Thứ Năm, 16 tháng 10, 2014

AN và LẠC - Thích Nhất Hạnh

Trong văn học Phật giáo, chữ lạc thường đi đôi với chữ an, an lạc. An có nghĩa là bình an (peace), lạc có nghĩa là hạnh phúc. Hạnh phúc thường đi đôi với cái an, không có an thì chưa hẳn là có lạc.

Dù mình đang uống rượu, dù mình đang ăn thức ăn rất là ngon, dù mình mới trúng số độc đắc, nhưng nếu tâm không có an thì cái đó chưa hẳn là lạc. Có những người nghe tin mình trúng số độc đắc thì ngất xỉu, tại vì họ chịu đựng không nỗi cái tin mừng đó, tại vì trong tâm họ không có an. Cái tin đó chỉ là một chất xúc tác, một sự kích động, nếu đó là sự kích động thì trong đó không có cái an, nếu không có an thì trong đó không thực sự là có lạc.

Trong khi mình theo đuổi và hưởng thụ ngũ dục,khi mình đang ăn một cái gì, đang uống một cái gì, đang có những liên hệ xác thịt với một người nào đó, thì có thể trong khi ăn cái đó, uống cái đó, có liên hệ xác thịt đó, thì mình cho cái cảm giác lạc thọ lúc đó. Nhưng trong cái lạc thọ đó, mình hãy tự hỏi nó có cái an hay không? Nếu không có an thì cái đó không phải là lạc, mà là mình đang bị một ngọn lửa đốt cháy. Ngọn lửa đó là ngọn lửa của dục.

Tham ăn, bị chìm đắm trong biển Vị mênh mông, đó là một cái dục. Thèm nghe hát nhạc tình sầu đứt ruột, thì đắm chìm trong biển Thanh mênh mông, đó là một cái dục. Trong khi mình hưởng thụ những hương vị đó, những âm thanh đó thì trong người mình bị thiêu đốt bởi dục. Nếu có ngọn lửa của sự đam mê đốt cháy thì tuy mình có thể diễn tả cái đó là một lạc thọ, nhưng lạc thọ đó không phải là hạnh phúc. Tại vì nó không có yếu tố an ở trong đó, không có an thì không có lạc.

Trong ngôn từ đạo Bụt, luôn luôn là an đi đôi với lạc - "an lạc" - "yên vui". Không có yên thì không có vui. Cho nên mình có thể nhận diện ra được cái chân hạnh phúc và cái không phải là chân hạnh phúc. Người đời chỉ muốn có những cảm giác lạc thọ mà ít khi để ý hay phán xét cái đó có thật là lạc thọ, là hạnh phúc hay không? Cho dù trong cái lạc thọ đó nó có ít yếu tố của sự bất an, của sự đốt cháy, thì cái lạc thọ đó cũng không phải là hạnh phúc chân thật.

Giây phút của khoái lạc đó có thể kéo theo giây phút của sự khổ đau. Như khi mình buồn quá, mình đi uống rượu. Trong khi uống rượu mình thấy bớt buồn và mình nghĩ là có hạnh phúc. Nhưng kỳ thực, sau khi uống rượu nhiều rồi thì lại chồng chất thêm những cái khổ thọ khác lên, mà cơn buồn sẽ trở lại khi mình tỉnh rượu. Đắm mình trong sắc dục cũng vậy, để quên bớt những khổ đau, để quên bớt những cô đơn. Nhưng sau những hưởng thụ dục lạc đó thì những khổ đau ban đầu hiện hình ra rõ ràng hơn trước.

Trích đoạn từ bài Hạnh phúc là con đường


Làm chả lụa chay không khó


Nguyên liệu:
- 300g tàu hũ ky lá
- 2 thìa cà phê muối
- 4 thìa cà phê đường
- 1 thìa cà phê tiêu bột hay tiêu hột
- 2 muỗng canh nước tương
- 2 muỗng canh dầu mè
- Lá chuối rửa sạch, đem trụng sơ trong nước sôi cho lá mềm không bị rách khi gói, vớt ra lau cho khô lá
- Dây cột
Thực hiện:
Bước 1: Tàu hủ ki ngâm nước ấm 20 phút cho mềm, xả sạch.
Bước 2: Đun sôi nước, cho tàu hủ ki vào luộc 20 phút,vớt ra, để ráo nước.
Bước 3: Cắt nhỏ lá tàu hũ ky ra cho vô miếng vải vắt cho thiệt khô nước, sau đó đổ ra thau, cho chén gia vị vào trộn cho thật đều. Ướp tàu hủ ki với tiêu và để ngấm gia vị.
Bước 4: Để một sợi dây ở chín giữa, xếp một lớp lá chuối ngang, một lớp lá chuối dọc
Bước 5: Cho một phần tàu hũ ki vào chính giữa (tác giả công thức chia làm hai phần gói thành 2 cây chả lớn), túm hai mé lá lại với nhau, gấp xuống rồi bẻ gấp thêm lần nữa (gói lại như gói bánh tét), kéo dây cột sơ lại.
Bước 6: Sau đó bẻ một gốc lại, cho tựa xuống bàn, lấy tay ấn lá tàu hũ ky ở gốc trên sao cho thật chặt và tròn đều, rồi bẻ gốc gấp lại và buộc dây cho chắc vào, sau đó quay gốc còn lại, cũng làm y như gốc ban đầu sao cho cây chả được tròn đều, và cột lại đàng hoàng.
Bước 7: Cho vô nồi hấp từ 30 phút là chả chín, nếu ăn liền thì đem cắt hình dạng tùy món ăn
Bạn có thể làm số lượng nhiều, hấp chín cho vô tủ đá, khi ăn chỉ cần việc rả đá rồi đem chế biến món rất tiện, ăn chơi hay ăn với bánh ướt, bánh cuốn, kho, xào, chiên, sốt, các món bún nước lèo v.v…rất ngon
Chúc các bạn thành công và ngon miệng với món chả lụa chay.
Nguồn: viet-times








Chủ Nhật, 12 tháng 10, 2014

Làm sao để loại bỏ đau khổ?



