Thứ Ba, 6 tháng 5, 2014

Cửa tùng đôi cánh gài

Khi chàng dũng sĩ về đến chân núi thì trăng cũng vừa lên. Trăng mười chín soi sáng cảnh núi rừng cô tịch. Ánh trăng nhấp nháy đùa giỡn trên lá câỵ Đêm thu mát lạnh. Cảnh vật hình như không có gì đổi thay sau bảy năm xa cách. Cảnh vật tuy không xa lạ, nhưng cũng không thân mật chào đón người cũ từ phương lạ trở về. Chàng dũng sĩ dừng lại ở chân núi, nhìn lên.
Trước mặt chàng, con đường mòn lên núi đã bị đôi cánh cửa tùng khép chặt. Chàng đưa tay cố đẩỵ Nhưng hai cánh cửa kiên cố vẫn im lìm không lay chuyển dưới sức mạnh của đôi cánh tay chàng. Chàng lấy làm lạ. Ngày xưa chẳng bao giờ sư phụ chàng lại cho đóng chặt cửa lên núi như thế nàỵ Chỉ có một con đường đưa tới am sư phụ mà thôi, nhưng bây giờ lại bị đóng chặt. Hớn hở chàng vỗ tay vào đốc kiếm, phi thân nhảy qua, nhưng chàng không nhảy qua khỏi. Một mãnh lực gì níu lấy thân chàng trở lại, khiến chàng không cất mình lên khỏi hai cánh cửa tùng. Chàng rút gươm định chém rời cánh cửa, nhưng khi chạm tới cánh cửa, lưỡi gươm văng trở lại như vừa chạm vào thép cứng. Chàng chùn tay, đưa lưỡi gươm lên nhìn. Lưỡi thép sáng loáng dưới ánh trăng. Cánh cửa tùng rắn quá, và hình như đã thu nhận thần lực của sư phụ chàng, nên đã đóng kín đường mòn lại một cách hết sức vững chãi. Chàng thở dài cho gươm vào vỏ rồi ngồi phịch xuống tấm đá lớn gần bên, ôm đầu nghĩ ngợi. Bảy năm về trước, chàng còn nhớ rõ khi chàng xuống núi, sư phụ chàng đã lặng lẽ nhìn chàng một hồi lâu, không nói năng gì. Cái nhìn của Người tuy dịu dàng nhưng có lẫn đôi chút xót thương. Chàng đã cúi đầu im lặng trước đôi mắt dịu hiền và cái nhìn bao dung của sư phụ. Hồi lâu Người mới thong thả bảo chàng:
-"Ta không thể giữ con ở mãi bên ta. Thế nào con cũng phải xuống núi để hành đạo, để cứu người và giúp đời. Ta cho rằng con có thể ở lại cùng ta trong một thời gian nữa trước khi con rời ta xuống núi. Nay con đã muốn xuống thì con cứ xuống. Nhưng con ạ, ta mong con nhớ những điều ta dặn khi con đã đi vào cuộc sống đồng sự và lợi hành." Rồi Người cặn kẽ dặn chàng về những điều chàng nên tránh, và về những điều chàng nên làm. Sau hết, Người từ tốn và dịu dàng để tay trên vai chàng:
- "Con phải nhớ những tiêu chuẩn hành động mà ta đã truyền thọ cho con trong năm sáu năm trời học tập. Chớ bao giờ làm một việc gì có thể gây khổ đau cho mình và cho kẻ khác, trong hiện tại cũng như trong tương lai. Hãy tiến bước mạnh dạn trên con đường mà con chắc có thể đưa con và mọi người về nơi giác ngộ. Nên nhớ muôn đời những tiêu chuẩn khổ vui và mê ngộ mà hành Đạo, độ Đời. "Thanh bảo kiếm mà ta đã trao cho con, con hãy sử dụng nó để diệt trừ ma chướng. Hãy xem đó như lưỡi gươm trí tuệ nơi tâm con sẽ dùng để hàng phục mê chướng và si vọng. Nhưng để giúp con, ta cho con thêm một bảo bối này để con có thể thành tựu công quả một cách dễ dàng."
Người thong thả lấy trong tay áo ra một chiếc kính nhỏ và đưa cho chàng: "Đây là Mê Ngộ Cảnh. Tấm kính này sẽ giúp con biết rõ thiện ác, chính tà. Có người gọi nó là kính chiếu yêu, bởi vì qua tấm kính này, con có thể thấy được nguyên hình của loài yêu quái."
Chàng nhận bảo kính và cảm động đến nỗi nói không nên lời. Tờ mờ sáng hôm sau, chàng lên bái biệt sư phụ xuống núi. Người tiễn chàng xuống tận dòng Hổ Khê và thầy trò từ biệt nhau trong tiếng suối róc rách chảỵ Sư phụ đặt bàn tay hiền dịu trên vai chàng nhìn thẳng vào cặp mắt chàng. Và nhìn theo chàng dũng sĩ ra đi. Người còn dặn theo: "Nhớ không con, nghèo khổ không thay đổi, vũ lực không khuất phục, giàu sang không mờ ám nhé. Ta ở đây đợi ngày con mang đạt nguyện trở về."
Chàng nhớ lại những ngày đầu tiên xuống núi tiếp xúc với cuộc đời. Chàng đã gặp trên con đường hành đạo bao bộ mặt khác nhau của con người, đã dùng bảo kiếm và mê ngộ cảnh của sư phụ chàng một cách có hiệu quả. Chàng còn nhớ có một lần kia, trên con đường hành đạo, chàng gặp một vị đạo sĩ tay cầm phất trần, đi lại gần chàng và mời chàng về động để bàn tính công việc giúp đời. Đạo sĩ tỏ ra rất hăng hái với việc cứu nhân độ thế và giúp ích mọi loài. Ban đầu, chàng say sưa nghe theo lời đạo sĩ.
Nhưng trong lúc tiếp xúc với vị đạo sĩ, chàng nhận thấy người này có vẻ khả nghi. Chàng đưa tay rút mê ngộ cảnh ra chiếu. Trước mắt chàng, không phải là một đạo sĩ mà là một con yêu lớn có hai nanh dài, một cặp sừng trên trán và hai con mắt xanh lè đổ lửa. Chàng vội nhảy lui lại và rút bảo kiếm chém. Yêu quái cố sức kháng cự, nhưng cuối cùng, chàng thắng, và yêu quái hiện nguyên hình quỳ dưới chân chàng xin dung toàn tánh mạng. Chàng bằng lòng tha tội nhưng buộc yêu quái phải trân trọng hứa lui về tu luyện để thoát xác thành người mà không được trá hình đạo sĩ để lừa bịp và tìm cách nuốt sống những kẻ khờ dại dễ tin.
