Thứ Hai, 15 tháng 1, 2018

Sự khác biệt trong con đường Thánh đạo và con đường Bồ tát đạo

Nếu buộc phải đánh giá một bậc chứng đắc thì có thể dùng THÂN KHẨU Ý để đánh giá một bậc Thánh. Nhưng Thân Khẩu Ý không phải là tiêu chuẩn để đánh giá một Bất thối Bồ tát.Vì sao lại vậy?

Vì chánh kiến của một bậc Thánh A La Hán dựa trên Tứ Diệu Đế trên Bát Chánh Đạo nên dùng Thân Khẩu Ý để đánh giá họ là phù hợp.

Còn chánh kiến của một Bất thối Bồ tát dựa trên Quy Luật vận hành của Nhân Quả. Cho nên chỉ ai thể nhập được vào Chân Lý Nhân Quả thì mới có thể thấy biết họ.

Dùng tiêu chuẩn của Thánh A La Hán để đánh giá một Bất thối Bồ tát cũng như dùng hành vi của một con chim để đánh giá một con mèo đó vậy.

Để có thể đến chỗ của Bất thối Bồ tát thì bất cứ ai cũng phải thông qua con đường Tứ Diệu đế Bát chánh đạo, nghĩa là ấn chứng được Tam pháp ấn Khổ Vô thường Vô ngã. Nói cách khác: Tất cả các Bất thối Bồ tát đều phải qua được Tam Pháp ấn này thì mới có thể bước chân trên con đường của Bồ tát bất thối. Còn ai đang trên đường tu tập Tứ Diệu đế Bát Chánh đạo vẫn chưa chứng ngộ tam pháp ấn thì chẳng thể thấy biết một Bất thối Bồ tát là việc đương nhiên đó vậy.

Pháp tu tập của một một vị trên đường chứng ngộ tam pháp ấn và pháp tu tập của một vị trên đường Bồ tát bất thối không giống nhau. Vì sao?

Vì đối với một vị trên đường thánh đạo, họ buộc phải khép kín thân khẩu ý, cô lập với những ngoại cảnh để có thể giải quyết tận gốc cái bên trong. Cho nên nhiều người thường nhầm những vị này với sự cực đoan. Thật ra không phải vậy, vì đó là điều kiện cần cho họ trong việc hành pháp.

Còn đối với một vị trên đường hành 6 ba la mật thì họ không khép kín thân khẩu ý mà họ phải mở rộng ra để trải nghiệm tất cả các hoàn cảnh sống khác nhau. Cho nên nhiều người lầm tưởng họ với sự buông lung. Thật ra không phải vậy, vì đó là điều kiện cần cho họ trong việc hành pháp.

Nên nhớ: không ai có thể bước chân trên đường Bồ tát Bất thối nếu không chứng ngộ được Tam pháp ấn. Nhiều người thấy con đường của Bồ tát sao mà thênh thang rộng mở và khoáng đãng quá nên lao vào mà không thông qua Tam pháp ấn (nghĩa là phải qua được Tứ Diệu đế và Bát chánh đạo). Vậy là bị hổng chân đấy thôi.

Và nhiều người đang trong quá trình khép kín thân khẩu ý để giải quyết tận gốc cái bên trong nhưng lại buông lung phóng tâm ra ngoài nhìn ngó phán xét bằng tiêu chuẩn khép kín của chính mình, cho nên mãi không chứng ngộ Tam pháp ấn là vậy đó.

Ấy là sự khác biệt trên con đường Thánh đạo và con đường Bồ tát đạo. 

Chủ Nhật, 14 tháng 1, 2018

Trở ngại của người tu tập pháp môn Quán Từ Bi Hỷ Xả.