- Bạch Thầy! Có cách nào loại bỏ khổ đau ra khỏi đời sống để chỉ còn một màu hạnh phúc không ạ?
- Có chứ!
- Cách gì thầy chỉ cho con với!
- Con ra chợ mua một trái Thanh Long ăn và nhả hết hạt của nó.
( Dạ.. con bótay. com thầy ơi! )
Thích Tánh Huệ

 

Thứ Bảy, 11 tháng 10, 2014

66 câu thiền ngữ Phật pháp

 Xem nguồn bài viết ở đây


I. CHẤP DÍNH LÀ GỐC KHỔ ĐAU
1. Sở dĩ người ta đau khổ là do đeo đuổi những thứ sai lầm.
2. Nếu bạn không muốn rước phiền não vào mình, thì người khác cũng không cách nào gây phiền não cho bạn. Tất cả do nội tâm bạn. Chỉ do bạn không chịu buông xuống.
3. Bạn hãy luôn cảm ơn những ai tạo ra nghịch cảnh cho bạn.
4. Bạn phải luôn mở lòng khoan dung, lượng thứ cho người khác, cho dù họ xấu bao nhiêu, thậm chí họ đã làm tổn thương bạn. Bạn phải buông bỏ để có được niềm vui đích thực.
5. Khi đang vui, bạn nên nghĩ rằng niềm vui này không vĩnh hằng. Khi đau khổ, bạn hãy nghĩ rằng nỗi đau này cũng không trường tồn.
6. Sự chấp trước của ngày hôm nay sẽ là niềm hối hận cho ngày mai.
7. Bạn có thể có tình yêu nhưng đừng nên dính mắc, vì chia ly là lẽ tất nhiên.
8. Đừng lãng phí mạng sống mình tại những nơi mà nhất định bạn sẽ ân hận.
9. Khi nào bạn thật sự buông xuống thì lúc ấy bạn sẽ hết phiền não.
10. Mỗi một vết thương đều là một sự trưởng thành.
11.Người cuồng vọng còn cứu được, người tự ti thì vô phương. Chỉ khi nhận thức được mình, hàng phục chính mình, sửa đổi mình, bạn mới có thể thay đổi người khác.

II. THAY VÌ HẬN NGƯỜI, HÃY TỰ CỨU MÌNH
12. Đừng nên có thái độ bất mãn người khác hoài. Bạn hãy quay về kiểm điểm chính mình mới đúng. Bất mãn người khác là chuốc khổ cho chính mình.
13. Người nào nếu tự đáy lòng không thể tha thứ cho kẻ khác, thì tâm người đó sẽ không thể được thanh thản.
14. Người nào trong tâm chứa đầy cách nghĩ và cách nhìn của mình thì sẽ không bao giờ nghe được tiếng lòng người khác.
15. Hủy diệt người chỉ cần một câu, xây dựng người lại mất ngàn lời, xin bạn “đa khẩu hạ lưu tình”.
16. Thật sự không cần quay đầu lại xem người nguyền rủa bạn là ai? Chẳng lẽ khi bị chó điên cắn một phát, bạn phải chạy đến cắn con chó đó một phát?
17. Đừng bao giờ lãng phí một giây phút nào để nghĩ nhớ đến người bạn không hề yêu thích.
18. Khi bạn biết đem lòng từ bi và thái độ ôn hòa để bày tỏ những nỗi oan ức và bất mãn của mình, người khác sẽ dễ hiểu ra vấn đề.
19. Cùng là một chiếc bình giống nhau, sao bạn lại chứa độc dược? Cùng một mảnh tâm, sao bạn phải chứa đầy những não phiền làm chi?
20. Những thứ không đạt được, chúng ta sẽ luôn cho rằng nó đẹp đẽ, chính vì bạn hiểu nó quá ít, bạn không có thời gian ở chung với nó. Nhưng rồi một ngày nào đó khi bạn hiểu sâu sắc, bạn sẽ phát hiện nó vốn không đẹp như trong trí tưởng tượng của mình.
21. Sống một ngày là có diễm phúc của một ngày, nên phải trân quý. Khi tôi khóc vì không có dép để mang thì tôi lại phát hiện có người không có chân!
22. Hao tổn tâm lực để chú ý người khác sao bằng dành chút tâm lực phản tỉnh bản thân?

III. BUÔNG CHẤP NGÃ LÀ HẠNH PHÚC ĐÍCH THỰC
23. Hận thù người khác là mất mát lớn nhất đối với bản thân.
24. Dù ai cũng có mạng sống, nhưng không phải ai cũng hiểu được và biết trân quý mạng sống của mình. Người không hiểu được mạng sống thì mạng sống đối với y chỉ là sự trừng phạt.
25. Tình chấp là nguyên nhân của khổ đau. Buông bỏ tình chấp, bạn mới được tự tại.
26. Muốn không hối hận về sau thì đừng khư khư về cách nghĩ của mình.
27. Khi sống thành thật với chính mình, không ai trên đời sẽ lừa dối bạn được.
28. Người che đậy khuyết điểm của mình bằng thủ đoạn tổn thương người khác là kẻ đê tiện.
29. Người âm thầm quan tâm, chúc phúc người khác là đang trao tặng vô hình.
30. Đừng gắng sức suy đoán cách nghĩ của người khác, nếu bạn không phán đoán chính xác bằng trí huệ và kinh nghiệm thì bạn sẽ mắc phải nhầm lẫn như sự đương nhiên.
31. Muốn hiểu một người có thật lòng không, chỉ cần xem điểm xuất phát và mục đích của họ có giống nhau không.
32. Chân lý của nhân sinh được giấu trong cái bình thường.
33. Người không tắm rửa thì càng xức nước hoa càng thấy thối. Danh tiếng và sự tôn quý đến từ chân tài thực học. Có đức tự nhiên thơm.