Một lần khác, chàng gặp một vị đường quan, rất có dáng dấp một bậc cha mẹ dân. Vị đường quan râu dài bạc phơ, hứa sẽ trọng dụng chàng và đã chịu khó thức suốt một đêm để bàn với chàng về những điều chánh trị ích quốc lợi dân. Vị đường quan đã tỏ ra mình là một người thiết tha đến hạnh phúc muôn dân, nhưng khi đưa mê ngộ cảnh lên, chàng hoảng hốt nhận đó là một con heo khổng lồ với cặp mắt háu đói, thèm khát, vô cùng khủng khiếp. Chàng đứng dậy rút gươm chém. Yêu quái bỏ chạy nhưng chàng đã nhảy ra đứng chận giữa cửa công đường và hét bảo nó hiện nguyên hình. Con heo kinh khiếp hiện hình quỳ dưới chân chàng cầu xin tha tội và hứa sẽ về tu luyện tinh tấn, thoát xác biếng lười, không còn dám trá hình để rúc rỉa xương thịt người dân vô tội.
Có một hôm, đi ngang qua chợ, chàng thấy thiên hạ già trẻ trai gái xúm quanh ngôi hàng sách. Người đang bày bán sách và tranh cho mọi người là một cô gái mặt hoa da phấn, trên miệng luôn luôn sẵn có một nụ cười. Thiên hạ trầm trồ khen ngợi tranh vẽ và thi nhau mua sách. Bên cạnh cô ta lại có một cô gái khác, cũng mặt hoa da phấn, tay ôm đàn, miệng cất tiếng hát khiến mọi người đã mua sách phải mê mẫn tâm thần không muốn ra khỏi cửa hàng. Thật là một cảnh thái bình nên thơ. Chàng cũng ngây ngất đứng nghe, và cuối cùng chàng lại gần cầm lên một bức họa. Màu sắc làm chàng choáng ngợp, nhưng qua nội dung chàng thấy thoáng gợn trong tâm linh một ít nghi ngờ. Đưa mê ngộ cảnh lên nhìn, chàng hốt hoảng thấy nguyên hình hai con rắn độc, phun nọc phè phè. Chàng vội gạt mọi người ra, rút bảo kiếm, quát lên: Nghiệt súc! đừng phun nọc độc hại người. Mọi người chạy tán loạn. Hai con rắn độc văng mình tới. Nhưng trước thần lực của lưỡi bảo kiếm, cuối cùng đành phải khoanh tròn dưới gối chàng van xin thứ tội. Chàng dùng bảo kiếm cắt đứt nọc độc, đốt cháy cửa hàng và tha cho yêu súc, buộc cả hai phải hứa trở về núi tu luyện cho thoát kiếp ngậm nọc phun người. Cứ thế, chàng đã sử dụng bảo kiếm và mê ngộ cảnh theo đúng lời sư phụ dặn để cứu người và giúp đời.
Chàng đã sống miệt mài với nhiệm vụ. Đã từ lâu chàng vẫn tự cho rằng chàng là người dũng sĩ cần thiết cho cuộc đời. Cuộc đời không thể vắng bóng chàng. Chàng đã trà trộn trong cuộc sống, có khi thành công, nhưng cũng nhiều khi thất bại. Đối diện với cuộc sống đầy mưu mô gian trá, nhiều lúc chàng phải uốn mình, linh động theo hoàn cảnh để chinh phục và chiến thắng. Có lúc chàng say sưa miệt mài trong công việc. Chàng cảm thấy thích thú khi hành động. Có khi chàng say mê quên cả ăn cả nghỉ, vì một sự theo đuổi mà chàng cảm thấy vì vui thích mà thực hiện hơn là ý thức rằng mình cần hoạt động để mà phụng sự. Thời gian trôi cứ như thế cho đến bảy năm. Một hôm trong lúc ngồi nghỉ bên một dòng sông, nhìn dòng nước lặng lẽ trôi, chàng giật mình thấy đã từ lâu, gần hai năm nay, chàng không dùng đến mê ngộ cảnh. Chàng không dùng, không phải là chàng quên rằng mình có mê ngộ cảnh, mà chỉ vì chàng thấy không thích dùng. Chàng nhớ lại trước đây đã có một thời chàng dùng mê ngộ cảnh một cách miễn cưỡng. Chàng nhớ lại những ngày mới xuống núi ấy, chàng đã chiến đấu rất hăng hái khi thấy nguyên hình những yêu quái xuất hiện trên mê ngộ cảnh. Chàng cũng cảm thấy hân hoan vô hạn khi soi thấy trên mê ngộ cảnh hình dáng các bậc hiền nhân. Nhưng trong thời gian trước đây, một cái gì khác lạ đã đến trong tâm hồn chàng, đến lúc nào chàng không nhận rõ. Chàng đã không thiết tha lắm khi nhìn thấy hình bóng một bậc hiền nhân, mà cũng không giận dữ lắm khi thấy một bóng hình yêu quái. Trong bóng hình yêu quái đó, đôi khi chàng lại nhận ra một vài nét hơi quen thuộc, và lưỡi bảo kiếm đã có thờ ơ khi có những bóng hình yêu quái xuất hiện trước kính thần.
Cho đến những ngày gần đây, chàng không dùng mê ngộ cảnh nữa. Chiếc kính vẫn nằm trong túi áo chàng, nhưng đã từ lâu không còn được sử dụng. Chàng lấy làm lạ và đã nói nhiều lần định quay về hỏi sư phụ. Nhưng đã ba tháng qua, bận bịu những gì không đâu, chàng chưa có thể trở về. Mãi cho đến hôm mười hai tháng tám trước đây, đi qua một rừng mai hoa nở, thấy sắc hoa trắng như tuyết lấp lánh dưới ánh trăng thu, nhớ đến những ngày thơ ấu bên rừng mai già học tập dưới chân thầy, chàng mới quyết định trở về. Đường về sao chàng thấy xa quá. Bảy ngày trèo non lặn suối mới về tới được chỗ cũ.
Nhưng đến chân núi thì trời đã tối. Trăng cũng vừa lên và hai cánh cửa tùng cũng đã khép chặt lối mòn. Chàng đành phải đợi. Buổi sáng, người sư đệ của chàng thế nào cũng phải xuống suối múc nước, và như vậy sẽ mở cửa cho chàng. Trăng đã lên tới quá đỉnh đầu, ánh trăng vằng vặc chiếu xuống rừng núi âm u. Trời càng về khuya càng lạnh. Chàng lại rút kiếm ra nhìn. Ánh trăng lại lấp lánh trên lưỡi kiếm. Chàng lại tra kiếm vào vỏ. Trên mặt chàng thoáng nét ưu tư sầu muộn. Chàng đứng dậỵ Trăng sáng quá. Núi rừng vẫn u tịch và lạnh lùng. Chàng ngồi xuống phiến đá chờ đợi. Quãng đời bảy năm qua lại trở về trong trí óc chàng. Trăng dần dần về phía núi xa. Ngàn sao lấp lánh linh động hơn, và cuối cùng bắt đầu mờ nhạt. Phương đông đã nhuộm dần ánh sáng mờ mờ.
Đường viền ngọn núi đã nổi dần trên vầng sáng nhạt. Bình minh sắp về. Chàng nghe tiếng lá khô xào xạc trên núi.Ngửng lên chàng thấy một bóng người mờ nhạt từ trên đi xuống. Chắc hẳn là người sư đệ của chàng. Trời đang tối quá chàng nhìn không rõ, chỉ thấy hình bóng.