Từ Bi Hỷ Xả là bản chất của Bình Đẳng Tánh. Vì không vào được Bình Đẳng Tánh nên phải dùng phương tiện quán ấy để vào. Nhưng quán mãi mà vẫn không vào được, lậm vào phép quán ấy thì lâu dài sẽ đi về thái cực ngược lại. Đó là thái cực ngược với Từ Bi Hỷ Xả, nghĩa là cực ác. Vì sao lại vậy? Vì khi dùng Từ Bi Hỷ Xả ra làm đối tượng để quán thì rơi vào nhị nguyên. Nhị nguyên nghĩa là hễ có thiện thì buộc phải có ác đi kèm. Cho nên quán Từ Bi Hỷ Xả lâu dài mà vẫn không vào được Pháp, lạm dụng phép quán ấy thì cán cân vũ trụ bị lệch, nên họ phải thể hiện sự cực ác để cán cân ấy cân bằng trở lại. Do đó họ có thể phạm đủ thứ giới và không điều ác nào mà không dám làm là vậy.
Cho nên bất cứ điều gì mà lạm dụng thì đều có tác hại là vậy đó.
Đó cũng là câu trả lời cho câu hỏi: Vì sao người tu đạo một thời gian trở nên ác quá vậy?

Làm thế nào để biết mình đang rơi vào cái bẫy của việc lạm dụng phép quán Từ Bi Hỷ Xả?
Đó là khi mình hành ác pháp thì tánh tự thấy biết (Phật tánh) báo cho mình biết đó là ác pháp nhưng mình hay dùng cái mác Bồ tát để ngụy biện. Mình nghĩ rằng mình đang làm thiện, đang giúp người, đang làm Bồ tát,…. Nghĩa là mình luôn tìm mọi cách, tìm mọi lý lẽ để che đậy cho việc làm ác ấy. Bất cứ khi nào mình cần phải dùng cái mác bồ tát hay dùng lý lẽ để che đậy thì khi ấy mình rơi vào cái bẫy do cái Ta ảo tưởng tạo ra rồi đó. Vì sao?

Vì một Bồ tát thật sự khi làm ác họ biết rất rõ họ đang làm ác, họ thừa nhận cái ác ấy chứ không cần phải che đậy, không cần phải ngụy biện gì cả. Họ biết rất rõ đó là ác, và họ thậm chí biết rất rõ quả báo cho việc làm ác ấy. Không cần giấu giếm, không cần che đậy, ác thì là ác, và làm ác thì có quả báo ác. Đó là một Bồ tát thực sự. Vì vậy mà có câu nói: Bồ tát thì không biết mình là Bồ tát là vậy. Dù họ làm gì, thiện hay ác, thì họ cũng không hề dùng cái mác Bồ tát để lấp liếm, cho nên họ mới là Bồ tát.

Túm lại, bất kì lúc nào mình phải dùng cái mác Bồ tát để che đậy, để ngụy biện, để lấp liếm thì chắc chắn lúc ấy mình đã bị cái Ta bản ngã hạ gục rồi đó.

Bài liên quan: TỪ BI là gì?

Làm thế nào để thu tâm vào trong khi vẫn sống và làm việc trong xã hội?

Chỉ cần nhớ: Bất cứ điều gì mình nói đều là tự nói mình. Bất cứ gì mình nghĩ đều là mình nghĩ về mình. Bất cứ điều gì mình làm mình đều làm cho mình.
Cứ hằng thấy biết như vậy thì từ từ xóa đi ranh giới giữa mình và người.
Cái hằng thấy biết ấy chính là hành pháp giữa cuộc sống đời thường đó vậy.

Đó cũng chính là câu nói trong đạo Chúa: Con cứ lo việc của Chúa (hằng quay vô), còn việc của con thì hãy để Chúa lo (mọi việc được sắp xếp theo nhân duyên.)

Thứ Bảy, 13 tháng 1, 2018

Sở tri chướng

Sở tri chướng, đây là trở ngại lớn nhất cho người học đạo (bất kể đạo gì) của thời đại này. Vì sao lại vậy? Vì khi chứa chấp tri kiến thì bất cứ cái gì được đọc được thấy đều thông qua lăng kính của tri kiến ấy, nên thấy gì cũng là cái thấy chủ quan còn gọi là tư kiến. Và khi đọc/nghe/thấy điều gì thì tâm thức khởi ý so sánh với cái đã chấp chứa.