IV. HÃY ĐỂ THỜI GIAN CUỐN TRÔI KHỔ ĐAU ĐI
34. Thời gian sẽ trôi qua. Hãy để dòng thời gian cuốn trôi phiền não của bạn đi.
35. Ai nghiêm trọng hóa những chuyện đơn thuần sẽ sống trong đau khổ.
36. Người luôn e dè với thiện ý của người khác thì hết thuốc cứu chữa.
37. Buông một lời dối gian thì phải bịa thêm mười câu hư vọng nữa để biện hộ. Cần gì khổ như vậy?
38. Ai sống một ngày vô tích sự thì chẳng khác gì kẻ phạm tội ăn trộm.
39. Người gieo duyên rộng mở sẽ không làm tổn thương người khác.
40. Im lặng là một câu trả lời hay nhất của sự phỉ báng.
41. Kính trọng người khác là tự trang nghiêm.
42. Ai có tình thương vô tư thì sẽ có tất cả.
43. Đến là ngẫu nhiên [nhân duyên], đi là tất nhiên [nhân duyên]. Do vậy, bạn cần phải “tùy duyên mà bất biến, bất biến mà tùy duyên”.
44. Từ bi là vũ khí tốt nhất của mỗi người.

V. BIẾT THƯƠNG CHÍNH MÌNH
45. Chỉ cần đối diện với hiện thực, bạn mới vượt qua hiện thực.
46. Lương tâm là thẩm phán công bằng nhất của mỗi người. Bạn lừa dối người khác được nhưng không thể qua mặt lương tâm mình.
47. Người không biết thương bản thân thì không thể thương người khác.
48. Thi thoảng, ta nên tự thầm hỏi: “Ta đang đeo đuổi cái gì? Ta sống vì cái gì?”
49. Đừng vì một chút tranh chấp mà đánh mất tình bạn chí thân. Đừng vì một chút oán giận mà quên đi thâm ân của người khác.
50. Cảm ơn đời[1] về những gì tôi đã có. Cảm ơn đời vì những gì tôi không có.
51. Biết đứng ở góc độ của người khác để nghĩ cho họ thì đó là từ bi.
52. Nói năng nên tránh tánh châm chọc, đừng gây thương tổn, đừng khoe tài cán, đừng vạch lỗi người, nhờ đó, biến thù thành bạn.
53. Thành thật đối diện với mâu thuẫn và khuyết điểm trong tâm, đừng lừa dối chính mình.
54. Nhân quả chưa từng nợ chúng ta thứ gì, nên xin đừng oán trách nhân quả.
55. Đa số người đời làm được ba việc: Dối mình, dối người và bị người dối.

VI. LÀM CHỦ TÂM, LÀM CHỦ HẠNH PHÚC
56. Tâm là tên lừa đảo lớn nhất. Người khác có thể dối bạn nhất thời, tâm dối gạt bạn suốt đời.
57. Chỉ cần tự giác tâm an, thì đông tây nam bắc đều tốt. Nếu còn một người chưa độ thì đừng nên thoát một mình.
58. Khi tay bạn nắm chặt một vật gì mà không buông xuống, thì bạn chỉ có mỗi thứ này. Nếu chịu buông xuống, bạn có cơ hội chọn lựa những thứ khác. Người chấp khư khư quan niệm của mình, không chịu buông thì trí huệ chỉ đạt được ở một mức độ nhất định.
59. Nếu bạn có thể sống qua những ngày bình an, thì đó chính là phúc đức của bạn. Hôm nay, biết bao nhiêu người hôm nay đã không thấy được vầng thái dương ngày mai; biết bao nhiêu người đã trở thành phế nhân, biết bao người đã đánh mất tự do, và biết bao nhiêu người phải nước mất nhà tan.
60. Bạn có nhân sinh quan của bạn, tôi có nhân sinh quan của tôi. Tôi không dính dáng gì tới bạn. Chỉ cần tôi có thể, tôi sẽ cảm hóa được bạn. Nếu không thể thì tôi đành cam chịu.
61. Nếu muốn nắm được tương lai thì bạn phải làm chủ hiện tại.
62. Đừng thốt ra từ miệng những lời ác độc, cho dù người ta có xấu ác với mình bao nhiêu. Càng nguyền rủa người khác, tâm bạn càng bị nhiễm ô. Hãy nghĩ mọi người là thiện tri thức của mình.
63. Người khác có thể làm trái nhân quả, tổn hại chúng ta, đánh chúng ta, hủy báng chúng ta. Chúng ta đừng vì thế mà oán hận họ. Vì chúng ta cần giữ tâm thanh tịnh và bản tánh hoàn chỉnh.
64. Người chưa từng cảm nhận sự đau khổ hoặc khó khăn thì khó cảm thông người khác. Muốn học tinh thần cứu khổ, cứu nạn thì trước hết phải chịu đựng được khổ nạn.
65. Thế giới vốn không thuộc về bạn, vì thế bạn không cần vứt bỏ. Cái cần vứt bỏ chính là tánh cố chấp. Vạn vật đều hữu dụng, nhưng không thuộc về ta.
66. Khi không thể thay đổi được thế giới xung quanh, ta nên sửa đổi chính mình. Giáp mặt tất cả bằng tâm từ bi và trí huệ.
Thích Nhật Từ biên tập


Vì sao tập Dịch Cân Kinh chữa được bệnh nan y?

Xem nguồn bài viết ở đây

Vì sao tập Dịch Cân Kinh chữa được bệnh nan y?
Dòng sông có thủy triều lên xuống thì nước trong xanh; ngược lại, dòng sông mà nước không lưu thông thì sẽ đục ngầu, bẩn thỉu. Ở giếng nước cũng vậy, mỗi ngày có nhiều người đến lấy nước thì nước giếng trong veo, mát lành, nhưng cũng giếng nước ấy không sử dụng một thời gian dài thì nước sẽ đổi màu tối sậm, mặt giếng đầy chất bẩn.

Cơ thể con người cũng vậy, nếu không vận động dưỡng sinh mỗi ngày để khí huyết lưu thông điều hòa thì bệnh tật sẽ xuất hiện. Tập “Vẫy tay” trong Đạt Ma Dịch Cân Kinh sẽ làm cho khí huyết lưu thông tốt, vận hành khắp cơ thể để nuôi dưỡng lục phủ ngũ tạng, tống trọc khí ra ngoài thì âm dương được quân bình sẽ hết đau.
Dịch cân kinh (chữ Hán:易筋經; nghĩa là "cuốn kinh chỉ phép co duỗi gân"), có nơi gọi là Dịch cân tẩy tủy kinh hay Đạt Ma dịch cân kinh, là một cuốn sách võ thuật dạy cách thổ nạp chân khí, nhằm cường thân kiện thể, trường sinh.