Nhưng chắc chắn đó là người sư đệ, bởi vì tay có cầm tịnh bình. Chàng đứng dậỵ Bóng người tiến xuống và khi đến gần cánh cửa thì cũng vừa nhận ra được chàng dũng sĩ.
- "Đại huynh"
- Sư đệ! - Đại huynh về bao giờ thế ? - Ta về lúc trăng mới lên và phải đợi cả đêm dưới nàỵ. Tại sao sư phụ lại cho đóng bít lối lên như thế ? Người sư đệ mỉm cười đưa nhẹ tay mở cửa. Hai cánh cửa tùng bật ra một cách dễ dàng. Bước ra nắm lấy tay chàng và nhìn chàng tận mặt. -"Đại huynh ở một đêm giữa trời chắc lạnh lắm. Sương phủ ướt áo thế này mà, thôi để tiểu đệ phủi bớt cho. Trước kia đệ thường ở dưới núi hái rau nhặt củi và luôn tiện canh chừng người lên núi. Lâu lâu mới có một người lên núi. Nếu tiểu đệ thấy ai đáng lên hầu sư phụ thì tiểu đệ cho lên, nếu họ không đáng lên thì em lẫn tránh để cho họ lạc đường. Sư huynh biết rằng sư phụ không bao giờ muốn tiếp những người lên núi với tâm niệm không lành. Độ này tiểu đệ bận tập luyện luôn mà sư phụ cũng bận ngồi tĩnh tọa trong thạch động nên người dặn cho đệ khép cửa chắng ngang lối lên dưới này. Sư phụ có trao phép lạ khiến cho cửa tự động mở ra khi các bậc hiền nhân đến. Nhưng khi những kẻ phàm tục lên thì cửa cứ đóng chặt không thể nào vượt qua được. Nhất là khi kẻ ấy có yêu khí thì đừng mong lên núi."
Chàng dũng sĩ cau mày:
"Nhưng không lẽ ta mà lại là yêu quái ? Sao cửa lại đóng chặt?"
Người sư đệ cười lớn: - "Vâng đại huynh sao lại là yêu quái được! Đệ cũng quên đi mất là tại sao cửa lại đóng. Nhưng bây giờ dù sao thì đại huynh cũng lên núi được rồi cơ mà, vì cửa đã mở. Nhưng đại huynh đợi em chút nhé. Để tiểu đệ xuống suối múc nước rồi cùng lên một thể. Hay đại huynh xuống suối với đệ cho vui. Cười lên chứ, đại huynh giận ai mà nét mặt trông khó đăm đăm như vậy."
Hai anh em cười vang. Chàng dũng sĩ đi theo người sư đệ xuống suối. Mặt trời vẫn chưa lên, nhưng phương đông đã rạng. Hai người đã có thể nhìn rõ mặt nhau. Mặt suối lặng trong, in màu hồng của rạng đông. Bóng hai người đứng song song in hình trên mặt suối. Chàng dũng sĩ trong bộ võ phục hiên ngang, lưng đeo trường kiếm. Người sư đệ trong y phục tiểu đồng hòa nhã, tay cầm tịnh bình. Hai người cùng nhìn bóng mình in trên mặt nước mỉm cười. Một con bọ nước nhảy, làm mặt nước hồng gợn nhẹ và bóng hai người rung rung theo làn sóng nước gợn.
"Bóng chúng ta trên mặt nước đẹp quá nhỉ! Nếu bây giờ tiểu đệ múc nước thì sóng dậy và bóng tan mất. À này đại huynh "mê ngộ cảnh" sư phụ cho đại huynh còn giữ đó không?" Chàng dũng sĩ cho tay vào túi trả lời:
- Còn đây
- Tại sao chúng ta không đem ra chiếu hình chúng ta xem nào.
Chàng sực nhớ là từ lâu chàng chưa chiếu mê thử trước hình bóng mình. Chàng lấy kính thần ra, lau bụi vào vạt áo, chiếu trên mặt nước. Hai anh em châu đầu vào mặt kính.
Nhưng bỗng cả hai người cùng hét lên một tiếng kinh hoàng, khủng khiếp, và tiếp theo đó chàng dũng sĩ ngã quỵ trên bờ suối bất tỉnh. Tiếng thét kinh khủng làm chấn động cả núi rừng hoang dại. Một con nai đang uống nước phía trên dòng hoảng hốt đưa đầu lên nhìn, ngơ ngác kinh sợ. Người sư đệ vừa trông thấy trong kính thần, hình bóng của mình đứng bên cạnh hình bóng một con yêu to lớn với đôi mắt tối sâu như hai miệng giếng không đáy, hai chiếc răng dài quập sâu vào chiếc càm vuông, trên một khuôn mặt xám ngoẹt như gà cắt tiết.
Người sư đệ rùng mình dụi mắt nhìn lại, trên bờ suối đá xanh, chàng dũng sĩ vẫn nằm ngã lăn bất tỉnh, trên mặt vẫn còn in rõ nét kinh hoàng, đau khổ hiện hình một cách thảm hại trên con người đã từng xông pha lăn lộn bảy năm trong cuộc đời đầy cát bụi.
Người sư đệ đến ôm lấy chàng dũng sĩ và lấy nước suối vã vào mặt chàng. Vài phút sau, chàng tỉnh dậy, nét mặt vô cùng bi thảm. Hình bóng trên mê ngộ cảnh hiện ra bất ngờ quá và ý thức tự giác trong nháy mắt đã làm cho chàng ngã quỵ. Chàng đã mất hết nghị lực, mất hết sự sống. Tứ chi chàng rời rã, chàng không thể đứng dậy được nữa. Một chân quỵ xuống cát, người sư đệ dịu dàng nâng chàng ngồi dậỵ Nét thiểu não và khổ đau còn in rõ trên khuôn mặt chàng.
- "Thôi, đại huynh vui lên. Chúng ta sẽ lại lên núi"
Giọng nói của người sư đệ êm như một hơi gió thoảng, nhẹ như một tiếng thì thầm. Nhưng chàng lắc đầu một cách thất vọng. Chàng không còn muốn sống. Đau khổ đã làm chàng thảm não và tâm hồn chàng vừa bị tàn phá tang thương như mặt đất sau cơn phong vũ điên cuồng. Chàng không còn dám có ý tưởng lên núi để nhìn mặt sư phụ. Người sư đệ vuốt tóc chàng, an ủi: "Thầy thương anh lắm. Không sao đâu, đại huynh sẽ ở mãi bên thầy (vỗ về). Đại huynh sẽ sống bên em như những ngày xưa êm đẹp cũ (khóc). Em không ngờ bao nhiêu năm dưới núi đã tàn hại anh đến thế."
Và người ta thấy trên con đường mòn cheo leo lên núi, bóng người sư đệ lần từng bước dìu chàng dũng sĩ trở lên động. Trời vẫn còn chưa sáng hẳn, bóng hai người in trên màn sương mỏng nhẹ của núi rừng buổi sáng. Tia nắng đầu tiên soi rõ dáng điệu thiểu não rời rã của chàng dũng sĩ bên cạnh dáng điệu diệu dàng từ hòa của người sư đệ. Mặt trời đã nhô khỏi đỉnh núi xa.

