Trong kinh Pháp Hoa có nói: Chàng cùng tử bỏ cha mẹ đi lang thang, đi mãi. Càng đi thì càng khổ sở, càng nghèo túng. Đến lúc anh ta cảm thấy xa cha mẹ khổ quá muốn quay đầu trở về. Trở về và được cha trao cho gia tài rồi thì trở thành ông trưởng giả giàu có, sang trọng.

Như vậy do đâu mà chàng cùng tử bỏ cha mẹ ra đi? Do niệm sai lầm ban đầu tức là vô minh. Từ niệm sai lầm ban đầu dẫn chúng ta đi trong đau khổ không cùng. Khi biết lang thang lăn lộn là khổ, muốn trở về tìm cha cho bớt khổ. Xoay trở về tìm cha là hơi minh một chút rồi đó. Bỏ cha mẹ ra đi là vô minh. Khi thức tỉnh, giật mình xoay về tìm cha là minh.

Vậy minh là nhân đưa mình đến chỗ hết khổ đau, vô minh là nhân dẫn mình đi tới khổ đau. Người tu phải tiêu diệt vô minh để trở về với minh. Vô minh sạch rồi thì đau khổ theo đó hết, vô minh càng nhiều thì đau khổ càng đậm. Nên chúng ta phải thức tỉnh, phải trở về được với cái minh.

Muốn trở về với cái minh phải làm sao? Ngày trước chàng cùng tử bỏ cha đi càng xa càng khổ, bây giờ trở về gặp cha thì càng về gần càng ít khổ. Tới chừng gặp được cha rồi, được trao gia tài thì hoàn toàn hết khổ. Chúng ta do vô minh lôi dẫn, đưa đẩy đi trong sanh tử triền miên, không có ngày cùng. Cho nên khi thức tỉnh được trở về, là đi trên con đường minh, con đường ánh sáng rồi đó. Ni chúng đang tu hành như vầy là đang từ bỏ vô minh để hướng về minh. Biết trở về và trở về đến nơi đến chốn thì quý vị hết khổ. Đó là điều hết sức rõ ràng.

Nếu chúng ta mê thì cứ thả trôi muôn đời muôn kiếp trong sanh tử. Một khi tỉnh tìm về đường giải thoát rồi thì hết mê. Tôi dẫn lời đức Phật dạy về vô minh trong kinh Viên Giác: "Cái gì là vô minh? Thấy thân tứ đại là thật, tâm duyên theo bóng dáng sáu trần là thật, đó là vô minh". Thân là do tứ đại hợp mà thấy là mình thật, tâm duyên theo bóng dáng sáu trần mà cho là tâm mình thật. Hai thứ chấp đó là vô minh.

Bây giờ muốn minh phải làm sao? Phải xả. Xả thế nào? Chẳng lẽ tự tử. Không phải vậy. Biết như thế rồi, ta quán chiếu thấy rõ thân tâm này không thật, nên không đắm luyến, không sợ mất nó. Như vậy là minh.

Người mê với người tỉnh khác nhau chỗ nào? Ví dụ trong nhà có đèn sáng, bên ngoài trời tối. Nếu mở cửa thì ánh đèn chiếu sáng ra ngoài. Một người đứng ở cửa nhìn ra ngoài thấy tối, nhìn ngược vô trong thấy sáng. Nếu nhìn ra ngoài rồi cứ phóng đi mãi thì càng đi càng tối. Tối mãi cho đến chừng nào thấy sợ thì quay trở lại ánh sáng. Càng về gần thì càng sáng nhiều, đến khi bước vô cửa nhìn thấy trong nhà đèn sáng choang. Cũng vậy ai thả trôi thân mình, tâm mình theo vòng sanh tử thì cứ chìm đắm mãi không cùng. Ai biết xoay trở lại tìm về ánh sáng ban đầu sẽ được sáng.

Người đứng ở cửa nhìn ra thì tối, xoay vô thì sáng, vậy tối sáng cách nhau bao xa? Chỉ là biết xoay đầu. Xoay đầu lại thì sáng, nhìn ra thì tối. Người xưa thường nói: "hồi đầu thị ngạn", tức xoay đầu lại là bờ giác, nhìn ra ngoài là bến mê. Mê và giác chỉ là một cái xoay đầu. Thả trôi theo dòng tối thì tối mãi, biết xoay ngược trở lại tìm về ánh sáng thì sẽ được sáng. Tất cả chúng ta tu là phải làm sao chính mình thức tỉnh, chính mình giác ngộ. Thức tỉnh, giác ngộ là không còn mê mà trở về giác.

Chúng ta cạo tóc vào chùa tu là đã thức tỉnh, bỏ lối mê quay về con đường sáng. Đã về đường sáng thì còn muốn quay lại lối mê nữa không? Chắc không bao giờ dám quay lại. Mà phải cắm đầu đi thẳng cho đến bao giờ về đến nơi, thấy và sống trong ngôi nhà sáng sủa ấy mới yên lòng. Đó là mục đích của người tu.

Muốn trở về con đường sáng phải làm sao? Tôi nói lại Phật dạy: "Chấp thân năm uẩn này là ta, đó là vô minh. Chấp tâm duyên theo bóng dáng sáu trần là tâm, đó là vô minh". Do đó, muốn trở về con đường sáng chúng ta phải phá hai thứ chấp này. Phá chấp bằng cách tu theo Bát-nhã. Bát-nhã là trí tuệ, trí tuệ là sáng.

Bát-nhã chia làm ba phần: Văn tự Bát-nhã, Quán chiếu Bát-nhã và Thật tướng Bát-nhã. Ví dụ người muốn qua sông nên phải xuống thuyền. Mục đích xuống thuyền là để qua sông. Nhưng xuống thuyền rồi cứ ngồi ỳ trên đó hoài, không chèo không bơi thì chừng nào qua tới bờ bên kia? Xuống thuyền rồi kế đó phải chèo, phải cầm dầm bơi thì mới đưa thuyền đến bờ kia được. Chiếc thuyền dụ cho Văn tự Bát-nhã, chèo dầm dụ cho Quán chiếu Bát-nhã, đến bờ bên kia là Thật tướng Bát-nhã, tức cái thể chân thật. Ngồi trên thuyền không cựa quậy chắc tới thuyền mục qua cũng không được, đó là điều hết sức rõ.

Nếu quý vị chỉ tụng kinh chứ không quán chiếu gì hết, chỉ là Văn tự Bát-nhã. Trong Bát-nhã chỉ nơi câu này mà khéo tu thì sẽ hết khổ: "Quán Tự Tại Bồ-tát hành thâm Bát-nhã ba la mật đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhứt thiết khổ ách". Chúng ta đọc thuộc làu mà chưa bao giờ chiếu kiến, chưa chiếu kiến làm sao hết khổ ách, nên tu mà không hết khổ.