Khi so sánh thì sẽ xảy ra hai xu hướng, hoặc thích thú (đó là tham) hoặc bài bác (đó là sân) Ai cũng phải đi theo hai xu hướng này vì tâm thức ai cũng đầy ắp tri kiến. Người tỉnh thức thì luôn nhìn thấy được sự so sánh ngầm ấy, một sự so sánh âm thầm rất khó nhận biết nhưng lại có sức mạnh rất to lớn. Kẻ mê thì bị sự so sánh ấy lôi kéo vào những cái được cho là bảo vệ quan điểm, bảo vệ tín điều. Khi nào mình khởi ý làm điều này thì khi ấy mình bị cái TA ảo tưởng hạ nốc ao rồi đó. Chỉ cần tự thấy biết như vậy thì đó chính là HÀNH PHÁP.

Nói về việc đọc kinh Nikaya mà không hiểu kinh.

Tất cả các bài kinh đều ra đời do những nhân duyên phù hợp. Người học Phật ngày nay có xu hướng tách các bài kinh ra khỏi nhân duyên của chính nó rồi gán ghép nó vào nhân duyên khác theo đúng ý mình. Do đó đọc kinh mà chẳng hiểu kinh là vậy. Khi nhân duyên không phù hợp, bài kinh thành ra có nghĩa khác. Cho nên tất cả ai đọc mà hiểu kinh là do đặt bài kinh vào nhân duyên tương ưng hay nhân duyên của chính nó. Mà để có thể hiểu nhân duyên một bài kinh thì phải có tuệ đến mức nào đó mới làm được việc ấy. Còn kẻ không có tuệ mà đọc kinh thì chẳng khác nào những kẻ cực đoan sẳn sàng ôm bom tự sát cả. Đó là lý do tôn giáo nào kể cả Phật giáo cũng có những phần tử vô cùng cực đoan là vậy.

Thế nào là ngoại đạo, thế nào là nội đạo?

Những kẻ thường đọc kinh Nikaya hay nhầm lẫn danh từ ngoại đạo thường được nhắc đến trong kinh này. Đó là Đức Phật gọi người tôn giáo khác là ngoại đạo nên mình ôm luôn điều ấy và ghim vào tâm thức rằng cứ ai không là Phật tử thì đó là ngoại đạo. Đó là sự nhầm lẫn do không hiểu Phật.

Phật dùng từ ngoại đạo để chỉ những kẻ thường xuyên quay ra chứ không phải là kẻ thuộc tôn giáo khác. Nhưng thời Phật tại thế thì có vô số tôn giáo khác nhau và thời đó thậm chí còn không có cả Phật giáo (Phật giáo chỉ hình thành sau này), thời đó chỉ có ngoại đạo và nội đạo.

Tất cả kẻ nào hằng quay vô, tự nhìn ngó tâm thức chính mình thì đó là nội đạo, chứ nội đạo không có nghĩa là Phật tử.
Tất cả kẻ nào hằng quay ra, không tự thấy biết tâm thức chính mình thì gọi là ngoại đạo, chứ ngoại đạo không có nghĩa là người thuộc tôn giáo khác.

Do đó dù tự xưng là Phật tử đi chăng nữa mà thường quay ra, thường xuyên không thấy được tâm mình thì kẻ ấy là ngoại đạo.

Ngoại đạo và nội đạo không có nghĩa gì là xấu cả mà chỉ là những cấp học mà thôi. Người hằng quay ra thì giống như học trò học tiểu học. Còn người hằng quay vô thì giống như học trò học những cấp cao hơn. Cho nên ngoại đạo là chỉ cho kẻ ở cấp học thấp chứ không có ý phỉ báng hay khinh chê gì cà.

Và một điều có vẻ như nghịch lý thời nay rằng: Những kẻ tự xưng là Phật tử lại là kẻ ngoại đạo, nghĩa là người học tiểu học.

Cho nên muốn tìm minh sư thì hãy đi tìm ở các tôn giáo khác. Vì sao lại vậy?
Vì thời nay Phật toàn giác Thích Ca Mâu Ni không còn tại thế nhưng Bất thối Bồ tát lại ở khắp, không có tôn giáo nào mà không có mặt họ, không có cõi trời nào hay cảnh giới nào mà lại thiếu vắng họ. Kể cả trong nhà nước Hồi giáo cực đoan IS, họ cũng hiện diện. Bất thối Bồ tát tái sanh theo tâm nguyện, và đang trên đường hoàn thiện 6 Ba La mật. Họ trà trộn khắp nơi theo đúng tâm nguyện và nguyện vọng.