 Nguồn: http://langmai.org/tang-kinh-cac/vien-sach/tap-truyen/cua-tung-doi-canh-gai

Thứ Hai, 5 tháng 5, 2014

Chiếc bẫy chuột (câu chuyện đời sống ý nghĩa)

******************
Chú chuột nhìn qua lỗ hổng của bức vách, thấy người nông dân và vợ ông ta đang mở một cái hộp. Chú chuột phân vân “không biết trong hộp đó có đồ ăn gì nhỉ?”. Nhưng rồi chú đã bị thất vọng hoàn toàn khi khám phá ra đó là một cái bẫy! Lầm lũi đi ra sân trại, chú chuột buồn rầu than khóc: “Có một cái bẫy chuột trong nhà! Có một cái bẫy chuột trong nhà!” Chị gà mái vẫn nhẩn nha nhặt thóc, cục tác, ngẩng đầu lên và nói: “Chú chuột bé con, tôi biết rằng đây quả là một mối lo ngại nghiêm trọng cho chú đấy, nhưng nó không có liên quan gì tới tôi cả. Tôi không thấy phải bận tâm vì việc đó”.


Chú chuột rầu rĩ quay sang than khóc với bác lợn: “Bác lợn ơi, có một cái bẫy chuột trong nhà. Cháu lo lắm”. Bác lợn tỏ ý cảm thông nhưng cũng chỉ biết nói: “Bác rất lấy làm tiếc cháu yêu ạ, nhưng bác cũng chỉ biết cầu nguyện thôi. Bác sẽ cầu nguyện cho cháu hàng đêm”. Chú chuột lại chạy tới chỗ cô bò và than: “Có một cái bẫy chuột trong nhà. Có một cái bẫy chuột trong nhà cô bò ạ”. Cô bò hạ giọng nói: “Ôi cháu chuột bé bỏng, cháu thật đáng thương, nhưng cô cũng không biết làm gì hơn”. Vậy là chú chuột đáng thương lững thững trở về nhà, chán nản và thất vọng, nhìn chiếc bẫy chuột của người nông dân.

Vào đêm hôm đó, bỗng đâu từ trong ngôi nhà phát ra một âm thanh rất lạ, như thể có con mồi nào đó đã bị sập bẫy chuột. Người vợ vội vàng chạy ra xem con vật đang bị mắc kẹt trong cái bẫy. Trong bóng tối, bà không nhìn thấy một con rắn độc đang bị kẹt đuôi trong bẫy. Con rắn đã cắn người vợ. Sau đó người chồng vội vã đưa bà tới bệnh viện, bà trở về nhà với cơn sốt miên man.

Ai cũng biết rằng người ốm sốt thì cần ăn súp gà nóng, vậy là người nông dân không ngần ngại làm thịt chị gà mái để nấu súp cho vợ.
Nhưng người vợ vẫn ốm, bệnh tình dường như nặng thêm, vậy là bạn bè và láng giếng kéo đến thăm bà suốt ngày. Để tỏ lòng cám ơn và thiết đãi họ, người chồng đã giết bác lợn.

Nhưng người vợ vẫn không khoẻ hơn, và cuối cùng bà đã chết. Mọi người kéo tới dự đám tang bà và người chồng chỉ còn duy nhất cô bò để thiết đãi bạn bè, láng giềng trong ngày tang lễ. Người nông dân quyết định mổ nốt cô bò.
Chú chuột nhìn qua khe hở của bức vách với nỗi buồn vô hạn.

Vậy thì lần tới khi bạn nghe ai đó tâm sự, chia sẻ với bạn rằng họ đang gặp rắc rối và nghĩ rằng chuyện đó không có liên quan gì tới bạn cả, hãy nhớ rằng: Khi một trong số chúng ta bị đe doạ, thì có nghĩa là tất cả chúng ta đều có thể gặp rủi ro.
Tất cả chúng ta đều có liên quan tới cuộc hành trình này - cuộc hành trình của cuộc đời. Chúng ta cần phải luôn quan tâm tới người khác và luôn cố gắng giúp đỡ, khích lệ mọi người xung quanh mình.
(Sưu tầm)




QUAN SÁT BẢN NGÃ !

Cái bản ngã này rất khôn khéo, luồn lách rất tinh vi nên thận trọng chú tâm quan sát để thấy ra những ngõ ngách ngụy trang, những đường lối phản ứng của nó. Nhớ là quan sát thôi chứ không phê phán hay kiểm duyệt gì cả. Vì làm như thế bản ngã sẽ tránh né và giấu mặt dưới những hình thức nguy hiểm hơn. 

TRÒ CHƠI TRỐN TÌM CỦA NGÃ VÀ TÁNH BIẾT 
Tánh biết là người tìm, bản ngã là người trốn, và bạn chỉ quan sát để thấy ra chứ đừng mong nó không xuất hiện. Những thành tố của cái ngã xuất hiện càng nhiều thì bạn càng tìm thấy kẻ ẩn núp dễ dàng hơn. Đừng sợ, cứ bình thản sáng suốt mà thấy ... 

BẢN CHẤT CỦA NGÃ VÀ TÁNH BIẾT 
Bản ngã vốn lăng xăng, nhưng tánh biết luôn lặng lẽ chiếu soi nên khi vọng tưởng bạn chỉ cần biết đang vọng tưởng là được. Giống như chăn trâu, chỉ cần biết trâu đang làm gì là được. 
Người chăn trâu không nên bắt trâu phải quy phục một cách chủ quan theo ý mình mà phải thương yêu và hiểu biết rõ ràng mọi hoạt động cũng như bản tánh của trâu thì mới giúp nó thuần thục và hữu ích được. 
Tánh biết soi chiếu thân tâm cũng chính là để biết rõ tánh tướng thể dụng của thân tâm hầu vừa trả nó về với thực tánh của nó vừa phát huy khả năng lợi ích cho mình và người một cách tự nhiên !!!
( Thiền sư Viên Minh )

VÔ NGÃ CỦA ĐẠO PHẬT

Tu theo đạo Phật thì căn bản là phải đi qua con đường vô ngã, không ai có thể trốn tránh được hết. Đây biết rõ là mình có dư, dư một hoặc nhiều cái "tôi" tức là đã lầm quá nhiều rồi. Biết nó dư quá thì bây giờ tu hành chỉ phải buông bớt thôi, chứ có gì đâu! Nó dư quá mà còn muốn thêm thì càng dư nữa, nên tu là chỉ có bớt, có xả ra chớ không phải nhận vào thêm nữa. Buông bỏ bớt tình chấp ngã này, quên bớt cái "tôi" hay cái "ta" chứ không phải là tu rồi thêm cái "ta", thêm cái "tôi" nữa, đó là sai! 


Có câu chuyện về hai thầy trò, vị học trò thì chứng A-la-hán trước, sạch hết lậu hoặc, còn ông thầy thì chưa chứng A-la-hán. Hôm đó, vị đệ tử nhớ lại ông thầy, bèn quán xét xem thầy mình đã chứng A-la-hán hết lậu hoặc chưa? Ngài thấy là chưa, nên nghĩ: ‘Mình phải đến giúp thầy’. Nghĩ như vậy, Ngài bèn dùng thần thông bay đến chỗ thầy đang ở. Ông thầy thấy vậy thì hỏi:

- Sao con bất ngờ đến đây vậy?