Muốn hết khổ phải chiếu kiến năm uẩn: sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn, thức uẩn. Năm uẩn có hai phần: phần vật chất là sắc; phần tâm là thọ, tưởng, hành, thức.

Thân do tứ đại hòa hợp không có tánh thật, đó là chiếu kiến sắc uẩn giai không. Sắc uẩn này không thật tánh nên nói nó là không. Không nhưng do duyên hợp giả có. Cái gì giả thì không quí, thật mới quí. Soi thấy thân tứ đại này tánh không, duyên hợp giả có nên không phải quí.

Thọ uẩn, thọ là những cảm giác nhậân được. Nếu ở lưỡi thì thọ vị, thức ăn ngon dở hay không ngon không dở. Thọ có là do thức ăn để vào lưỡi. Lưỡi là căn, thức ăn là trần. Căn trần gặp nhau mới sanh cảm giác ngon, dở, không ngon, không dở. Vậy cảm giác ngon dở không thật. Vì trước khi đưa thức ăn vào lưỡi, ta có cảm giác gì đâu. Nhờ có thức ăn, nhờ có lưỡi nên ta mới có cảm giác ngon dở, nên cảm giác ngon dở ấy không thật. Vậy mà chúng ta ăn món gì ngon thì khen, dở thì chê, rõ ràng chúng ta lầm thọ uẩn là thật. Nếu dùng trí tuệ nhận thấy thọ uẩn do căn trần hợp lại nên có cảm giác. Cảm giác ngon dở nuốt qua liền hết, đâu phải là thật. Nên quán thọ không thật chỉ là giả tướng.

Tưởng uẩn là tưởng những chuyện đã qua hay chưa tới. Do nghĩ chuyện quá khứ, chuyện vị lai rồi tưởng tượng nên hình ảnh dấy khởi. Quá khứ đã qua là đã mất, vị lai chưa đến là không có. Quá khứ đã qua là không, vị lai chưa đến cũng là không, mà tưởng tượng có thật. Nên chiếu kiến tưởng uẩn tánh không, duyên hợp giả có, chỉ bóng chớ có thật đâu. Hiểu như vậy mới biết tưởng uẩn không thật.

Hành uẩn là nghĩ suy của mình. Ví dụ trước khi đi chợ, quý vị tính ra chợ mua hành, mua hẹ, mua rau cải gì đó… tính rồi đến chợ mới mua. Vậy suy tính nghĩ cái này tới cái kia, giống như từng bước từng bước đi của mình, không có thật. Hành uẩn là những suy tư, nghĩ tính của mình. Sự suy tư, nghĩ tính đó khi gặp duyên thì nó phát ra, hết duyên nó mất. Như vậy hành uẩn sanh diệt như dòng nước chảy không thật. Đó là quán hành uẩn.

Thức uẩn là phân biệt như phân biệt đẹp xấu, trắng đen v. v… Thức uẩn tự nó phân biệt hay phải có duyên tác động mới phân biệt? Trong là mắt, ngoài là sắc trần, sắc trần tiếp xúc với nhãn căn sinh ra nhãn thức phân biệt. Nhĩ thức, thiệt thức v. v… cũng đều như vậy. Nên thức tự nó không có mà phải do căn, trần tiếp xúc mới có nên nó cũng không thật.

Rõ ràng thọ, tưởng, hành, thức là tâm không thật. Sắc do tứ đại hợp cũng không thật. Thấy rõ thân không thật, tâm không thật như trong kinh Viên Giác nói: nếu chấp thân thật, tâm thật là vô minh. Nếu thấy thân không thật, tâm không thật thì hết vô minh. Vô minh hết nên trong kinh nói: "chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách", nghĩa là soi thấy năm uẩn đều không liền qua hết tất cả khổ nạn.

Chúng ta tu mà không chiếu kiến nên tuy tu nhưng vẫn còn khổ nạn. Đọc thuộc lòng Bát-nhã mỗi đêm mà khổ không hết. Bây giờ chúng ta phải khéo dùng trí tuệ chiếu soi năm uẩn không thật, thấy rõ tường tận như vậy thì phá được vô minh, liền thoát khỏi sanh tử. Không biết phá vô minh thì minh không bao giờ có. Tụng Bát-nhã là học trí tuệ mà tự mình không có trí tuệ thì chừng nào ra khỏi sanh tử? Đó là điều chúng ta cần phải biết cho thật rõ.

Người tu phải làm sao soi sáng được chính mình, chớ không phải chỉ đọc suông lời của Phật được. Nếu thấy thân năm uẩn là thật thì mê, nếu thấy thân năm uẩn do duyên hợp hư giả là tỉnh. Giả sử có ai chửi, chúng ta thấy lời chửi của họ cũng không thật nên nhịn được. Thân hư giả mà người chấp cho là quí thì mình thương, chớ không giận. Vì vậy Phật thương chúng sanh, thương là thương cái gì? Thương chúng sanh ngu si, cái không thật tưởng là thật, cái không quí tưởng là quí. Cứ như vậây mà trôi mãi trong luân hồi sanh tử.

Khi nào chúng ta tu thấy rõ thân năm uẩn không thật thì qua hết khổ ách. Qua rồi nhìn lại thấy ai còn trong khổ ách mình thương. Thương thì tất nhiên phải độ họ. Lúc đó tình thương khác với thương vì mình hay thương của ái ngã. Thương ái ngã là thương có điều kiện. Khi nào người khác giúp mình, mình mới thương vì thấy thân mình thật. Nếu tỉnh giác rồi, thấy ai mê mình thương đó là lòng thương của từ bi. Từ bi là thương bình đẳng, không có điều kiện.

Nên biết ái ngã làm cho chúng ta có nhiều xấu dở. Thứ nhất, vì ái ngã nên ai giúp cho ngã thì thương. Thứ hai, vì ái ngã nên ai chọc phá ngã thì giận ghét. Thứ ba, vì ái ngã mà cứ nối tiếp luân hồi, mất thân này chụp thân kia, không có ngày cùng. Nếu chiếu kiến năm uẩn không thật, biết rõ không lầm không mê. Lúc nào cũng thấy thân này không thật, hư dối thì tất cả những gì đến với mình, mình đều không khổ. Già không khổ, chết không khổ. Bởi cái hư giả hoại đi đâu có gì tiếc, còn thấy thân thật thì tất cả khổ theo đó mà còn.

Như vậy tu theo Bát-nhã là chấp không chăng? Ví dụ cái đồng hồ là thật có hay thật không? Thật không thì sao nó có ở đây, nên nói thật không không được. Nếu nói thật có thì khi mở từng phần ra, tìm cái đồng hồ không được. Nên nói thật có không được. Chỉ khi nào duyên hợp thì tạm có, duyên hết hoàn không. Nên nói bản tánh của đồng hồ là không. Nếu đồng hồ có sẵn thì đâu cần đợi duyên hợp. Vì đồng hồ không có sẵn nên nói tánh không. Chữ không là tánh không.