Vì họ có mặt ở khắp nơi nên kẻ nào bám chặt vào tôn giáo thì chẳng thể thấy biết họ huống chi là tiếp cận họ mà học hỏi. Họ chính là minh sư và minh sư thì mình gọi là ngoại đạo, còn mình tôn thờ ma sư làm thầy. Minh sư là kẻ hằng quay vô, còn ma sư là kẻ hằng quay ra.


Túm lại dù theo tôn giáo nào cũng không quan trọng. Quan trọng là nếu bám chặt vào tôn giáo, quyết tử vì tôn giáo thì tự mình tước bỏ đi cơ hội tiếp cận minh sư (là các Bất thối Bồ tát) đó vậy.

Thứ Năm, 11 tháng 1, 2018

Thế nào là ĐOẠN?

Trong kinh Nikaya hay dùng từ ĐOẠN. Muốn đắc đạo thì phải đoạn cái này đoạn cái kia. Vậy là mọi người lao vào để đoạn cái gì mà mình cho là dẫn mình đi luân hồi. Càng đoạn thì càng dính, càng dính thì càng muốn đoạn, mà càng muốn đoạn thì lại càng dính chặt.

Nên biết rằng ĐOẠN nghĩa là không chạy theo cũng không triệt tiêu. Ấy chính là ĐOẠN, nghĩa là không dính mắc bất cứ điều gì.

Vì nhầm lẫn cho rằng ĐOẠN nghĩa là triệt tiêu cho nên tu hoài tu mãi mà sao cứ dậm chân tại chỗ hoặc càng tu càng lùi là vậy.

Càng muốn triệt tiêu thì càng dính. Đó là quy luật tự nhiên, chẳng ai có thể đi ngược lại quy luật ấy cả.

Đức Phật cũng phải tôn thờ Thiên Chúa!

Thiên Chúa là tên gọi chung của cả ba tôn giáo Do Thái, Kito và Hồi giáo. Thiên Chúa tùy tôn giáo và vùng miền mà có tên khác nhau như Elohim, Jehovah, Allah, Jesus (con Thiên Chúa),….

Và Thiên Chúa được định nghĩa theo đạo Hồi là “duy nhất không bị sinh ra, duy nhất không có khởi đầu, duy nhất vĩnh cửu, duy nhất thật, duy nhất bất tử, duy nhất thông minh, duy nhất tốt, duy nhất toàn năng.” Thiên Chúa là vô hình tướng, không một ai có thể thấy và thấu hiểu Thiên Chúa, ngoại trừ người có “con mắt tinh thần.” Tất cả những bậc lãnh tụ tôn giáo hay người sáng lập tôn giáo đều là người có “con mắt tinh thần” và họ cố truyền lại cho mọi người cái gọi là vô hình tướng của Thiên Chúa. Đạo Phật không gọi là Thiên Chúa mà gọi là Pháp, kẻ nào thấy Pháp, kẻ đó thấy Như Lai.

Cái vô hình tướng thì nằm ngoài sự diễn đạt của ngôn từ cho nên người nào hiểu thì hiểu, còn không thì thôi, dù có đọc bao nhiêu cuốn kinh đi chăng nữa mà không hiểu thì vẫn cứ không hiểu. Do không hiểu nên phải diễn đạt và khi diễn đạt thì tạo ra nhiều tông phái và chi phái khác nhau.

Người xưa rất thông minh, họ đã phát hiện ra Thiên Chúa, nghĩa là Pháp, nghĩa là quy luật vận hành của vũ trụ trời đất, và họ không biết diễn tả như thế nào nên họ gọi là Thiên Chúa, và họ hình dung Thiên Chúa có những quyền năng này nọ hay Thiên Chúa làm điều này điều nọ. Thật ra Thiên Chúa chính là quy luật vận hành của trời đất. Vì đó là quy luật trời đất cho nên ngay cả Phật toàn giác cũng phải tuân thủ, không thể đi ngược lại được.