Vị đệ tử đáp:

- Con đến đây để thưa hỏi thầy vài điều.

Thầy nói:

- Con cứ hỏi, nếu điều nào ta biết ta sẽ giải thích cho.

Ngay đó, vị đệ tử nói một ngàn câu kệ, thành một ngàn câu hỏi! Ông thầy cũng trả lời suôn sẻ, không vấp váp gì hết! Ông thầy này quả không phải hạng tầm thường! Sau đó, vị đệ tử thưa:

- Thầy đã đạt đến tình trạng này bao lâu rồi?

Ông thầy đáp:

- Đã sáu mươi năm rồi.

Sáu mươi năm tình trạng như vậy mà chưa chứng A-la-hán! Vị đệ tử nói:

- Xin thầy biến hóa ra một con voi trắng ngay trước mặt xem.

Ông thầy liền dùng thần thông hóa một con voi trắng ngay trước mặt liền. Vị đệ tử nói tiếp:

- Xin thầy làm con voi này rống lên một tiếng, cuốn vòi rồi sấn tới một cách thật mạnh mẽ.

Ông thầy cũng biến hóa như vậy. Nhưng vừa thấy con voi sấn tới mạnh quá thì ông giật mình tưởng đâu sấn tới mình nên đứng dậy định tránh đi. Ngay đó, người đệ tử mới nắm áo ông thầy kéo lại và thưa:

- Bạch thầy! Các bậc đã sạch hết lậu tận có còn sợ hay không?

Lúc đó, ông thầy mới nhận ra mình chưa chứng A-la-hán. Còn sợ tức là còn cái ngã này, còn một chút gì đó vướng mắc chưa sạch hết. Ngay đó, ông thầy đảnh lễ lại người đệ tử và nói:

- Xin hiền giả hãy giúp ta!

Đó thật sự là những người có tâm vì đạo, không vì cái bản ngã, không nghĩ mình là thầy. Người học trò tuy chứng A-la-hán nhưng vẫn giữ đạo thầy trò, không ngã mạn bởi vì thật là A-la-hán thì không có ngã. Do vậy, chúng ta hiểu kỹ, nhiều khi nghĩ ‘Tuy mình là đệ tử nhưng mình chứng đạo trước thầy’ mà sanh tâm ngã mạn thì không phải thứ thiệt rồi! Lúc đó, vị đệ tử mới thưa:

- Dạ bạch thầy, chính vì vậy nên con mới đến đây để giúp thầy. Xin thầy đừng lo.

Khi đó, vị đệ tử nói một đề mục về thiền để ông thầy quán chiếu. Ông thầy này đúng là tay lão luyện, nghe là tiếp nhận liền. Ngay tại đó, tiếp nhận xong đề mục để quán chiếu thì ông đi trên con đường kinh hành. Mới đi có bốn, năm bước thì liền chứng A-la-hán, là xong việc! Chúng ta thấy, đến bậc rốt ráo chứng A-la-hán thì phải sạch hết cái ngã. Hiểu như vậy, kiểm lại đường tu của mình thì sẽ không có sự lầm lẫn. Nói rõ lại, mình càng tu thì càng bớt cái ngã, bớt nhẹ nhẹ dần thì đó là tu đúng chứ không để nó thêm, nó dư quá!
st



Đạo ở chỗ nào?

Trong nhà Thiền có câu chuyện, có vị tăng đến hỏi Thiền sư Duy Khoan:

- Đạo ở chỗ nào?

Thiền sư đáp:

- Ở trước mắt.

Ông tăng hỏi:

- Ở trước mắt tại sao con không thấy?

Thiền sư đáp:

- Tại vì ông có ngã nên không thấy.

Vị tăng nói:

- Con có ngã nên không thấy, còn Hòa thượng có thấy hay không?

Sư trả lời:

- Có ông có ta thì cũng không thấy.

Vị tăng hỏi tiếp:

- Như vậy, nếu không có con không có Hòa thượng thì có thấy chăng?

Thiền sư đáp:

- Không ông không ta thì còn ai cầu thấy nữa?

Đó, lẽ thật là như vậy, rất là đơn giản! Đạo tức là chân lý, nó ở ngay trước mắt, rất là gần gũi không có đâu xa xôi hết. Nhưng "Tại vì ông có ngã nên không thấy", bị cái ngã này che, chỉ nhớ cái ngã này thì ông làm sao thấy đạo được! Luôn nhớ cái ngã, cái tôi này thì làm sao còn thấy cái gì khác nữa? Tuy Sư trả lời vậy nhưng ông tăng vẫn hỏi: "Con có ngã nên không thấy, vậy Hòa thượng có thấy hay không?". Hỏi vậy tức là sao? Thì còn thấy có mình, có người tức cũng là lòng vòng trong cái ngã thôi! Đây Sư đáp: "Có ông có ta rồi cũng không thấy luôn", thấy có mình có người tức là người đối với mình, thì tất nhiên cũng có chuyện nên rồi "cũng không thấy luôn". Ông tăng lại hỏi: "Như vậy, nếu không có con không có Hòa thượng thì có thấy không?". Nếu không có ông không có ta, sạch hết cái ngã, ngay đó là đạo rồi thì còn "ai cầu thấy trong đó nữa?". Lẽ thật rõ ràng là như vậy. Chỉ cần buông cái "ta" ở trong khái niệm này thì ngay đó đạo hiện tiền sáng tỏ rõ ràng không phải tìm đâu xa. Bởi vậy, chân lý giác ngộ rất đơn giản, rất thân thiết, gần gũi với mọi người nhưng chỉ vì mình tự ngăn che thôi chứ không phải ai khác ngăn che mình. Rất là gần, nhưng vì mình mê, cứ nhớ cái tôi này mãi nên đâu thấy đạo được. Quên cái tôi này thì đạo hiện tiền.
st

Thứ Sáu, 2 tháng 5, 2014

Nộm dưa leo củ hành tím.

Món nộm dưa leo củ hành tím với công thức rất đơn giản sẽ mang lại bữa ăn thanh đạm, tốt cho sức khỏe gia đình bạn.

Củ hành tây tím là thực phẩm giúp tăng sức đề kháng cơ thể, còn dưa leo giúp thanh nhiệt, giải độc. 

Nguyên liệu:

Dưa leo: 2 trái. Củ hành tím (loại lớn): 1 củ. Giấm hoặc chanh. Đường. Muối. Bột ngọt. Ớt (nếu thích ăn cay).

Cách làm:

Dưa leo rửa sạch, chẻ làm đôi theo chiều dọc rồi thái lát mỏng hình bán nguyệt. Bóc vỏ củ hành, cắt đôi và thái hình sợi, có thể xả lại một lần với nước sạch cho bớt mùi hăng rồi vắt để ráo nước.

Pha giấm hoặc chanh với gia vị sao cho vừa ăn. Rau húng quế rửa sạch, cắt nhỏ. Cho các thành phần trên vào một cái tô, trộn đều. Để khoảng 5 phút cho gia vị ngấm đều là dùng được.