Tôi ví dụ thêm như chỗ này có cái khay là có, chỗ không có khay gọi là trống rỗng. Chỗ này không, chỗ kia có là do mắt thấy. Mắt thấy có không, đó là có không đối đãi. Còn đồng hồ đang có mà nói tánh không, thì biết rõ tánh nó là không, đó là thấy bằng trí tuệ. Tánh không là ngay trong có mà thấy không, chớ không phải đợi không mới thấy không. Vì vậy kinh Bát-nhã nói: "sắc tức thị không". Từ không, do duyên hợp mới có là: "không tức thị sắc". Hiểu như vậy mới hiểu Bát-nhã. Nói không mà không phải thật không, chỉ là không "thể tánh", chớ giả tướng vẫn có. Nói có nhưng là giả tướng nên chẳng phải thật có.

Thân này tánh không hay tánh hữu? Tánh không mà có là vì duyên hợp giả có. Người thấy rõ ràng như vậy tức là có trí tuệ Bát-nhã, có trí tuệ Bát-nhã là hết khổ. Vậy tu rất dễ, không tốn công bao nhiêu, cũng không phải trèo núi qua sông, lặn lội vô rừng tìm mới có, mà ngay nơi thân này dùng trí tuệ chiếu soi năm uẩn không thật thì qua hết khổ nạn. Qua hết khổ nạn là giải thoát sanh tử.

Cho nên tụng Bát-nhã là để quán chiếu, để thấy rõ thân này từ thể xác đến tinh thần là duyên hợp hư giả không thật. Hiểu không thật rồi, chúng ta mới xem thường, không quí trọng thân nữa. Do không quí trọng thân nên hết ái ngã. Hết ái ngã mới dứt được luân hồi sanh tử. Như vậy người muốn tiến tới giải thoát sanh tử phải thấy rõ năm uẩn đều không.

Thấy được tánh không thì không còn đối đãi. Không đối đãi mới là nghĩa trung đạo, là chân lý. Còn không đối với có là thấy một bên, gọi là biên kiến. Vì vậy nhiều người tu không biết, nên nói tụng Bát-nhã, Kim Cang là chấp không, đó là sai lầm. Chúng ta tu hành phải sáng suốt, nhận cho kỹ, thấy được sự vật hiện có, biết tánh của nó là không, duyên hợp hư giả tạm có thôi. Thấy như vậy là người trí tuệ, trí tuệ là sáng suốt. Ngược lại, không thật mà tưởng thật là si mê, si mê là vô minh.

Muốn phá vô minh phải dùng minh. Trong kinh nói: "căn nhà tối cả ngàn năm, muốn hết tối thì phải thắp đèn lên. Nhà dù tối ngàn năm mà thắp đèn lên thì sáng liền". Cũng vậy chúng ta mê vô lượng kiếp rồi, nhưng bây giờ tỉnh, thì ngay đó là giác, là hết vô minh. Nhà Phật cũng thường nói câu "hồi đầu thị ngạn", tức xoay đầu lại là bờ giác chớ không đâu xa. Vì vậy mê thì dẫn đi trong luân hồi sanh tử, giác thì trở lại bờ Niết-bàn.

Tu là hồi đầu, xoay đầu lại. Từ lâu chúng ta mê nên đi trong đau khổ tử sanh, khi tỉnh chúng ta trở lại thì hết đau khổ. Nên tu là giải khổ cho mình, cứu khổ cho chúng sanh. Nếu mình còn khổ thì làm sao cứu khổ cho người được. Nếu hiểu tu là chỉ lo cứu khổ cho chúng sanh nên ai mời làm gì, rước đi đâu cũng nghe theo, đó là họa. Ví dụ cầu an là cứu khổ cho người sống, cầu siêu là cứu khổ cho người chết v. v… nhưng mình chưa hết khổ thì làm sao cứu họ hết khổ được. Muốn cứu khổ cho người trước phải giải khổ cho mình. Mình hết khổ rồi mới cứu khổ cho người được.

Nhiều Phật tử có chuyện buồn, nhờ thầy an ủi khuyên lơn cho bớt buồn bớt khổ. Rồi mai chiều thầy có chuyện buồn Phật tử thấy thương an ủi lại. Như vậy chỉ là sự an ủi lẫn cho nhau chớ không ai hết khổ cả. Cho nên chúng ta tu là phải giải khổ cho mình, giải khổ cho mình rồi mới cứu khổ cho người. Còn chưa tự giải khổ được, mà đi cứu khổ cho người là chuyện không có thật.

Phản chiếu lại để thấy năm uẩn đều không, gọi là "phản quan tự kỷ", nghĩa là soi sáng lại chính mình. Soi sáng để thấy rõ mình, nên không lầâm không chấp. Khi đã sáng rồi, mới chỉ lại cho người khác không lầm không chấp. Ngồi soi sáng lại chính mình là ngồi thiền. Bởi vậy nói thiền quán là ngồi lại để soi sáng chính mình, thấy rõ mình thực hay giả, thấy rõ mình thanh tịnh hay ô uế v.v... Thấy rõ mình như vậy thì mình mới không lầm, không lầm mình thì mình mới chỉ cho người khác tu không lầm. Nếu mình không chiếu soi mình, không biết rõ mình thì dạy người là dạy cái gì. Cho nên nhà Phật nói phải luôn quán chiếu, phải soi sáng chính mình hay phản quan tự kỷ. Đó là hướng tu trong nhà Phật thường chỉ dạy.

Cho nên Tăng Ni ở các Thiền viện mỗi đêm phải ngồi thiền để quán chiếu lại mình. Thấy rõ từng tâm niệm của mình không thật, mới dẹp được nó. Còn tưởng nó là đúng, là thật thì không bao giờ dẹp phá được. Không dẹp phá nó được thì phải chịu đi trong luân hồi sanh tử thôi. Như vậy minh là trí tuệ, vô minh là si mê. Trí tuệ là sáng, si mê là tối. Có trí tuệ thì hết si mê. Nhà tối chỉ thắp đèn mới trừ được tối. Chúng ta vì vô minh nên phải sanh tử, muốn hết sanh tử phải phá vô minh. Phá vô minh thì phải dùng trí tuệ.

Khi đã nắm vững đường lối, phương pháp tu chúng ta phải cố gắng tu. Tu cho được giải thoát để cứu độ chúng sanh đó là bản nguyện của tất cả người xuất gia theo Phật vậy.

Giảng tại trường hạ Phổ Đà TP. HCM
ngày 25-6-2000 - Canh Thìn

Hãy tự cứu mình trước khi Trời/ Phật có thể cứu.