Ví dụ, có người yêu cầu Thích Ca chú nguyện cho người cha quá cố của mình được lên trời, thì Thích Ca bảo người đó đem đến một túi dầu và một túi đá. Sau đó ra ao rồi thả đá và dầu xuống nước. Theo luật của Thiên Chúa thì đá nặng nên chìm, và dầu nhẹ nên nổi. Thích Ca nói: không ai có thể chú nguyện cho đá nổi và dầu chìm cả. Đá phải chìm và dầu phải nổi, đó là quy luật tự nhiên, không ai, kể cả Phật toàn giác có thể làm điều ngược lại. Cũng như người làm nhiều việc thiện thì vào thiên đường, người làm nhiều việc ác thì vào địa ngục. Đó là luật tự nhiên, không ai có thể làm trái lại được cả.

Hồi đó tôi có cô bạn đạo Hindu, thờ phụng thần Krishna. Tôi có ở chung phòng với cổ. Hôm đó trời nắng muốn chết, mới 7h sáng mà nắng đổ lửa. Cái cổ nói: Krishna ơi, hôm nay Người làm cho trời nóng quá! Cái tự nhiên tôi nổi đóa vì nghĩ cô này mê tín dị đoan thấy gớm luôn, tôi nói: Trời nắng là do trời nắng, chứ sao lại bảo rằng Krishna làm cho trời nắng. Hên là cổ cũng hiền, hổng có quýnh tôi. Đối với người tôn thờ thần Krishna thì thần Krishna tạo ra tất cả. Quan niệm này y như quan niệm về Thiên Chúa của Do Thái, Kito và Hồi giáo. Và đó cũng là quan niệm về Pháp của Phật giáo. Có cái gì mà không phải là Pháp. Ngay cả ông Thích ca trước khi nhập Niết Bàn còn dặn mọi người rằng: Lấy Pháp làm thầy. Nghĩa là lấy quy luật tuần hoàn của tự nhiên, lấy luật vận hành của  vũ trụ trời đất, ra làm thầy.

Nhưng mà về sau nhiều người đệ tử của ổng không thể hiểu được luật tuần hoàn của tự nhiên thì lấy gì mà lấy làm thầy nên họ lấy giới làm thầy. Nói về giới cái ra thêm chuyện.

Giới luật trong đạo Phật cũng như trong các đạo Hindu, Hồi, Kito, và Do Thái là phù hợp với điều kiện sống, khí hậu thiên nhiên lúc ấy. Ví dụ, thời ấy, người theo đạo Hồi, đạo Kito và Do thái sống bằng nghề du mục thì những giới luật rất nghiêm khắc ấy cực kì phù hợp với dân du mục, với cuộc sống đổ lửa trên sa mạc hay trên vùng đất khô cằn. Kể cả cách giết mổ để cúng tế bằng máu động vật này nọ,…. Tất cả đều do lối sống thời ấy tạo ra nên giới luật rất phù hợp với lúc đó. Bây giờ người ta không còn sống du mục nữa mà bắt người ta phải theo y chang thì mới có chuyện xảy ra chớ. Cho nên do không hiểu nổi Thiên Chúa, nghĩa là quy luật tuần hoàn của tự nhiên nên người ta phải bám chặt vào giới luật (mà thời nào thì luật đó), vì vậy mà có tranh cãi, xung đột, và chiến tranh tôn giáo. Nếu ai cũng lấy Pháp làm thầy, y như lời ông Thích Ca dặn trước lúc đi xa (hihi) thì làm gì có chiến tranh. Mọi việc đều thuận theo Nhân Quả, hài hòa với tự nhiên hết thì không có chống đối, kháng cự gì cả. Điều ấy có nghĩa là ai cũng đắc đạo hết rồi, ai cũng thấy Thiên Chúa hết rồi thì mới vậy được. Nhưng vấn đề là tại không thấy Thiên Chúa, không lấy Pháp làm thầy được nên mới xảy ra chuyện.

Túm lại thì các tôn giáo được hình thành là do tập quán phong tục thời tiết khí hậu nghề nghiệp phù hợp với khu vực ấy mà ra. Chứ Thiên Chúa, Pháp, hay Krishna,…. đều chỉ chung một việc, đó là luật vận hành của vũ trụ trời đất. Theo luật tự nhiên (Thiên Chúa/Pháp) thì hôm nay trời mưa nhưng mình không chịu theo tự nhiên, trong giới luật ghi là phải nắng cho nên mình ép mình cho nắng. Vậy là mình làm trái luật trời (Thiên Chúa/Pháp), ngược tự nhiên rồi nhưng mình lại tự hào là mình là người giữ giới luật. Thế mới lạ chớ.