Song Lê (Theo Fearless Kitchen - VNE)

Ba món chay cho ngày đầu tháng

Chỉ cần 30 phút là bạn chế biến xong các món đậu hũ chiên mè, ngồng cải xào nấm đông cô, bầu sốt nước tương.

Đậu hũ chiên mè
Nguyên liệu:

- Đậu hũ: 2 miếng
- Hành tím băm: 1 muỗng cà phê
- Mè: 2 muỗng 
- Dầu hào chay: 1 muỗng
- Gia vị: muối, tiêu, đường.

Cách làm:

Đậu hũ cắt miếng mỏng 7 mm. Ướp đậu hũ với hành tím, dầu hào, muối, tiêu để cho thấm. Chiên đậu hũ ngập dầu cho đến lúc vàng đều, vớt để ráo dầu. Nước ướp đậu hũ bắc lên chảo nấu sôi vừa sánh, nêm lại cho vừa ăn. Rưới nước xốt lên đậu hũ, rắc mè lên mặt.

Ngồng cải xào nấm đông cô

Nguyên liệu:

- Ngồng cải: 300 g
- Nấm đông cô: 6 cái
- Poarô: 1 đoạn
- Gia vị: muối, tiêu, đường, nước tương, dầu hào chay.

Cách làm:

Ngồng cải cắt bỏ phần gốc, rửa sạch. Nấm đông cô ngâm nở. Phi thơm poarô với dầu cho nấm vào xào thấy nấm vừa mềm cho cải ngồng vào xào tiếp. Nêm muối, đường và nước tương, dầu hào chay cho vừa ăn. Xếp cải ra đĩa, để nấm lên cải, rắc tiêu lên mặt.

Bầu sốt nước tương Miso

Nguyên liệu:

- Bầu: 200 g
- Nước tương Miso: 1 muỗng 
- Ớt băm: ½ muỗng cà phê
- Poarô: 1 đoạn
- Gia vị: tiêu, muối, đường, bột nêm chay.

Cách làm:

Bầu gọt vỏ cắt nguyên khoanh. Phi thơm poarô băm nhuyễn với dầu. Cho bầu vào áp chảo vàng đều hai mặt. Cho chút nước vào nấu, thấy bầu vừa mềm, cho nước tương miso, ớt băm vào. Nêm lại bằng muối, đường, bột nêm cho vừa ăn.

Dọn ra đĩa rắc tiêu lên mặt.


 ST

TRƯ HÒA THƯỢNG

Ngày xưa, ở một ngôi chùa nọ, vị thiền sư trụ trì nuôi một con heo lâu năm. Tuổi heo xấp xỉ tuổi đạo của nhà sư, và cả đại chúng kể từ vị tri sự tăng trở xuống đều phải nhường heo về khía cạnh thâm niên nọ. Do đó vị trụ trì đặt cho heo một biệt danh là Trư Hòa Thượng.
Trư hòa thượng chỉ có việc ăn, nằm và bài tiết (để lấy phân bón cho vườn chùa) nên rất mập mạp đến không ngồi dậy nổi. Tuy nhiên mỗi khi tiếng hồng chung chùa vang lên vào chiều tối hoặc canh khuya, Trư hòa thượng đều cố ngóc đầu dậy một cách mệt mỏi. Nhân đấy mà thiền sư rất yêu mến Trư hòa thượng, thường chỉ cho chúng xem, bảo:
- Các con thấy đó, loài súc sinh cũng có Phật tánh, chớ khinh thường.
Một hôm thiền sư có việc phải đi xa vài hôm. Ngài cho họp chúng dặn:
- Trong khi tôi đi vắng, lỡ Trư hòa thượng có viên tịch, thì các ông hãy cắt thịt, chia cho láng giềng mỗi nhà một miếng. Hãy nhớ làm theo lời dặn của tôi.
Ðại chúng lấy làm quái dị về lời dặn của vị thầy, nhưng không dám hỏi, cứ vâng dạ lịnh tôn ý. Có lẽ họ nghĩ rằng thầy quá lo xa, Trư hòa thượng không bệnh hoạn gì, chưa chắc đến nỗi chết. Nhưng ngờ đâu thầy vừa đi vắng một hôm thì Trư hòa thượng ngã lăn ra chết. Ðại chúng bây giờ thật khó xử, nếu làm theo lời thầy dặn thì sợ đời dị nghị, nhất là trong khi vắng thầy. Lỡ người ta nghi chúng tăng nhân thầy không có nhà đã làm thịt con heo, rồi vì ăn không hết mà đem biếu thì sao? Thầy tri sự sau khi hội ý toàn thể đại chúng, quyết định đem mai táng Trư Hòa thượng sau vườn chùa, rồi thầy về sẽ sám hối sau.
Khi thiền sư trở về, hỏi ra mới biết chúng không làm theo lời dặn. Ngài dạy:
- Thế là các ông làm lỡ việc của ta rồi.
Khi đại chúng thưa hỏi, ngài kể:
- Trư hòa thượng chỉ còn một kiếp cuối cùng là giải thoát. Trong kiếp cuối ấy, Trư hòa thượng phải chết vì nạn "loạn đao phân thây". Nhờ có túc duyên mà Trư hòa thượng được thoát nghiệp ấy trong lúc sống. Nhưng định nghiệp không thể không trả. Do đó mà ta muốn giúp Trư hòa thượng trả xong định nghiệp bằng cách phân thây ông ta sau khi chết. Ðược vậy khỏi thọ sanh kiếp khác. Nhưng bây giờ vì các ông không làm theo lời ta, Trư hòa thượng sẽ phải luân hồi trở lại để trả cho xong định nghiệp.
Ðại chúng nghe lời thầy dạy đều lấy làm hối hận. Ðại sư an ủi:
- Không hề gì, rồi đây các ông lại còn duyên gặp lại Trư hòa thượng.
Thời gian trôi qua nhanh chóng. Thấm thoát đã hơn 20 năm kể từ ngày Trư hòa thượng viên tịch. Một hôm, vị trụ trì mới, đệ tử trưởng kế vị thiền sư sau khi ngài viên tịch, tiếp đón vị quan huyện trẻ vừa tới nhậm chức tại địa phận chùa nhà. Quan đi quanh chùa thăm viếng tỏ ý lưu luyến như một cố nhân. Quan có cảm tình đặc biệt với tất cả đại chúng, và từ đấy mỗi lúc rãnh rỗi việc quan, ông lại tới chùa đàm đạo với chư tăng. Mối đạo tình đằm thắm ấy kéo dài một thời gian cho tới một ngày quan huyện bị triệu về kinh đô...
Tin đồn quan huyện bị triệu về kinh đô vì một vụ án phản nghịch, và ngay sau đó bị đem ra chợ phân thây, được loan đi rất nhanh đến chùa. Chư tăng bàng hoàng sửng sốt, thương cho số phận quan huyện nhân từ, người bạn chí thiết của cả đại chúng. Tại sao một con người tốt như quan huyện lại phải chịu một cái chết thê thảm như vậy? Chư tăng ngậm ngùi tự hỏi. Nhất là vị trụ trì người kỳ cựu nhất ở chùa, người ngày xưa đã từng săn sóc Trư hòa thượng từ lúc tập sự xuất gia đến khi Trư chết, và bây giờ là người bạn thân của quan huyện, vị trụ trì buồn bã mất mấy ngày.
Vào một thời tọa thiền, ngài bỗng thấy bóng quan huyện mỉm cười hòa nhã, và một âm thanh nhẹ như hơi gió thoảng bên tai ngài:
- Tôi là Trư hòa thượng ngày xưa, xin đến vĩnh biệt thầy và tạ ơn tri ngộ.
Vị trụ trì bàng hoàng dụi mắt, nhớ lại tất cả chuyện xưa nay.
Truyện cổ Phật giáo


Vì Sao Tiền Là Vật Không Sạch Sẽ?