Học giáo thành tựu 90% là ở thái độ tu học của bạn, còn phương pháp tối đa là chỉ 10% mà thôi. Phương pháp không khó, khoảng một tuần là có thể dạy bạn biết. Thái độ tu học của bạn quyết định cho sự thành bại của bản thân bạn. Chúng ta gần gũi thiện tri thức không phải một người, đồng tu rất nhiều. Tại sao trong biết bao nhiêu đồng tu ấy, người có thể thành tựu chỉ có vài ba người vậy? Thầy dạy học giống nhau, không phân đó đây, cùng học giống nhau, tại sao có người có thể thành tựu, có người không thể thành tựu? Quyết định bởi thái độ tu học, tức là như Ấn Tổ đã nói, một phần cung kính được một phần lợi ích, mười phần cung kính được mười phần lợi ích. Trước đây, chúng tôi gần gũi đại sư Chương Gia, gần gũi lão cư sĩ Lý Bỉnh Nam, thậm chí là gần gũi một người tại gia là tiên sinh Phương Đông Mỹ, chúng tôi có mười phần thành kính nên chúng tôi có thể có được một chút lợi ích. Không có tâm cung kính như vậy, cái mà bạn có được là phần ngoài da. Từ đó cho thấy, chúng ta có thể thành tựu hay không, không phải do sự chỉ dạy của thầy.

Phật Thích Ca Mâu Ni độ hóa chúng sanh, tự mình không kể công. Tại sao vậy? Ta thành Phật là tự ta thành Phật, không phải Phật có năng lực giúp đỡ ta thành Phật. Nếu Phật có năng lực giúp chúng ta thành Phật, thì chúng ta việc gì phải tu hành chứ? Phật không giúp chúng ta thành Phật là Ngài không từ bi rồi! Đây là việc mà Phật cũng không thể làm được. Hoàn toàn do bạn tự mình thành tâm, thành ý tu học. Cho nên trong bốn loại duyên, Phật pháp từ duyên sanh, bản thân chúng ta có đầy đủ thân nhân duyên, sở duyên duyên, vô gián duyên, Phật chỉ là tăng thượng duyên đối với chúng ta mà thôi. Cho dù tăng thượng duyên tốt đi nữa, mà nếu ba cái duyên trước của chúng ta không đầy đủ thì không thể thành tựu. Đạo lý này chúng ta phải hiểu.
HT. Tịnh Không

TÂM KHÔNG BÌNH THÌ SỐNG KHÔNG AN

Khi người thân mình gặp bất hạnh, vô tình bị chết một cách oan uổng, có một số người cho rằng như thế thật là không công bằng, và họ muốn báo thù để đòi lại sự công bằng.

Việc bất bình ở trên thế gian này rất là nhiều. Ai cũng đều cho là mình có lý. Nhưng thật ra sự công bằng này không có chân chánh, khách quan. Bi kịch đã xảy ra rồi thì oan gia nên giải chứ không nên kết. Chúng ta nên dùng tâm khoan dung, tha thứ, từ bi để đối đãi với những việc bất công, và mong rằng sau này sẽ hết sức công bằng. Ngay cả những việc bất công mà ta đã lãnh khi xưa, nếu đã biết rằng người làm như thế là bất đắt dĩ thì lòng mình sẽ có được niềm an ủi.
Người đã chết thì không thể sống lại. Dù ta có giết đối phương để thường mạng cũng không có ích lợi gì. Không nên để mình đau khổ cả đời. Ta nên cầu phúc cho vong linh, cầu nguyện cho họ hết phiền muộn, không còn phiền não nữa, vui vẻ siêu thóat. Nếu ai cũng mãi bất bình cho vong linh thì sau này họ sẽ mãi mãi không được bình yên.
Chúng ta nên học cách tha thứ. Còn nếu như chúng ta không chịu tha thứ thì sẽ càng nảy sinh ra nhiều sự kiện bạo lực và điều hối tiếc
“ Tha thứ là cách tốt nhất để có cuộc sống bình an".
(Từ internet)

Trăm sông đều đổ về biển cả.

Nghĩa là:


Mọi tôn giáo đều cùng hướng về một Chân Lý. 



Có tôn giáo đi đường thẳng, có tôn giáo đi đường vòng, có tôn giáo đi trọn đoạn đường, có tôn giáo đi được 3/4 đoạn đường, có tôn giáo đi được 1/2 đoạn đường, có tôn giáo đi được 1/4 đoạn đường, có tôn giáo chỉ mới đặt được chân lên đoạn đường ấy. Nhưng tựu trung lại thì tất cả đều chỉ nhắm vào cùng một đích. Tuy nhiên do sự khác biệt về không gian, thời gian, phong tục, tập quán, ngôn ngữ, lối sống,..... mà cách diễn đạt và trình bày của các tôn giáo có sự khác biệt. Nhưng nếu nhìn sâu vào kinh sách của các tôn giáo, nhìn xuyên qua văn tự chữ nghĩa thì ta thấy cái chân lý hiển lộ trong các kinh ấy là giống nhau. Hahahahaha đúng là hài thật!


Do đó, cái mà ta thật sự cần hiểu và cần nắm không phải là một tôn giáo hay tông phái nào mà là cái Chân Lý. Khi nào nắm được cái Chân Lý ấy rồi thì ta sẽ hiểu hết tất cả các tôn giáo và tông phái.

Há há, vậy là có nghề mới đây mọi người. Ai nắm được Chân Lý rồi thì có thể trở thành : Nhà truyền giáo của mọi tôn giáo. Hehehehehehe, người này chắc chắn sẽ đạt giải Nobel về tôn giáo học.

Phấn đấu để trở thành nhà truyền giáo của mọi tôn giáo nghen bà con!!!!!

Công nhận hôm nay thấy.................................. SƯỚNG!!!!!!!!!!!!!!

Cõi ta bà này sao mà vui quá đỗi hehehehehehehehe!

Thứ Bảy, 26 tháng 4, 2014

Làm sao để thoát sanh tử

Trước thời Phật ra đời, ở Ấn Độ có nhiều vị tu hành rất công phu, có sức thiền định cao, nhưng vẫn lẫn quẩn trong sanh tử. Như chuyện vị Phạm Chí Hắc thị tu đắc năm thần thông, thuyết pháp rất hay, đến cả trời Đế Thích cũng xuống nghe pháp. Song, một hôm nghe vị ấy giảng xong, trời Đế Thích tỏ vẻ buồn bã rơi lệ.
Phạm Chí thấy lạ bèn hỏi:
- Ngài vì sao buồn khóc như thế?
Trời Đế Thích nói:
- Tôi nghe Ngài giảng pháp rất hay, song tôi biết rõ tuổi thọ của Ngài chỉ còn bảy ngày nữa thôi.