Dịch Cân Kinh và Tẩy Tủy Kinh là hai loại bí kíp khác nhau. Dịch Cân Kinh là một bí kíp chỉ dẫn cách vận khí nhằm cường thân kiện thể và trường sinh bất lão. Tẩy Tủy Kinh thì chỉ dẫn cách vận khí để trị nội thương. Hai cuốn bí kíp này được tin rằng do một vị sư của Ấn Độ, Đạt Ma Tổ Sư, soạn ra và để trong Tàng Kinh Các của Thiếu Lâm Tự. Nghe nói sau này, cuốn Tẩy Tủy Kinh bị thất truyền và không còn ai biết nó nằm ở đâu.

Vẫy tay trong Đạt Ma Dịch Cân Kinh được tập theo trình tự:
1/ Chọn nơi yên tĩnh, thoáng mát, đầu óc phải tập trung vào việc tập luyện và tin tưởng tuyệt đối sẽ có kết quả tốt cho sức khỏe. Ngậm kín miệng, lưỡi cong lên đụng nướu răng hàm trên, hai mắt nhìn thẳng vào một điểm phía trước mặt, hơi thở tự nhiên, thầm đếm nhẩm từng lần vẩy tay.
2/ Đứng thẳng người, hai bàn chân dang rộng song song bằng chiều ngang hai vai, từ từ đưa hai tay ra phía trước hợp với thân mình một góc 30 độ, hai bàn tay song song với mặt nền, các ngón tay khép kín. Vẫy mạnh hai tay ra sau hợp với thân mình một góc 60 độ, hai bàn tay vểnh lên trên và phải làm hết sức mình đồng thời nhíu hậu môn lại và thót lên được tính là một lần vẫy tay.
3/ Mười đầu ngón chân bấm chắc mặt nền, hai chân lên gân để thân hình dưới nặng, trên nhẹ.
4/ Mỗi ngày nên tập hai lần, tập lúc bụng trống (không no) và mới đầu chỉ nên tập mỗi lần vài trăm cái vẫy tay rồi từ từ tăng dần. Đến lúc vẫy tay trong 30 phút mà được 1.800 – 2.000 cái là thành công. Sau khi tập thấy khát nước thì cứ uống, lúc tập thấy mệt quá thì nghỉ ngay.
5/ Sẽ có những phản ứng của cơ thể như ngứa ngáy, ho, đầu khớp xương kêu lụp cụp, cảm giác máu chảy dồn dập… đó là dấu hiệu tốt, không phải lo lắng.
6/ Trong 30 phút tập được 1.800 – 2.000 cái, bệnh sẽ được tiêu trừ, cảm thấy rất yêu đời, hạnh phúc, da dẻ hồng hào, ngủ ngon, ăn khỏe, đầu óc minh mẫn, tinh thần sảng khoái.
7/ Tập “Vẫy tay” trong Đạt Ma Dịch Cân Kinh chữa được các bệnh: Suy nhược thần kinh, thấp khớp, huyết áp, tim mạch, hen suyễn, dạ dày, đường ruột… và các bệnh nan y như ung thư, tiểu đường, viêm gan với điều kiện phải tuyệt đối tin tưởng và kiên trì tập luyện thường xuyên mới đạt được kết quả mong muốn.
Lương y, Võ sư Nguyễn Tấn Xuân

Thứ Ba, 7 tháng 10, 2014

CÂU CHUYỆN VỀ CHIẾC THUYỀN KHÔNG NGƯỜI

Có người ngồi trên thuyền câu cá, bỗng thấy từ xa có chiếc thuyền to hơn đang tiến thẳng tới phía mình. Anh vội vã ngừng câu, đứng lên khua tay khua chân, la hét cho chiếc thuyền kia thấy để tránh đừng đâm vào thuyền của anh.

Mặc cho anh la hét và ra dấu, chiếc thuyền kia vẫn từ từ rẽ nước đâm thẳng tới. May là nó không đi nhanh nên chỉ đụng nhẹ làm anh té nhào xuống sàn. Quá giận, anh leo qua thuyền bên kia định đánh cho tên lái thuyền một trận. Bộ nó say rượu hay sao mà không thấy anh ra dấu?

Sau khi tìm kiếm, lục soát một hồi, không thấy ai, anh mới vỡ lẽ ra thuyền này vô chủ, không có người lái, chắc nó tuột neo, trôi lang thang trên sông và đâm vào thuyền mình. Liền khi đó cơn giận của anh biến mất vì đâu có ai cố ý đâm vào thuyền của anh! Đâu có ai là thủ phạm đứng đó để anh chửi bới, đánh đập?

Trong cuộc đời, nhiều khi chúng ta có cảm giác là người khác cố ý não hại, chửi bới, nói xấu mình nhưng nhìn kỹ thì họ là người máy vô chủ, điều khiển bởi chương trình tham, sân, si, ganh tị, ích kỷ. Hiểu được như vậy thì cơn giận của mình tan biến mau chóng giống như anh câu cá trên.

-Sưu tầm

“hãy lo tu thôi, đừng mất thì giờ về những chuyện thị phi đó!”