Cho nên giờ ai bảo theo tôn giáo nào thì tôi cũng theo hết, bởi vì Thiên Chúa (luật tuần hoàn của vũ trụ) thì cũng chỉ có một thôi, cho nên theo tôn giáo nào cũng là theo quy luật tuần hoàn ấy, có gì đâu mà khác biệt.

 Túm lại thì ai theo quy luật tuần hoàn của vũ trụ thì đó là người của mọi tôn giáo. Cứ nơi nào có tôn giáo nào thì theo, qua nơi khác thì theo tôn giáo khác. Vậy là quá đơn giản, khỏi chống cự, khỏi làm cảm tử quân tử vì đạo, khỏi bảo vệ, tôn thờ bất cứ điều gì. Quy luật tuần hoàn của vũ trụ thì đâu cần ai bảo vệ đâu mà đòi bảo vệ. Dù mình biết hay không biết, thấy hay không thấy, tin hay không tin,…. thì quy luật tuần hoàn của vũ trụ vẫn cứ vậy mà xoay vần thôi hà, đâu có liên quan đến cái biết/không biết, thấy/không thấy, tin/không tin của ai đâu. Y như Thích Ca nói: Dù Như Lai có ra đời hay không thì Chân Lý (Luật Tuần hoàn của vũ trụ) vẫn vậy.

Không ai thay đổi được, không ai bảo vệ được và cũng không ai phá hủy được Chân Lý.

Cho nên ai muốn bảo vệ gì thì cứ việc mà bảo vệ (!!!!), còn ta thì ở bầu thì tròn, ở ống thì dài, ở trong cộng đồng tôn giáo nào thì ta theo tôn giáo ấy.

P.s Người nào bám chặt vào tôn giáo của mình mà không theo sự sắp xếp của luật vận hành của vũ trụ, thì người đó là đi ngược lại ý Chúa rồi đó.

Ý nghĩa câu nói trong hình là: Tất cả đều vô thường (thay đổi), chỉ có duy nhất sự vô thường là thường trụ (không thay đổi).

(Cái gì thường trụ (không thay đổi), cái ấy chính là Thiên Chúa, không bao giờ thay đổi, không có khởi đầu cũng không có kết thúc, bất tử và toàn năng, không có hình tướng, cũng không diễn đạt được bằng lời, người ta chỉ có thể thấy Thiên Chúa qua các dấu hiệu mà thôi.)

Thứ Ba, 9 tháng 1, 2018

Làm sao biết người tốt hay người xấu với mình?

Hỏi: Cuộc sống không phải toàn là người tốt hay toàn là kẻ xấu; nhưng làm sao mình có thể phân biệt được người thực sự tử tế với mình; làm sao mình có thể có được sự may mắn trong cuộc sống, tìm đâu để có được niềm tin rằng sau cơn mưa trời sẽ sáng?


Đáp: Ai tốt xấu thì kệ họ, quan trọng là mình tốt hay xấu thôi hà. Chỉ cần thường xuyên biết mình tốt hay xấu thì sau cơn mưa trời mới sáng được chớ.
Hỏi: Em hỏi vậy bởi vì trong bất cứ việc gì hoặc trong mối quan hệ gia đình cũng vậy, lúc nào em cũng nghĩ có trách nhiệm và làm toàn sức mình nhưng mọi người đặt câu hỏi, trách móc. Nhưng sau nhiều sự việc, họ hiểu ra thì họ không còn hờn giận và cư xử với em tốt hơn. Nhưng trong thời gian đó em rất mệt mỏi và em cảm nhận tại sao mình không được người ta tin, làm bản thân em rất buồn


Đáp: Tại lúc trước mình cũng thường xuyên trách oan cho người khác cho nên giờ mình phải lâm vào cảnh bị oan như vậy, để hiểu cảm xúc của người bị oan là như thế nào, để sau này mỗi khi có phán xét phê phán ai thì rất là thận trọng. Phải như vậy thì sau này có làm sếp, làm cấp trên, làm chỉ huy, làm cha mẹ, ông bà thì mới có sự thông cảm cho người ở dưới mình hay lệ thuộc vào mình được chớ. Cái gì xảy ra cũng có nguyên nhân của nó hết mừ.