Phạm Chí nghe xong hoảng sợ, xin Trời Đế Thích cứu cho. Trời Đế Thích từ chối mà chỉ ông đến Đức Phật. Phạm Chí bèn vội đến chỗ Phật, trên đường ông thấy hai cây ngô đồng đang trổ hoa đẹp, liền dùng thần thông nhổ cả hai cây bưng trên hai tay đến cúng dường Phật. Phật gọi tiên nhân Phạm Chí bảo:
- Hãy buông đi !
Phạm Chí liền buông cây hoa ngô đồng trên tay trái. Phật lại bảo:
- Buông đi !
Phạm Chí buông tiếp cây hoa ngô đồng trên tay phải. Phật lại bảo tiếp:
- Buông đi !
Phạm Chí liền thưa:
- Bạch Thế Tôn ! Hai tay con đều trống cả rồi, Ngài còn bảo con buông cái gì nữa?
Phật bảo:
- Ta chẳng phải bảo ông buông gốc hoa đó, mà chính là bảo ông buông xả sáu trần bên ngoài, sáu căn bên trong và sáu thức ở giữa kia kìa; tất cả một lúc buông sạch hết không còn chỗ nào để buông nữa, ngay đó chính là chỗ ông thoát khỏi sanh tử.
Phạm Chí ngay đó liền tỏ ngộ pháp vô sanh, lễ tạ Phật.


Như vậy, cho thấy rằng, dù tu đắc năm thần thông mà chưa đạt lậu tận thông, tức sạch hết tình chấp ngã này, vẫn chưa khỏi vòng sanh tử luân hồi. Vậy thì, ngay đây chúng ta hãy xác định rõ xem: Cái gì là Ta? Cái thây thúi 60, 70 ký lô này chăng? Cái khối đen trắng, mập ốm, cao thấp này chăng? Cái buồn thương, giận ghét, ích kỷ, kiêu căng, hơn thua, ta người này chăng? Nếu cái Ta chỉ có bấy nhiêu đó, thì cuối cùng sẽ ra sao? Tức là chung cuộc sẽ: Ô hô! Ra nghĩa địa! Tổ Lâm Tế từng dạy: “Này huynh đệ ! Các ông chớ nhận lấy kẻ bạn mộng huyễn này, trong khoảng sớm chiều nó liền trở về vô thường. Các ông nhằm trong thế giới này tìm vật gì làm giải thoát? Tìm một miếng cơm ăn, một manh áo vá qua ngày ư? Cốt phải tìm hỏi bậc tri thức, chớ lần lựa đuổi theo thú vui! Thời giờ đáng tiếc, niệm niệm vô thường, thô thì bị đất nước gió lửa, tế thì bị bốn tướng sanh trụ dị diệt”. Đó là Ngài nhắc nhở cho người, phải tìm lấy một cái gì chân thật làm chỗ nương tựa vững bền lâu dài, chớ bám vào cái xác thân mộng huyễn vô thường này, dù cố gìn giữ cách mấy, cuối cùng cũng phải bỏ lại, tan hoại trả về với cát bụi! Người có thực tâm tu hành có thể lơ là với việc này sao?

HT. Thích Thanh Từ


Không mắc kẹt

Một thương gia trẻ trở về nhà sau chuyến đi buôn xa, thấy nhà đã bị cướp đốt thành tro. Ngay phía ngoài nền nhà cũ là một cái xác nhỏ bé đã bị cháy thành than. Anh ta nghĩ đó là xác đứa con trai nhỏ của mình. Anh không biết rằng con trai anh vẫn còn sống. Anh không biết rằng sau khi đốt nhà, bọn cướp đã bắt đứa bé theo. Và trong tình trạng rối loạn, anh đã tin rằng cái xác kia chính là xác con anh. Anh vò đầu đấm ngực khóc lóc, rồi làm đám tang cho con.

Người thương gia đó rất yêu con. Nó là lẽ sống của anh. Anh thương xót nó tới độ không thể rời hũ tro của nó. Anh may một cái túi bằng gấm và bỏ tro vô đó, đeo trước ngực ngày đêm, lúc ngủ nghỉ cũng như khi làm việc. Một đêm con anh trốn thoát khỏi tay bọn cướp. Nó trở về căn nhà cha nó đã xây lại và nó gõ cửa một cách háo hức vào lúc hai giờ sáng. Cha nó thức giấc, lòng vẫn còn rất đau khổ và túi tro vẫn mang trên ngực, anh hỏi: “Ai đó?”

“Con đây cha ơi!” Đứa bé trả lời vọng qua cửa.

“Mày tệ quá, mày đâu phải con tao. Con tao đã chết ba tháng trước rồi, tao còn tro của nó ngay đây.”

Đứa bé tiếp tục đấm vào cửa và khóc lóc. Nó năn nỉ hoài để xin vào trong nhà nhưng người cha nhất định không cho. Người cha giữ chặt lấy ý niệm con đã chết và cho rằng đứa bé vô lương tâm này chỉ đến phá rầy anh ta mà thôi. Cuối cùng đứa bé đành bỏ đi và anh ta mất con vĩnh viễn.

Bụt dạy rằng khi ta bị kẹt vào một ý niệm và coi đó là chân lý thì ta sẽ mất cơ hội để thấy được chân lý. Dù cho chân lý tới tận nhà gõ cửa, bạn cũng sẽ từ chối vì không mở được cái tâm bạn ra. Vậy nên khi bạn vướng vào một ý niệm về sự thật hay có ý niệm về các điều kiện của hạnh phúc thì hãy cẩn thận.


http://langmai.org/tang-kinh-cac/vien-sach/thien-tap/khong-diet-khong-sinh-dung-so-hai/ta-tu-dau-toi-ta-di-ve-dau

Đời là bể sướng!!!!!!!!!

(Vậy mà không hiểu sao một số người cứ than khổ suốt!)

Vì sao sướng? Vì nhờ có vô thường mà thành ra sướng.

Sướng: Vì nếu không có vô thường thì cây con làm sao mà lớn để cho chúng ta hưởng quả; trẻ con thì làm sao trở thành người lớn; và làm sao mà chúng ta trưởng thành trong suy nghĩ.

Sướng: Vì ta biết trước sau gì ta cũng chết; đã thế thì mọi việc đều có thể cho qua một cách nhẹ nhàng.

Sướng: Vì ta biết không có gì thuộc sở hữu của mình; như vậy thì quá thảnh thơi, không phải mang vác nặng nề khổ sở.

Sướng: Vì ta biết mọi hoàn cảnh vui/buồn, mọi cảm giác tiêu cực/tích cực, mọi sự vật mà ta thích/ghét, tất cả mọi thứ ấy đều cũng sẽ qua đi.

Sướng: Vì vạn vật đều thay đổi; không gì có thể đứng yên mãi. Như vậy thì: wow, mỗi giây phút đều là một sự mới lạ.

Sướng: Vì ta biết ai rồi cũng sẽ chết mà cái chết luôn là sự khởi đầu cho một cái mới.

Sướng: Vì tất cả mọi thứ đang ở xung quanh ta đều là giấc mộng, có cái gì thật đâu; mà đã không thật thì: đời là một cuộc chơi. Được chơi suốt như thế mà không sướng thì cũng lạ nhỉ!