Xem nguồn bài viết ở đây


THẦY TÔI
Nếu không viết được về Thầy tôi trước khi chuyển hóa sang một kiếp sống khác, thì đó sẽ là điều tôi ân hận và tiếc nhất đời. Dù chỉ viết được một bài thay vì một cuốn sách, tôi cũng phải bắt đầu hôm nay...
Trước khi được gặp mặt Thầy lần đầu tiên, một buổi sáng mùa Xuân năm 1982 tại thiền viện Mount Tremper thuộc tiểu bang Nữu Ước, tôi không hình dung được là tác giả vĩ đại mà hai thập niên qua, tôi từng đọc say mê hầu hết mọi tác phẩm của ông, lại là một ông thầy tu nhỏ bé, đi đứng và ngôn từ nhẹ nhàng như vậy. Tôi đã có ý hơi lo lắng, về chuyện “vỡ mộng” khi sắp được gặp mặt người mà mình rất kính ngưỡng qua các sáng tác, từ thập niên 1960. Nhưng sự tin tưởng của tôi vào vị Thầy tác giả đó, thật sự đã tăng lên rất nhiều lần sau khi được diện kiến. Thầy cũng chính là người khiến cho tôi quyết định từ năm đó, sẽ dùng hết thì giờ rảnh của mình vào việc học và hành đạo Phật.
Tôi học được từ Thầy thật nhiều điều hay, tưởng như không đếm xuể, và không thể nhớ hết. Năng lượng từ bi của Thầy đã bao phủ con người tôi, sau khi được Thầy tiếp chuyện suốt nửa ngày “làm biếng” của Thầy trong khóa tu dành cho các thiền sinh Mỹ. Thầy ân cần dặn dò trước khi chia tay “Hãy thở và lái xe trong giới hạn 55 miles thôi”, đã khiến tôi cảm thấy vững tâm khi phải vượt qua mấy cái xe vận tải lớn, không còn vừa lái vừa run như bao lần trước nữa.
Khóa tu đầu tại Làng Hồng (mùa Hè 1984) đã khiến tất cả gia đình tôi thay đổi, trong chiều hướng biết sống hạnh phúc hơn. Gia tài lớn nhất mà chúng tôi để lại cho con cháu, chính là những gì chúng tôi học và hành được qua Phật Pháp mà Thầy đã chỉ dạy không ngừng nghỉ, từ ba thập niên qua. Riêng tôi, do thiện duyên được làm “thị thiệt” hầu Thầy trong một số khóa tu, vào những năm chưa có tăng đoàn Làng Mai, tôi học được một số điều từ cách nói năng, hành xử của Thầy - những bài học riêng tư chỉ có mình tôi - hoặc thêm vài đồng đạo được nghe, được hưởng. Tuy chưa thực hành giỏi, tôi cũng xin kể trong đây được vài chuyện mà tôi còn nhớ rõ.
Trong khóa tu năm 1987 tại tu viện Kim Sơn, đại chúng phiền lòng không ít vì sau mỗi buổi pháp thoại của Thầy, có một ông thi sĩ tự lên cầm micro đọc thơ (không hay gì mấy) của ông. Thầy từ bi ngồi nghe ông cúng dường nên không ai đứng dậy ra về trước, cho tới ngày gần chót, ông tự đề cao “thơ tôi hay hơn thơ Thầy vì tôi dám nói về Sex!” Trên máy bay từ California trở về Montreal cùng Thầy, tôi nhắc lại chuyện làm cho mình và đại chúng bực mình đó, khi bị “mất thì giờ nghe ông ta đọc thơ…”, Thầy nhỏ nhẹ bảo tôi “Mình phải tập thương cả những người như vậy!”
Trong những lúc chỉ có hai Thầy trò, khi nhắc tới tên một người đã từng bỏ Thầy đã viết nhiều bài báo sai sự thật để bôi xấu Thầy, Thầy vẫn luôn luôn gọi người đó là “anh”, không bao giờ có chữ “thằng”. Lòng bao dung và từ bi của Thầy khiến cho Thầy thương luôn những người “đánh phá” Thầy bằng ngòi bút hay lời đồn đại. Suốt cuộc đời tu hành, càng nổi danh, Thầy càng bị hàm oan nhiều chuyện do những con người “vô minh”, nhưng Thầy không một lần lên tiếng biện luận. Nhiều học trò xin Thầy lên tiếng cải chính để sự thật được sáng tỏ, Thầy chỉ nghiêm giọng dạy trò “hãy lo tu thôi, đừng mất thì giờ về những chuyện thị phi đó!”
Đem pháp môn Thiền Chánh Niệm và các phép thực tập từ Làng Mai đi giảng dạy cho các thiền sinh đã học từ nhiều truyền thống Thiền khác nhau (Nhật Bản, Trung Hoa, Nam Tông hay Tây Tạng…), hoặc từ các tôn giáo khác (Thiên Chúa, Tin Lành, Do Thái.v.v…), là chuyện không dễ dàng, nếu như Thầy không phải là một bậc chân tu lỗi lạc. Đối với các học trò cư sĩ Tiếp Hiện của thập niên 1980, Thầy cũng đã từ bi khuyến khích họ đi tìm hiểu và thực hành, thử nghiệm các phương pháp Thiền khác, để có lòng tin vững chãi hơn vào pháp môn Làng Mai. Trong một buổi họp với chúng Tiếp Hiện Canada, Thầy nói: “Nếu ba năm gặp lại thầy mà không thấy thầy tiến bộ, thì nên tìm thầy khác mà tu!”
Cũng vào khoảng cuối thập niên 1980, khi Làng Hồng bắt đầu có đông thiền sinh về tu học, dân Làng Cây Phong (Canada) chúng tôi đã phải năn nỉ Thầy để làm lò sưởi trong phòng Thầy ngủ và làm việc. Mỗi khi Đông về, Thầy ngồi viết bài mà tay tê cứng vì lạnh! Dù bản quyền hàng trăm cuốn sách mang lại cho Thầy một số tịnh tài đáng kể, hạnh “sống nghèo hành đạo” của Thầy có lẽ không có một vị Sư nào theo kịp, dù vị đó chỉ có một ngôi chùa nhỏ.
Sư cô Như Ngọc (chùa A Di Đà, Orange County) đã có kinh nghiệm vá áo tràng cũ cho Thầy khi cô sang tu tại Làng Mai. Chú Thanh Hương (sinh hoạt bên cạnh Thầy đầu thập niên 1970 tại Paris), cho biết chi tiết Thầy trò thường chỉ sống bằng tiền lương dạy học của Thầy, nấu cơm bằng gạo nuôi chim chứ không mua được gạo thường. Lúc đó, Thầy đã được Phật tử Âu và Mỹ cúng dường hàng triệu Mỹ Kim để giúp các chương trình xã hội Phật giáo bên Việt Nam, nhưng Thầy không bao giờ xài đồng tiền nào trong quỹ đó!
Kiến thức Phật học và kinh nghiệm hành đạo của Thầy tôi mênh mông như biển. Nhưng Thầy có thể dạy cả những bé thơ mới năm, sáu tuổi, cũng như chuyển đổi được tâm tình các cụ đã quá tuổi “Thất thập cổ lai hy” (trên 70). Thầy tôi càng hoằng pháp, càng có nhiều người hâm mộ và tu học theo, dù họ có duyên tham dự các khóa tu trực tiếp hay gián tiếp qua sách vở, băng và đĩa nhựa.
Công trình hoằng hóa nhân loại qua Duy Biểu học của Thầy có những dấu ấn sâu xa vào các tâm lý gia Âu và Mỹ. Sách vở của họ sáng tác từ giữa thập niên 1990 về sau, hầu hết đều nói tới Cognition therapy, Live here and now, Be aware.v.v… Theo anh Josepth Emet, một nhạc sĩ Canadian, giáo thọ Làng Mai, thì chữ Mindfulness không có trong tự điển tiếng Anh, trước khi sách The Miracle of Mindfulness được xuất bản đầu thập niên 1970… Trong chuyến bay đi thăm cháu ngoại kỳ này, tôi bật cười khi nghe cô tiếp viên hàng không nhắc nhở khách du hành: “Please, be mindful when you get back your luggage from the cabin above you!”
Ảnh hưởng của Thầy tôi lên các thế hệ tương lai sẽ còn lớn lao hơn hiện tại rất nhiều. Hòa thượng Mãn Giác khi sinh tiền có nói: “Thầy Nhất Hạnh là một con người đi trước thời đại khoảng 30 tới 50 năm”. Nếu có đủ duyên may được làm người trong kiếp tới, tôi lại mong được thực tập Phật Pháp qua pháp môn Làng Mai.
Chân Huyền.
Ngày 30/12/2011