Hôm nay tôi sẽ giảng một bài Pháp đặc biệt. Pháp gì vậy? Là Pháp TIỀN. Vì sao tiền là vật không sạch sẽ? Quý vị thử nhìn xem! Tiền là thứ dơ bẩn nhất trên thế giới đó. Bởi vì người ta lúc đếm tiền, đa số thường thấm nước miếng để đếm. Trong nước miếng có chứa biết bao nhiêu là vi trùng, vi khuẩn. Không biết là tiền đã trải qua bao nhiêu lần nước miếng của người ta rồi, cũng không biết là đã có bao nhiêu giống vi trùng truyền nhiễm bệnh trong đó. Có thể thấy, hễ tiền được đếm càng nhiều lần thì tiền càng trở nên dơ bẩn hơn. Nhưng trái lại, vẫn có người yêu quý tiền còn hơn sanh mạng họ. Đó là đã biết nó dơ mà cố phạm. Có số người vì tham tiền mà hy sinh ngay đến sanh mạng mình cũng không tiếc. Điều đó đủ chứng minh ma lực của tiền là như thế nào rồi.

Người Trung Hoa khi sáng tạo ra chữ, họ đều rất cẩn thận và bỏ ra nhiều tâm huyết mới thành tựu được. Thông thường chữ có sáu loại là: Tượng Hình, Chỉ Sự, Hội Ý, Hình Thanh, Chuyển Chú và Giả Tá (giả danh để mượn tiếng). Mỗi chữ đều không rời phạm vi của sáu loại nầy. Như chữ tiền () thuộc Hội Ý. Tiền gồm có chữ kim () và hai cái mác ().

Có bài kệ nói về tiền như sau:
Nhị qua tranh kim sát khí cao,
Nhơn nhơn nhân tha phạm lao đao.
Năng hội dụng giả siêu tam giới,
Bất hội dụng giả nghiệt nan đào.

Nghĩa là:
Hai giáo tranh tiền sát khí cao,
Người người vì nó chịu lao đao.
Biết dùng thời đặng thoát tam giới.
Không biết dùng khó mà thoát tội.


Đại ý bài kệ nói rằng: Người ta dùng kim loại để đúc thành Tiền. Hai cái mác là hai người giành tiền, hai bên kẻ tranh người đoạt khiến sát khí bùng vút tận mây xanh. Nhiều người vì tiền mà sanh ra biết bao nhiêu phiền toái. Người biết dùng tiền thì đem nó làm nhiều chuyện có công đức, lợi người lợi mình và có thể thoát khỏi tam giới, khỏi phải chịu sanh tử. Người không biết dùng tiền thì dùng nó tạo nhiều nghiệp ác, cho nên đọa vào tam ác đạo, vĩnh viễn không được giải thoát. Chúng ta nên biết tiền là vật hại người và cũng không nên tham cầu nó.

Vì sao chúng ta xuất gia tu đạo? Bởi vì chúng ta muốn xem tài sắc như không có, chúng ta không chấp ở tài, cũng không chấp ở sắc. Sau nữa là đối với từng cử chỉ, hành động của chính mình, giờ khắc nào mình cũng hồi quang phản chiếu, nhiếp giữ tâm không để nó chạy ra ngoài. Trải qua ngày dài tháng rộng, đến lúc tâm chúng ta trong sạch như tấm gương, chúng ta sẽ tự rõ ràng được thiện ác. Như thế chúng ta mới thoát khỏi tam giới và sanh tử. Đó là hoài bão căn bản của người xuất gia. Nếu như chúng ta bỏ không nổi tài, xả không nổi sắc, tức là luống phụ cả ý nguyện xuất gia của mình.

Người thế gian làm đến quên sanh mạng để kiếm tiền, và nghĩ hết mọi cách để tích trữ tiền bạc cho con cái. Nhưng họ không biết rằng, để tiền lại cho con cháu tức là mang tai họa đến cho chúng. Trái lại, nếu họ không để lại tiền của thì sẽ không có phiền phức gì, gọi là: “Con cái giỏi hơn cha, lưu của để làm gì? Có con không bằng cha, lưu của để làm chi?” Con trai, con gái có bản lãnh hơn cha, nếu để tiền cho chúng, chúng cũng chẳng có chỗ dùng. Ngược lại, con trai, con gái không có bản lãnh như cha, nếu để tiền lại cho chúng, là dạy chúng không chịu làm việc để sanh sống, mà chỉ thích rong chơi, say sưa cờ bạc, đàng điếm rượu chè, suốt ngày lân la ở lầu Tần, quán Sở. Há đó không phải là hại con cháu sao? Vì vậy tôi khuyên người có tiền nên làm nhiều việc công đức, tế thế cứu nhân thì sẽ được vô lượng công đức.

Chúng ta là người xuất gia, chẳng những không tham tài sắc, mà ngay cả vọng tưởng cũng không nên khởi nghĩ tới. Khi đi đứng nằm ngồi, chúng ta đều nên khống chế vọng tưởng. Khống chế như thế nào? Chỉ có một pháp môn là niệm Phật hoặc trì Chú. Ít nói một câu thì niệm thêm được một tiếng Phật. Niệm đến khi có cảm ứng đạo giao là có thể khai ngộ và đạt được trí huệ. Cho nên nói: “Đả đắc niệm đầu tử, chuẩn nhữ Pháp thân hoạt” tức là: Đánh chết vọng niệm để Pháp thân bừng sống. Bởi vậy người tu đạo, giờ khắc nào cũng nên tự kiểm soát lấy mình. Cho nên nói: “Phải nhớ vô thường, cẩn thận chớ buông lung.” Chúng ta nên dùng hai câu nầy để cảnh giác, tự nhiên mình sẽ thức tỉnh trở lại. Hy vọng mọi người sẽ nghiêm trì giới luật, đó là điều tôi hằng trông mong!

Đây là hai câu nói rất có đạo lý: “Lung kê hữu thực, thang oa cận. Dã hạc vô lương thiên địa khoan.” Nghĩa là: Con gà trong lồng tuy có thóc ăn, nước uống, nhưng khi nó mập lớn thì bị giết, và bị bỏ vào nồi nước sôi để làm thức ăn cho người. Cho nên nói: “Thang oa cận” là nồi nước sôi kế bên. Con hạc rừng tuy không được thóc lúa để ăn, nhưng trời cao đất rộng, nó mặc sức tung hoành trong vũ trụ, không bị câu thúc, không chấp vào đâu, tiêu dao tự tại biết bao nhiêu!