Tóm lại, sao tôi thấy đời sướng quá! (Tội nghiệp cho ai thấy đời là bể khổ nhé!)


Chiangrai, North of Thailand

Cõi Tịnh Độ hiện tiền

Đây là những điều tôi đã được nghe khi Thầy đến thăm Trung Tâm Điện Ảnh Hollywood tại thành phố Los Angeles, tiểu bang California để báo tin về dự án thực hiện cuốn phim Đường Xưa Mây Trắng. Lúc đó cùng với Thầy có một số các thầy và các sư cô của Đạo Tràng Lộc Uyển và Mai Thôn, một số cận sự nam, cận sự nữ, kỹ nghệ gia B.K. Modi, và nhiều nhà sản xuất và phát hành phim ảnh của Hollywood và Tokyo. Hiện diện cũng có các tài tử nổi tiếng mà nhiều người biết đến như Sharon Stone, Goddie Hawn, Victoria Principle, Lawrence Fishburne, Robert Dawny Junior... Lúc bấy giờ, một nữ diễn viên điện ảnh, trong trang phục lộng lẫy, từ chỗ ngồi đứng lên, tiến về phía Thầy, cung kính cúi đầu và xin phép được tham vấn Thầy:
‘‘Kính bạch Thầy, chúng tôi là những người trong thế giới điện ảnh, may mắn đã trở nên rất thành công và được ngưỡng mộ trong xã hội. Thế nhưng có rất nhiều người trong chúng tôi lại cảm thấy cô đơn, lo lắng, sợ hãi, tuyệt vọng, và cố tìm khuây khỏa trong các chất kích thích, tình dục, và sự tiêu thụ vật chất. Chúng tôi có nghe nói về một cõi gọi là Tịnh Độ, nơi đó người ta sống rất hạnh phúc và bình an. Xin Thầy rộng lòng nói cho chúng tôi nghe về cõi ấy. Làm sao mà những người dân ở xứ đó có thể sống hạnh phúc và bình an như thế, và bằng cách nào chúng tôi có thể đi về cõi ấy?’’
Thầy mỉm cười, mời cô ngồi xuống, và sau đó nhẹ nhàng trả lời:
‘‘Quả thật là có một cõi như thế, gọi là cõi Tịnh Độ Hiện Tiền. Cõi ấy không bị giới hạn bởi không gian hay thời gian. Nói theo danh từ Phật học thì cõi ấy nằm trong phương ngoại và kiếp ngoại. Bất cứ ai có mang hộ chiếu của Niệm, Định, Tuệ đều có thể đi vào cõi ấy.
‘‘Này các bạn, cõi ấy vì sao tên là Tịnh Độ Hiện Tiền? Bởi vì dân chúng trong cõi ấy có cơ hội học hỏi và thực tập sống hạnh phúc ngay trong giây phút hiện tại. Nơi cõi ấy có những hàng thông reo vi vút, những loài hoa đủ màu đủ sắc, có ánh trăng sao vằng vặc và biết bao nhiêu mầu nhiệm khác. Những người sống trong cõi ấy có khả năng tiếp xúc và tận hưởng những mầu nhiệm đó mỗi giây phút trong đời sống hằng ngày. Họ biết giữ tâm không bận rộn và biết tự thiết lập thân tâm trong giờ phút hiện tại. Không những những mầu nhiệm như trăng sao, thông reo và hoa nở kia thuộc về Tịnh Độ, mà chính bản thân họ cũng thuộc về Tịnh Độ. Tịnh Độ có mặt cho họ hai mươi bốn giờ một ngày, và họ tập sống có mặt cho Tịnh Độ cũng hai mươi bốn giờ một ngày. Vì lý do đó cho nên cõi ấy được gọi là Tịnh Độ Hiện Tiền.
‘‘Này nữa các bạn, mỗi buổi sáng những người dân của cõi ấy thức dậy với nụ cười, ý thức rằng họ đang có hai mươi bốn giờ tinh khôi để tập sống trọn vẹn và nuôi dưỡng lòng thương đối với mọi người và mọi loài. Họ đi những bước chân đầu ngày thật thảnh thơi, ý thức đến những loài sống dưới chân họ để đi trong tình thương và tâm nguyện bảo vệ sự sống. Dân chúng nước ấy có thói quen suốt ngày lấy vạt áo hứng các bông hoa chánh niệm với mỗi động tác của thân, khẩu, ý. Dù đang đi thiền, ngồi thiền hay nấu ăn, rửa dọn, làm vườn, họ đều có an lạc. Người dân trong cõi ấy không cần ra khỏi cõi của mình mà có thể cúng dường chư Bụt ở vô số các cõi khác với các bông hoa chánh niệm mà họ hái được bằng ánh mắt và trái tim tươi sáng của mình.
‘‘Này nữa các bạn, ở cõi ấy, dân chúng biết lắng nghe mọi tiếng chuông, từ tiếng chuông đại hồng, chuông gia trì, chuông sinh hoạt, cho đến chuông đồng hồ, chuông điện thoại, chuông nhà thờ, để trở về với hơi thở vào ra. Trong hơi thở ý thức, tâm họ lắng đọng, và họ có thể tiếp xúc được với những mầu nhiệm của sự sống đang được diễn bày. Dân chúng cõi ấy ý thức rằng sự có mặt đích thực của họ là tặng phẩm cao quý nhất mà họ có thể hiến dâng cho những người họ thương tưởng và biết ơn. Suốt ngày họ biết thực tập nâng cao phẩm chất của sự có mặt tươi mát và thương yêu của họ, dù là trong lúc họ đi chợ, làm việc, dùng phòng vệ sinh, hoặc ăn cơm, rửa bát. Này các bạn, người dân cõi ấy biết cách có mặt cho mình và cho người khác bằng những phép thực tập như thế.
‘‘Này nữa các bạn, ở cõi Tịnh Độ Hiện Tiền thường có nhiều loại chim như họa mi, se sẻ, và hoàng anh. Những con chim ấy, sáu buổi mỗi ngày, thường hót lên những âm thanh hòa nhã: giọng hót của chúng cũng là những tiếng chuông chánh niệm. Dân chúng trong cõi đó mỗi khi nghe được những tiếng hót líu lo và trong sáng như thế đều biết nhiếp tâm trở về với hơi thở và tiếp xúc được với Bụt, Pháp và Tăng đang có mặt trong tự thân và chung quanh họ.
‘‘Các bạn, đừng tưởng rằng các loài chim ấy đã được sinh ra trên căn bản nghiệp báo. Tại sao? Tại vì khi nhân duyên đầy đủ thì chúng biểu hiện. Được sống an ninh và bay lượn tự do, các loài chim ấy cũng thuộc về Tịnh Độ, và tiếng hót của chúng là những phương tiện quyền xảo đưa các bạn trở về với giây phút hiện tại. Vì có đủ chánh niệm và chánh định cho nên khi nghe tiếng chim hót hay nghe tiếng gió lay động các hàng cây, dân chúng cõi ấy đồng thời cũng nghe được pháp âm diễn bày những giáo lý như tứ diệu đế, bát chánh đạo, ngũ căn, ngũ lực, hiện pháp lạc trú, tương tức, vô thường, vô ngã, không, vô tướng, vô tác, vân vân...