Như Thế.. được gọi là Thiền

Một vị Thiền sư đã giảng về Thiền như sau :

“Thiền có nghĩa là NHẬN BIẾT. Bất kỳ bạn làm điều gì có nghĩa “nhận biết” thì đó là Thiền. Hành động không phải là vấn đề, mà BẢN CHẤT bạn mang vào hành động đó mới là cốt lõi…”

Đi bộ có thể là Thiền nếu bạn bước đi trong Tỉnh Giác.

Ngồi có thể là Thiền nếu bạn ngồi với sự Tỉnh Giác.

Nghe tiếng chim hót có thể là Thiền nếu bạn nghe với Nhận Biết.

Lắng nghe tiếng ồn bên trong Tâm Trí bạn có thể là Thiền nếu bạn luôn Tỉnh Giác và Nhận Biết .

Toàn bộ giá trị là ở chổ: Con người không nên hoạt động trong mơ ngủ.
Thế thì bất cứ điều gì bạn làm đi đôi với Tỉnh Giác và Nhận Biết đều được gọi là Thiền.”

Thích Tánh Huệ

Thứ Năm, 2 tháng 10, 2014

Lời tâm sự của Quỷ Vương


Khà khà khà, lãnh thổ của ta ngày càng rộng mở, đồ đệ của ta ngày càng đông đảo. Ta là một Quỷ Vương thành công vượt trội. Nhớ ngày nào, ta thách thức ông Thích Ca: Sau khi ông nhập Niết Bàn, ta  sẽ cử con cháu ta vào quấy rối đạo của ông. Hahahahaha, ta không ngờ ta lại có thể làm điều đó vượt trội như vậy. Cái bọn si mê kia thật là dễ dụ dỗ làm sao!!! Ta chỉ đưa ra một miếng mồi ngon, vậy mà cả đám bu vào như thiêu thân. Mà này ông Thích Ca, dù cho ông có hiện ra trước mặt bọn chúng mà bảo ban thì ta chắc chắn không cần ra tay, bọn si mê ấy sẽ là những kẻ đầu tiên tẩy chay và đuổi ông đi. Công nhận ta thấy nể ta quá! Cứ phe phẩy mà ngồi ngó, bọn đồ đệ tự động đến mà nộp mạng, ta chả cần làm gì cả.

Ngẫm lại, ta là một Quỷ Vương đáng nể! Ta đứng đầu bọn quỷ ác ôn nhất, bọn hung hãn nhất nhưng không một kẻ nào biết ta là lãnh đạo của cái đám kia bởi vì bề ngoài của ta là một con quỷ thiện, ta hiền lành như đất, ta chỉ biết làm một công việc duy nhất là làm việc thiện. Số lượng người nhận sự giúp đỡ của ta còn đông đảo hơn nhiều lần số lượng người đi theo ông Thích Ca. Bọn si mê kia, nghe ta tuyên truyền, thuyết giảng về những công tác thiện nguyện, về sự xả thân vì người khác, vậy là tự lao đầu vào nộp mạng. Ta cả đời chỉ khuyên người khác làm thiện, không hề làm ác gì cả nên lãnh thổ quỷ của ta ngày một mở rộng. Có ai mà ngờ được: ta, một kẻ chuyên làm thiện lại là Quỷ Vương cơ chứ hahahahahahaha. Xã hội loài người cũng có nhiều quỷ vương con, chẳng hạn kẻ lãnh đạo tối cao của một băng nhóm mafia tàn độc nhất lại là một người hiền lành tử tế thường xuyên giúp đỡ kẻ khác; kẻ đứng đầu một băng cướp khét tiếng là một người có học thức, có văn hóa, một kẻ hào hoa lịch lãm,…… Khà khà khà và ta, một con quỷ thiện hiền, đứng đầu bọn quỷ ác.