Thứ Hai, 8 tháng 1, 2018

Những gì chúng ta có thể nhìn thấy đều là hiện tướng, không phải là cái thật.

Vì chúng ta không thể thấy cái thật nên phải dùng hiện tướng để mà đánh giá/phân loại/phân biệt, rồi từ đó ghim lại sự đánh giá ấy, nên hình thành bản ngã.
Thế nào là hiện tướng?
Ví dụ, thông qua báo chí tin tức, và cái mà chúng ta cho rằng mình thật sự thấy thì đối với chúng ta Hồi giáo gắn liền với man rợ và khủng bố, giết chóc và chiến tranh. Và chúng ta ghim luôn những điều ấy vào tâm thức. Khi gặp hay nghe nói về Hồi giáo thì từ tâm thức hiện lên sự man rợ, khủng bố, giết chóc, chiến tranh. Đó là cái tâm thức của chúng ta chứ chẳng liên can gì đến Hồi giáo cả. Vậy túm lại, Hồi giáo có man rợ, có khủng bố, có giết chóc, có chiến tranh không? Câu trả lời là CÓ. Hoàn toàn CÓ. Và câu hỏi là: Vậy chúng ta có man rợ, có khủng bố, có giết chóc, có chiến tranh không? Câu trả lời cũng là CÓ. Hoàn toàn CÓ. Vậy đâu là sự khác biệt? Sự khác biệt là có người thể hiện những cái nhân man rợ, khủng bố, giết chóc, chiến tranh ra cho chúng ta thấy, còn chúng ta thì chưa đủ duyên để thể hiện những cái nhân ấy nên chúng ta ém nó lại.
Một ví dụ khác là thông qua truyền thông, sách báo, và định kiến và cái mà chúng ta cho rằng mình thật sự thấy thì đối với chúng ta Phật giáo gắn liền với từ bi và bác ái, tha thứ và khoan dung. Đó là cái tâm thức của chúng ta chứ chẳng liên can gì đến Phật giáo cả. Vậy túm lại, Phật giáo có từ bi và bác ái, tha thứ và khoan dung không? Câu trả lời là CÓ. Hoàn toàn CÓ. Và câu hỏi là: Vậy Hồi giáo có từ bi và bác ái, tha thứ và khoan dung không? Câu trả lời cũng là CÓ. Hoàn toàn CÓ. Vậy đâu là sự khác biệt? Sự khác biệt là có người thể hiện những cái nhân từ bi và bác ái, tha thứ và khoan dung ra cho chúng ta thấy, còn chúng ta thì chưa đủ duyên để thấy những cái nhân ấy nơi những người Hồi giáo.
Đó là lý do mà khi chúng ta tiếp xúc với những người tự xưng là Phật tử, chúng ta hay bị thất vọng, vì sự hèn hạ, bỉ ổi, tiểu nhân, thủ đoạn,….Túm lại những tính cách được xem là bẩn thỉu được thể hiện ra. Và khi chúng ta tiếp xúc với những người Hồi giáo thật sự chúng ta dễ bị ngạc nhiên bởi sự trung thực, từ bi, bác ái, khoan dung, độ lượng,….Túm lại những tính cách được xem là cao quý được thể hiện ra.
Lý do cho sự thất vọng hay ngạc nhiên là định kiến hay còn gọi là cái ghim của chúng ta, chứ chẳng liên can gì đến tín đồ Phật giáo hay Hồi giáo cả. Tất cả các hạt giống tốt/xấu, thiện/ác thì ai cũng được trang bị đầy đủ, không thiếu thứ gì cả. Cho nên cái chúng ta nhìn thấy chính là sự phản ánh tâm thức của chính chúng ta. Chúng ta muốn thấy gì thì chúng ta sẽ thấy nấy. Cái được gọi là chúng ta muốn thấy gì chính là cái định kiến hay còn gọi là cái ghim của chúng ta. Cái ghim của ai thì tự lo quay về mà giải quyết, không liên can gì đến ngoại cảnh cả. Ngoại cảnh chính là tấm gương để cho những cái ghim ấy có cơ hội lộ diện ra mà thôi.
Ảnh: Internet