‘‘Các bạn đường tưởng rằng những người dân nước ấy sống hạnh phúc như thế nhưng không biết khổ đau là gì. Đừng nghĩ như thế. Nếu không biết khổ đau là gì thì làm sao họ có thể vun trồng hiểu biết và thương yêu để làm nền tảng cho chân hạnh phúc của họ? Những người ở cõi Tịnh Độ Hiện Tiền cũng đã từng sống trong thế giới tiền tài danh vọng, từng cạnh tranh, gây thương tổn và khổ đau cho bản thân và cho bao nhiêu người khác. Nhưng từ khi tiếp xúc được với pháp môn niệm định và tuệ, họ thay đổi được cách sống và tìm ra được Tịnh Độ Hiện Tiền. Họ biết sống giản dị hơn và tiêu thụ ít lại. Ý thức được rằng môi trường tác động đến ba nghiệp thân khẩu ý và dẫn đến hạnh phúc hoặc khổ đau cho họ, dân chúng cõi ấy cùng nhau xây dựng những đoàn thể sống trong chánh niệm (communities of mindful living) với sự thực tập cụ thể của năm giới. Giới định và tuệ giúp họ THẤY được những gì đang xảy ra và BIẾT được những gì họ nên làm và không nên làm. Vì vậy nên họ được phòng hộ và không còn bị lôi kéo vào ba nẻo đường đen tối là địa ngục, ngạ quỷ, và súc sanh. Lại nữa, những người sống trong cõi ấy biết nương vào bước chân và hơi thở chánh niệm của mình và của những người chung quanh để duy trì cõi Tịnh Độ. Họ cũng biết nhận ra sự thất niệm của mình và của những người chung quanh để thức tỉnh và trở về với Tịnh Độ. Này các bạn, cõi Tịnh Độ Hiện Tiền có tình huynh đệ và sự thực tập cụ thể như thế.
‘‘Này các bạn, dân chúng của cõi Tịnh Độ Hiện Tiền sống tuơi mát như những bông hoa, mỗi người là một bông hoa trong vườn hoa nhân loại. Xung quanh họ có biết bao nhiêu là loài hoa, muôn màu muôn sắc, có những bông hoa nở trên mặt đất, những bông hoa nở trên mặt nước và những bông hoa nở trên mặt người. Nụ cười và ánh mắt của những người dân cõi Tịnh Độ Hiện Tiền đích thực là những bông hoa. Lại nữa, ở cõi Tịnh Độ Hiện Tiền có những hồ sen nở hoa đủ màu. Sen trắng chiếu hào quang trắng, sen hồng chiếu hào quang hồng, sen vàng chiếu hào quang vàng, sen xanh chiếu hào quang xanh, sen nào cũng có hương thơm tinh khiết và vi diệu. Nhưng sen nào cũng mọc từ bùn lầy. Này các bạn, ta không thể trồng sen trên cẩm thạch mà phải trồng chúng trong bùn đất. Cũng như thế, an lạc, hạnh phúc và thảnh thơi là những bông hoa được nuôi dưỡng bằng chất liệu hiểu biết, chấp nhận và thương yêu. Có hiểu biết khổ đau thì mới có thể chấp nhận và thương yêu. Nếu không có khổ đau, nếu không tiếp xúc được với khổ đau thì làm sao hiểu được khổ đau của bản thân và của kẻ khác để chấp nhận và thương yêu? Này các bạn, ở cõi Tịnh Độ Hiện Tiền, ta có thể thấy sự có mặt của khổ đau. Nhưng những khổ đau ấy là phương tiện để học hỏi mà không phải là những chướng ngại của hạnh phúc. Không có bùn thì không có sen. Dân chúng ở cõi Tịnh Độ Hiện Tiền thấy rõ được tính tương tức giữa sen và bùn nên họ không bao giờ có ý hướng chạy trốn khổ đau. Họ biết ôm lấy nỗi khổ niềm đau để học hỏi và chuyển hóa, vì vậy họ có khả năng chấp nhận, hiểu biết, thương yêu, và tạo được hạnh phúc cho bản thân và cho kẻ khác. Hạnh phúc ấy cũng là những bông hoa ta nhìn thấy trong ánh mắt và nụ cười của họ. Này các bạn, ở cõi Tịnh Độ Hiện Tiền, vì dân chúng biết nhận diện, ôm ấp và học hỏi từ khổ đau cho nên họ có thể cùng nhau chế tác rất nhiều an lạc để trang nghiêm cho cõi họ.
‘‘Này các bạn, trong cõi Tịnh Độ Hiện Tiền, mọi người cũng đều biết xử dụng khổ đau một cách có liều lượng, vừa đủ để chế tác hiểu biết và thương yêu. Họ không còn sợ hãi khổ đau, cũng không để cho khổ đau làm tràn ngập và tê liệt thân tâm họ. Này các bạn, cõi Tịnh Độ Hiện Tiền mầu nhiệm như thế ấy.
‘‘Này nữa các bạn, dân chúng của cõi ấy ai cũng mang theo trong tự thân năng lượng của các vị Bụt và Bồ Tát. Họ biết sống với con người thật của họ. Họ không chối bỏ hình hài năm uẩn của họ. Trái lại, những người sống trong cõi ấy biết bước đi trên thật địa, biết phóng hào quang với chính mỗi bước chân, mỗi hơi thở, mỗi thế đi, thế đứng, thế nằm, và thế ngồi trong chánh niệm của họ. Chánh niệm là ánh sáng vô lượng có thể chiếu soi được mọi nẻo đi về của tâm mà không hề bị ngăn cách. Vì vậy cho nên nói rằng mọi người trong cõi ấy đều mang theo trong họ năng lượng của các vị Bụt và Bồ Tát.
‘‘Lại nữa, các bạn, thọ mạng của những người dân trong cõi ấy là thọ mạng vô lượng, vì mỗi giây phút của sự sống hàng ngày của họ thực sự bao hàm được cả ba thời: quá khứ, hiện tại, và tương lai. Vì vậy nên họ có khả năng sống sâu sắc và sự sống ấy được tiếp nối một cách đẹp đẽ.