Này, ông Thích Ca, ông tạo ra đạo Phật, ta cũng tạo ra đạo Phật. Ông dạy đồ đệ vượt tam giới, ta dạy bọn chúng cách ở mãi trong tam giới; ông bảo đồ đệ vượt qua thiện ác; ta khuyến khích chúng làm thiện; ông khuyên chúng diệt trừ tham sân si; ta dạy chúng tham làm việc thiện. Thử xem ông và ta, ai là kẻ chiến thắng. Nhờ ta khuyên chúng làm thiện, giữ chúng lại trong thiên giới mà cõi quỷ của ta lại mở rộng hơn bao giờ hết. Ông hãy đợi đấy, ta vẫn chưa dừng tay đâu. Thời này, thời của ông, ông là Phật hiện tại, ông vẫn còn bảo kê bọn chúng, pháp của ông vẫn còn, chưa mất hẳn thì ta dạy chúng làm việc thiện; có thiện thì phải có ác; thiện ác còn tồn tại thì còn tam giới; thiện ác không còn tồn tại thì tam giới mất. Ta không dại gì mà để cho tam giới này của ta bị hủy diệt, cho nên ta phải ra sức dạy chúng làm lành làm thiện; bọn chúng càng làm thiện thì tam giới của ta càng được bền vững. Ông cứ bảo kê chúng cho đến hết thời đại của ông đi. Ta đưa cả lũ chúng nó lên thiên giới ở hết; làm thiện đi các con, hưởng phước thiện thì vào thiên giới; chúng được giữ chân ở thiên giới cho đến khi nào thời của ông Thích Ca mất, ông Thích Ca hết bảo kê chúng được nữa, pháp của ông Thích Ca không còn ai biết đến và thiên phước của chúng hết sạch, chúng sẽ bị lôi trở lại cõi người, chúng lại tiếp tục làm thiện làm ác; cứ đứa nào ác thì thành đồ đệ súc sinh, ngạ quỷ và địa ngục của ta, cứ đứa nào làm thiện thì vào thiên giới mà ở tiếp, ta chả làm gì, cứ ngồi xem chúng lên lên xuống xuống trong tam giới của ta như xem phim nhiều tập hahahahahahahahaha. Khi nào bọn đồ đệ của ông còn mê làm việc thiện thì khi ấy tam giới của ta còn tồn tại. Ông tưởng những điều ông dạy chúng mà chúng nghe à? Ta quảng cáo giỏi thế thì làm sao mà không lôi kéo chúng được chứ? Ta cứ đánh vào lòng tham làm việc thiện, lòng tham được hưởng phước, lòng tham được lên cõi trời của chúng thì chúng tự chui đầu vào rọ. Còn những lời dạy của ông à? Chẳng khác gì củi mục bị bỏ xó ngoài đường, mà bây giờ bọn chúng toàn nấu bếp ga, có thèm quan tâm đến củi làm gì khà khà khà.

Ông dạy chúng điều gì nhỉ? Diệt trừ tham sân si để ra khỏi tam giới á, ta nhẹ nhàng tinh tế kéo chúng vào việc thiện để chúng không thể thoát khỏi tay ta. Ông bảo chúng rằng tội do tâm tạo thì phải do tâm sửa à, ta nhẹ nhàng bảo chúng làm việc thiện để xoa dịu cảm giác tội lỗi. Bọn chúng hăng say tham đắm vào việc thiện thì ta càng hả hê sung sướng. Ông bảo chúng không tham làm việc ác, không tham làm việc thiện, không tham lam mong cầu gì cả thì ta kích cho chúng tham làm thiện để chúng không có thời gian mà suy gẫm lời ông nói. Ta là Quỷ Vương nhưng ta chưa bao giờ khuyên người khác làm ác bởi vì nếu ta làm thế thì ta sẽ nhanh chóng bị lật mặt và bị tẩy chay; ta là Quỷ Vương và ta chỉ biết khuyên người làm việc thiện để cho tam giới của ta được bền vững, lãnh thổ của ta ngày càng mênh mông.

Quỷ Vương ta là một con quỷ thiện, đứng đầu đám quỷ ác và ta chỉ có làm một điều duy nhất là khuyên bọn đồ đệ tiềm năng làm thiện hahahahahahahahahahahaha. Tam giới là nhà ta, là vương quốc của ta, là lãnh thổ của ta ngày càng trở nên bất tận. Chúng bây thi nhau mà làm thiện đi nhé, lũ đồ đệ của ta ơi hahahahahahahahahahahahhahahahahahaha.

Bài liên quan:
Đố vui mà không có thưởng.


Thứ Tư, 1 tháng 10, 2014

CẮT ĐỨT CON ĐƯỜNG NGÔN NGỮ

Nguồn bài viết ở đây

Kinh có ghi lại một cuộc đối thoại giữa du sĩ khổ hạnh Vacchagotta với đức Thế Tôn, và cuộc đối thoại này rất thiền.

Vacchagotta tới thăm Bụt. Ông hỏi:
- Này sa môn Gautama, có một linh hồn hay không?

Bụt im lặng không trả lời.

Lát sau Vacchagotta hỏi:
- Như vậy là không có linh hồn phải không?
Bụt cũng ngồi im lặng.

Sau đó Vacchagotta đứng dậy chào và đi ra.

Sau khi Vacchagotta đi rồi, Thầy A Nan hỏi Bụt:
- Tại sao Thầy không trả lời cho Vacchagotta?
Và Bụt bắt đầu cắt nghĩa…
* *

Trong truyền thống thiền cũng có những cuộc đối thoại tương tự.

Có một thiền sinh tới tham vấn vị Thiền sư.

Theo truyền thống, vị thiền sinh nào được vào tham vấn đều được vị thị giả mời một chén trà.

Vị thiền sinh chắp tay hỏi:

- Con chó có Phật tánh không?

Vị Thiền sư nói:

- Uống trà đi

Sau đó có một vị thiền sinh khác đến tham vấn.
Vị này chắp tay hỏi:

- Bạch Thầy, như vậy là con chó không có Phật tánh, phải không?

Vị Thiền sư nói:

- Uống trà đi.

Sau khi vị thiền sinh thứ hai này đi rồi, vị thị giả của thiền sư chắp tay hỏi:

- Bạch Thầy, tại sao vậy? Tại sao hỏi con chó có Phật tánh hay không thì Thầy nói uống trà đi. Và khi hỏi con chó không có Phật tánh phải không thì Thầy cũng nói uống trà đi. Như vậy nghĩa là sao? Xin Thầy cắt nghĩa cho con.