Chúng ta là người xuất gia thì nên lấy trời đất làm lều và bốn biển là nhà, không nên có chỗ ở riêng tư. Nếu chúng ta có chùa thì cũng có lúc bị dính mắc, rồi giong ruổi tìm cầu, như thế là trái ngược với Phật Pháp. Cho nên sai lầm dù nhỏ, nhưng dẫn đến hậu quả to lớn. Đó cũng là ý nghĩa của câu: Sai một ly đi ngàn dặm.

Có vị thiền sư đã từng nói như thế nầy: “Năm qua nghèo, còn có đất cắm dùi; năm nay nghèo cả dùi cũng không!” Tư tưởng của ngài tự tại, giải thoát biết là bao! Thật là vi diệu không thể nghĩ bàn. Chúng ta nên noi theo gương của vị thiền sư nầy, là ngoài một bình bát và ba tấm y, ngài đã không tìm cầu chi hết. Tiền là vật ngoài thân, sanh không mang đến, chết không mang đi. Cho nên có tiền, chúng ta nên làm nhiều việc công đức, như in một quyển sách nhỏ để phổ biến tuyên dương Phật Pháp thì công đức vô lượng, so ra còn hơn là dựng chùa xây tháp cho chính mình.

Người sáng suốt thì không chấp trước và cũng không có hành vi ô nhiễm. Ô nhiễm cái gì? Tức là tham tài, ái sắc. Nếu không bỏ tài, thời không thể trừ khử ô nhiễm; sắc chẳng coi là không, thì không thể sạch hết nhiễm ô. Nếu mình không muốn bị ô nhiễm, chỉ có một biện pháp là phá tan hai cửa “tài sắc” đi. Tức thì tận hư không khắp pháp giới, đâu đâu cũng đều là chỗ ở của chúng ta. Chúng ta là người tu đạo, hãy nên ghi nhớ rằng: then chốt là ở tại hai cửa “tài sắc,” nếu có thể phá được chúng, thì chúng ta sẽ không chấp trước vào bất cứ gì. Người đời có câu nói mỉa mai rằng: “Người xuất gia không thích tiền - nhưng có càng nhiều càng tốt!”.

Người xuất gia chúng ta nên phản tỉnh, nên kiểm điểm lại, xem mình có thứ tư tưởng như thế không? Nếu có thì nên sửa đổi, còn không thì ráng mà tránh. Hy vọng mọi người đề cao cảnh giác và tự lực cánh sinh, nên học theo lời răn bảo của thiền sư Bách Trượng: “Một ngày không làm là một ngày không ăn.” Như quả ai cũng làm được như thế, thời người đời sẽ không còn châm biếm rằng: Kẻ xuất gia là con mọt gạo.

Người xuất gia ở chùa Kim Sơn biết tiền là vật không trong sạch, cho nên có người trì giới không giữ tiền bạc. Tức là tay họ không đụng chạm đến tiền, họ tuyệt nhiên không có liên hệ qua lại đến tiền bạc. Để tôi kể một câu chuyện có thật cho quý vị nghe. Tôi có đệ tử là con độc nhất của một ông triệu phú. Chú nầy chẳng những không muốn tài sản của cha, mà khi được cha giới thiệu cho một cô bạn gái, chú cũng cự tuyệt luôn. Rồi sau đó chú quyết định tìm đến chùa Kim Sơn xuất gia tu hành. Bởi vậy tôi mới đặt pháp danh cho chú là Hằng Không. Một ngày kia, cha chú gọi điện thoại hỏi: “Con cần tiền không? Cha có thể gởi cho con mà.” Nhưng chú không chịu nhận tiền của cha. Hành động đó thiệt là xứng với danh, đệ nhất đại ngu xuẩn. Chú giữ giới không đụng tiền, danh và quả thật phù hợp, vì một xu chú cũng không dính túi. Người không tham tài sắc tức sẽ không bị nhiễm ô. Nếu ai có hành vi như vậy thì nhất định sẽ được thành tựu.
Giảng ngày 10 tháng 10 năm 1980
HT Tuyên Hóa

Xem bài nguồn ở đây


Thứ Năm, 1 tháng 5, 2014

Thuyền nhỏ không thể ra đại dương.

Thuyền nhỏ chỉ có thể loanh hoanh trong vịnh do không đủ sức cưỡi sóng, đối chọi với giông bão để ra được biển cả.

Nhưng có một số con thuyền nhỏ không cam phận trong vịnh bởi theo lời của viên hoa tiêu thì vượt qua khỏi vịnh này sẽ thấy được đại dương bao la; do đó những con thuyền nhỏ muốn ra biển phải tự trang bị cho mình thêm công cụ, gia cố cho thân thuyền thêm vững chắc để rồi cưỡi sóng đạp gió mà ra khơi. Tận mắt chứng kiến được cảnh mênh mông bao la hùng vĩ của đại dương, không đành lòng thưởng thức một mình nên lại đạp gió cưỡi sóng về lại vịnh để khuyên những con thuyền nhỏ khác cùng ra khơi.

1.Một số con thuyền nghe lời ra đi hoặc ra được biển hoặc bỏ xác trên đường do không đủ tự lực
2. Nhiều con thuyền nhỏ không tin nên ném đá những con thuyền lớn: “Chúng mày là đồ ba xạo’ trong vịnh đủ cá ăn cả đời, sống an lạc thế rồi, nên làm gì có đại dương mà ra. Đồ ba xạo, ngồi tưởng tượng viễn vông rồi nói nhảm.”

Thuyền lớn kiên trì giải thích, kiên trì ghi chép lại những gì mình thấy ra để cho những con thuyền nhỏ đủ duyên sẽ có thêm tấm bản đồ mà ra khơi. Tuy nhiên, nhiều thuyền nhỏ không hề có ý niệm gì về đại dương nên không thể nào hiểu nỗi những tấm bản đồ mà những con thuyền lớn đã vẽ; vậy lại tiếp tục ném đá mà không biết rằng: do sự vĩ đại và hùng vĩ của đại dương quá lớn, vượt khỏi tầm của ngôn ngữ nên dù thuyền lớn đã cố hết sức cũng không thể diễn đạt nó cụ thể súc tích được. Chỉ có những con thuyền nhỏ trong một dịp nào đó (hữu duyên hay vô duyên) tình cờ thoáng thấy bóng biển cả thì mới chợt ngộ rằng biển cả là có thật và tìm lục lại những tấm bản đồ mà thuyền lớn đã vẽ để tìm đường ra khơi.


Kết luận:
-      Thuyền lớn không thể ra khơi mà không đi qua vịnh.
-      Thuyền nhỏ muốn ra khơi thì cần bỏ đi tri kiến và định kiến của mình.
-      Cái gì càng hùng vĩ, vĩ đại thì càng vượt xa tầm kiểm soát của ngôn ngữ.
-      Chỉ loay hoay trong vịnh cũng đủ cá ăn cả đời, không cần mạo hiểm ra khơi nếu chưa đủ lực và chưa đủ sự gan dạ mạo hiểm; bởi vì đại dương mênh mông chỉ dành cho những ai có tâm mênh mông.