‘‘Các bạn, số người dân cõi ấy nhiều vô lượng, không thể đếm được bằng toán học. Một người biết thức tỉnh và biết sống trong Tịnh Độ Hiện Tiền luôn luôn có tác động lớn đến gia đình, bạn bè, và xã hội của họ. Niềm tin và hạnh phúc của họ mở đường cho các thế hệ trẻ đi lên. Lại nữa, dân chúng trong cõi Tịnh Độ Hiện Tiền ngay khi mới bước vào được cõi ấy đã mang theo tất cả tổ tiên huyết thống và tâm linh của họ đi theo. Họ phát triển được những hạt giống của tài năng, hiểu biết và thương yêu của tổ tiên họ. Họ cũng chuyển hóa được những hạt giống của bạo động, hận thù và khổ đau của tổ tiên họ. Cõi Tịnh Độ Hiện Tiền được xây dựng bằng những công đức tuyệt vời như thế.
‘‘Này các bạn, trong cõi Tịnh Độ Hiện Tiền, cảnh tượng đẹp đẽ nhất là cảnh tượng các vị thiện tri thức tìm tới với nhau và sống với nhau như những cọng đồng, để nâng đỡ, dìu dắt và soi sáng cho nhau trong quá trình học tập chuyển hoá khổ đau và chế tác an lạc. Những cọng đồng ấy được gọi là những tăng thân. Ai mới sinh về cõi Tịnh Độ Hiện Tiền đều thường tìm tới nương tựa vào những tăng thân này để nuôi lớn trí tuệ, từ bi và khả năng sống an lạc. Đẹp thay cảnh tượng của một đoàn người với đủ các màu da, chủng tộc, tôn giáo, và tuổi tác, cùng đi thiền, cùng ngồi nghe pháp thoại, cùng pháp đàm, và cùng chia sẻ những bữa ăn trong im lặng! Tình huynh đệ là chất liệu nuôi dưỡng họ. Tình huynh đệ cho họ hướng đi và rất nhiều hạnh phúc, khiến cho không có ai còn muốn chạy theo danh lợi, tiền tài, quyền hành và sắc dục nữa. Đến với các tăng thân đó ai cũng sẽ nhận diện được sự có mặt của rất nhiều các bậc thượng thiện nhân.
‘‘Này các bạn, các bậc thượng thiện nhân và bằng hữu của họ có mặt trong các tăng thân thường tổ chức các ngày quán niệm và các khoá tu tập để giúp cho những người vừa bước sang cõi của họ tập nuôi dưỡng được hạnh phúc và niềm tin, để những vị này đạt được quả vị bất thối chuyển mà không rời bỏ cõi Tịnh Độ Hiện Tiền để trở về cõi Ta Bà có nhiều bận rộn, bất an và khốn đốn. Công việc giáo hoá này đem lại cho các thành phần của tăng thân rất nhiều niềm vui và chất liệu nuôi dưỡng trong đời sống hàng ngày.’’
Đến đây, vị nữ minh tinh màn bạc hỏi:
‘‘Bạch Thầy, giữa cõi Tịnh Độ Hiện Tiền an vui và cõi Ta Bà bận rộn, bất an và khốn đốn kia có liên hệ nào không?’’
Thầy nói:
‘‘Hai cõi tuy khác nhau, nhưng tương tức với nhau một cách mầu nhiệm, cũng như hoa sen với bùn lầy. Nếu không có bùn lầy thì không có hoa sen. Khi tâm ta có chánh niệm, hiểu biết và tình thương, khi ta biết an trú trong giây phút hiện tại thì cõi Tịnh Độ Hiện Tiền được biểu hiện. Mỗi hơi thở và bước chân của ta đều diễn ra trong cõi Tịnh Độ Hiện Tiền. Còn nếu tâm ta bị thất niệm lôi kéo, bắt đầu rong ruỗi trong quá khứ hoặc tương lai, và bị sự bận rộn, bất an và khốn đốn chi phối thì ta đánh mất cõi Tịnh Độ Hiện Tiền và ta trở lại cõi Ta Bà. Vì vậy cho nên ở đâu và lúc nào nếu ta thực tập được bước chân và hơi thở có ý thức thì ta có thể trở về với cõi Tịnh Độ Hiện Tiền ngay trong thời điểm đó.
‘‘Này các bạn, trong giờ phút này tôi đang chia sẻ với các bạn về cõi Tịnh Độ Hiện Tiền thì ở khắp nơi trên thế giới cũng có vô lượng vô số các bậc thiện tri thức khác đang làm công việc chia sẻ về cõi Tịnh Độ Hiện Tiền với các thân hữu của họ, hoặc trong giới thương gia, hoặc trong giới chính trị gia, hoặc trong giới giáo chức, hoặc trong giới khoa học gia, hoặc trong giới phụ huynh, hoặc trong giới nông dân, hoặc trong giới sinh viên học sinh, hoặc trong giới tù nhân...Ở đâu và bất cứ vào thời nào cũng có những vị thiện tri thức có kinh nghiệm sống trong cõi Tịnh Độ Hiện Tiền; các vị này thấy thân hữu của họ đang trôi lăn trong cõi thất niệm, bất an và khốn đốn, nên luôn luôn tìm ra những pháp môn mới mẻ và những phương tiện quyền xảo để khai thị cho bằng hữu của họ con đường đi đến cõi Tịnh Độ Hiện Tiền.
‘‘Này các bạn, những ai đã từng khổ đau, bất an và khốn đốn do nếp sống thất niệm đưa đến, khi có dịp nghe các vị thiện tri thức kia khai thị đều có cơ duyên được khai ngộ và làm phát khởi được niềm tin nơi cõi Tịnh Độ Hiện Tiền. Niềm tin này không phải là một niềm tin mù quáng mà là một niềm tin dựa trên những kinh nghiệm trong quá khứ và trong hiện tại của mình, nghĩa là trên sự khai ngộ của chính mình. Lại nữa, này các bạn, quá trình khai thị và vãng sinh vào cõi Tịnh Độ Hiện Tiền có thể xảy ra rất mau chóng trong giây phút hiện tại, mà không cần trải qua một khó khăn nào. Những người đang sống trong cõi Ta Bà hay trong các cõi khác không cần phải đợi đến khi mạng chung mới sinh qua cõi Tịnh Độ Hiện Tiền. Nếu biết luyện tập chánh niệm thì chỉ với một hơi thở đến bảy hơi thở, với một bước chân đến bảy bước chân là họ đã có thể sinh về cõi Tịnh Độ với hình hài năm uẩn của họ. Vì vậy chúng ta nên biết rằng tu tập để thừa hưởng cõi Tịnh Độ Hiện Tiền là một phép tu tập thích hợp cho mọi căn cơ, và dù ở trong bất cứ truyền thống nào, ai cũng có thể tu tập và thành đạt được một cách dễ dàng.’’
Thầy đã nói xong. Vị nữ minh tinh màn bạc, các thầy, các sư cô, các vị cư sĩ cũng như các tài tử, các nhà sản xuất và phát hành phim ảnh của Hollywood và Tokyo sau khi nghe Thầy nói ai cũng phát lòng hoan hỷ, tin tưởng, và quyết tâm thực tập để được đi vào và sống trong cõi Tịnh Độ Hiện Tiền.