Vị Thiền sư nhìn vị thị giả và nói:
- Uống trà đi.
* *
Phương pháp của Thiền là cắt đứt con đường nói năng và dập tắt khung trời khái niệm trong đó ý thức cứ tiếp tục tư duy và đi tìm kiếm những ý niệm để cố gắng tìm hiểu thực tại (ngôn ngữ đạo đoạn, tâm hành xứ diệt).
Ngôn ngữ đạo đoạn là cắt đứt con đường ngôn ngữ.
Tâm hành xứ diệt nghĩa là dập tắt vùng trời của sự suy tư bằng khái niệm, đừng để tâm ý đi tìm những ý niệm: có-không, sanh-diệt,… đi tìm những ý niệm đó để mong cắt nghĩa sự thật.
Cho nên những câu: "Uống trà đi, uống trà đi, uống trà đi" lặp lại ba lần cho ba người, có nghĩa là:"Hãy chấm dứt con đường suy tư đi, hãy dập tắt vùng trời khái niệm đi thì mới có cơ hội tiếp xúc với sự thật".
Trong câu chuyện của vị Thiền sư này, câu nói "uống trà đi" không những giúp cho hai vị thiền sinh cắt đứt được con đường suy tư và dập tắt được khung trời khái niệm, mà cũng giúp được cho cả vị thị giả làm được chuyện đó.
* *
Tôi nghĩ câu chuyện gặp gỡ trong kinh Vacchagotta cũng như vậy, và câu chuyện ấy đã có thể đã bị cắt đứt mất một đoạn.
Khi thầy A Nan hỏi: "Đức Thế Tôn, tại sao đức Thế Tôn không trả lời ông ta?", thì có lẽ lúc đó đức Thế Tôn cũng đã im lặng, không trả lời thầy A Nan. Cái đó mới đúng, cái đó mới thiệt là Thiền.
Có thể người ghi chép kinh đã sơ sót không ghi vào chi tiết này và bắt đức Thế Tôn phải bắt đầu cắt nghĩa. Cho nên mình có thể phục hồi lại được câu chuyện giữa Bụt và Vacchagotta, một câu chuyện rất Thiền như sau.
Sau khi giữ im lặng hai lần đối với Vacchagotta thì Bụt cũng giữ im lặng với thầy Ananda.
Bụt có ý nói: "Này em Ananda, em cũng nên tìm cách chấm dứt con đường của sự nói năng và dập tắt khung trời khái niệm thì mới có cơ hội tiếp cận với sự thật". Lần này thì trong kinh đã nói rõ là Bụt phải cắt nghĩa cho A Nan, tại sao Ngài đã giữ hai lần im lặng?
* *
Mấy câu đầu của sự cắt nghĩa nghe cũng được, không đến nỗi nào, cũng có khả năng nói đúng với ý của Bụt. Đó là câu: "Này Ananda, khi Vacchagotta hỏi là có ngã hay không, nếu tôi nói có ngã như vậy thì tôi đâu khác gì những vị Sa môn và Bà la môn đang chủ trương thuyết thường tại? Khi Vacchagotta hỏi: "Vậy thì không có ngã phải không?" Nếu tôi trả lời là không có cái ta thì tôi lại đồng ý với những vị Sa môn và Bà la môn đang chủ trương thuyết đoạn diệt. Một bên là cái thấy Thường tại, một bên là cái thấy Đoạn diệt. Cả hai đều là tà kiến."
Cắt nghĩa như vậy có thể là đúng với ý của Bụt.
Nhưng đoạn kinh này thì chẳng hay chút nào:
"Lại nữa A Nan, khi Vacchagotta hỏi: Có Ngã hay không? Nếu tôi trả lời là có Ngã thì điều đó đi ngược lại với những giáo lý tôi đã dạy lâu nay về Vô ngã. A Nan, khi Vacchagotta nói: Như vậy là không có ngã phải không? Mà nếu tôi trả lời là không có Ngã thì điều đó càng làm cho tâm trí Vacchagotta càng lộn xộn thêm lên. Tại vì ông ta sẽ nói: khổ chưa, lâu nay mình tin là có một cái Ngã mà bây giờ lại không có cái Ngã đó."
* *

đồi BụtBây giờ ta hãy thử thiết lập lại sự thật để thấy rằng cuộc đối thoại giữa Bụt và Vacchagotta đã thực sự là một cuộc đối thoại rất Thiền, theo tinh thần: ngôn ngữ đạo đoạn, tâm hành xứ diệt.

Giả sử ta ghi chép như thế này:
- Sa môn Gautama, có Ngã hay không?

Bụt im lặng.

- Sa môn Gautama, vậy thì không có Ngã hả?
Bụt im lặng.

Sau đó thì Vacchagotta đứng dậy chào Bụt và từ giã.

Sau khi du sĩ khổ hạnh Vacchagotta đi khỏi rồi, Ananda hỏi Bụt:
- Tại sao Thầy không trả lời Vacchagotta?
Đức Thế Tôn cũng giữ im lặng.
* *
Điều này có nghĩa là đức Thế Tôn cũng đã muốn dạy thầy A Nan nên chấm dứt con đường của sự nói năng và dập tắt vùng trời của khái niệm. Kể chuyện như thế là hay nhất và đúng nhất.
Còn muốn giải thích cho đúng ý của Bụt thì có thể dùng câu Bụt nói trong kinh Ca Chiên Diên (Kātyāyana) là chắc ăn nhất:
- "Này A Nan, phần lớn người đời đều bị kẹt vào ý niệm có và ý niệm không. Nếu tôi nói có Ngã thì đó là một tà kiến và nếu tôi nói không có Ngã thì đó cũng là một tà kiến khác. Cho nên sự im lặng của tôi là một cơ hội cho Vacchagotta cắt đứt được con đường ngôn ngữ và dập tắt được vùng trời khái niệm, cho nên tôi đã im lặng như vậy. Em cũng thế, em cũng không nên hỏi. Cho nên tôi đã im lặng sau khi em hỏi."
Trả lời như vậy chắc chắn đúng ý của Bụt. Vì đó chính là lời Bụt nói trong kinh Kātyāyana. Không ai có thể nói rằng mình đã đặt vào miệng Bụt những câu mà Ngài chưa từng nói.

Viết tại Nội viện Phương Khê ngày 28 tháng 9 năm 2014.

Nhất Hạnh