Chủ Nhật, 18 tháng 10, 2015

Có hai mục đích sống:

- Một là sống phấn đấu để đạt được điều mình muốn đạt, như được giàu sang phú quý, địa vị cao trọng, gia đình hạnh phúc, tài năng xuất chúng, kiến thức uyên thâm, tiếng tăm lừng lẫy v.v... thì đương nhiên cần nhiều điều kiện, khả năng để thành công, và cũng cần sự trợ lực của phong thủy, thiên thời, địa lợi, tử vi, bói toán, kể cả cầu xin, đút lót v.v... để được như ý. Muốn vậy thì cứ "tận nhân lực" rồi "tri thiên mệnh" thôi, chứ đâu có ai biết được số mệnh mình ra sao.
- Hai là sống trung thực để học ra bài học sự thật về cuộc sống, như hiểu được ý nghĩa đích thực của khổ đau và hạnh phúc, sự tương giao và mối quan hệ, thành công và thất bại, được và mất, hơn và thua, vinh và nhục, đúng và sai, thiện và ác, lợi và hại, đâu là nguyên nhân đâu là hậu quả v.v... để biết tự hoàn thiện thái độ nhận thức và hành vi cho đúng tốt, chứ cũng không thể chỉ tin vào số mệnh đã an bài để rồi "cũng liều nhắm mắt đưa chân / mà xem con tạo xoay vần đến đâu" được.
Trong cả hai cách sống trên mỗi người đều có quyền tự do tạo ra số mệnh cho mình, nhưng tốt nhất là phải "thuận thiên lập mệnh" nghĩa là phải biết sống thuận với quy luật vận hành của trời đất (pháp) thì mới có thể "đức năng thắng số" được. Đức thắng số có nghĩa là nên ăn hiền ở lành để làm lợi mình lợi người tốt hơn là sống buông xuôi tới đâu thì tới. Tốt nhất là sống vô ngã vị tha rồi qua đó học bài học tùy duyên thuận pháp, hiểu ra bàn chất của chính mình và ý nghĩa đích thực của cuộc sống.

Con muốn ăn cam!

Một bà mẹ có 3 người con trai, bà rất thương các con của mình. Một hôm 3 người con nói với bà: Chúng Con Muốn Ăn Cam, Mẹ Mua Cho Chúng Con mỗi Đứa Một Quả Nhé". Bà mẹ ra chợ mua về cho 3 đứa con nhỏ của mình 3 quả chanh thay vì là 3 quả cam.

Đứa thứ 1: Cầm quả chanh gào khóc và ném quả chanh đi "Con muốn ăn cam, chứ không phải chanh".
Đứa thứ 2: Thì ngồi cố gắng lột quả chanh ăn, vừa ăn vừa khóc một cách đau khổ và chịu đựng.
Đứa thứ 3: Cắt quả chanh ra, rồi nó đi lấy đường cho vào quậy một ly nước chanh, rồi ngồi uống ngon lành, sản khoái.

Rinpoche (vị Lạt Ma) dạy rằng: cuộc đời đôi khi không phải lúc nào cũng chúng ta những gì chúng ta muốn. Và đôi khi còn cho chúng ta những đắng cay chua, chát. Nhưng chúng ta hãy chuyển hoá hoàn cảnh, xử lý tình huống tốt nhất để chúng ta thích nghi một cách thoải mái nhất với hoàn cảnh. Thay vì phải gào khóc, hay cam chịu đau khổ như đứa con trai thứ 1 và thứ 2.

--- st ---

Thứ Sáu, 16 tháng 10, 2015

Có hai loại cô đơn: Cô đơn hữu ngã và cô đơn vô ngã.

1) "Cô đơn hữu ngã" là khi con không cô độc nhưng lại cảm thấy cô độc lạc lõng vì không tìm được mối quan hệ hợp ý mình. Chính ý muốn "xây dựng môi trường tu học" như một tổ chức lý tưởng để thiết lập mối quan hệ hoàn hảo khiến con cảm thấy cô đơn. Biết đâu cuốn sách mà con định viết nhằm xây dựng một môi trường tu lý tưởng theo ý con lại tạo cảm giác cô đơn cho nhiều người khác!? Rồi phải chăng khi con không tìm thấy mối quan hệ lý tưởng trong môi trường tu hiện tại con lại muốn "quay về với thực tại chính mình" mà thực ra là đang trốn chạy sự tương giao hiện hữu, đang tự cô lập mình trong cảm giác cô đơn bất mãn? Khi con muốn tổ chức và tiêu chuẩn hóa mọi người theo tiêu chí của con thì sự cô đơn đã hình thành trong con một cách kiên cố!
2) "Cô đơn vô ngã" là khi con sống tương giao hài hòa vô ngại với mọi người dù mỗi người là mỗi cá thể đặc thù, nói cho dễ hiểu là mỗi người một tính cách, một trình độ, một biểu hiện độc đáo, một lý lịch quá khứ riêng tư..., mà con không hề có ý muốn tiêu chuẩn hóa mối quan hệ mọi người trong một tổ chức lý tưởng theo ý mình, ngay trong thực tại đó con vẫn thương yêu, tôn trọng, hòa hợp với mọi người dù đồng hay dị mà vẫn sống độc lập, tự tại giữa họ thì đó chính là sự cô đơn vô ngã của một người giác ngộ. Người giác ngộ nhận ra rằng mỗi người đều đã và đang dựng lên cho mình một cái ngã ảo tưởng từ đó phát sinh ra sự bất đồng, và điều kỳ diệu của pháp là chính sự va chạm của những bất đồng đó lại giúp phá vỡ thành trì của bản ngã, nên sự va chạm ấy vô cùng cần thiết, trong khi ý muốn "tổ chức môi trường tu học" hoàn hảo lại chính là ý đồ nuôi dưỡng và gia cố cho cái bản ngã luôn muốn cầu toàn, vì vậy mà nó không bao giờ giác ngộ được bản chất vô thường, khổ, vô ngã của đời sống.

HT. Viên Minh.

Thứ Năm, 1 tháng 10, 2015

Đạo lý đơn giản từ việc đắp chăn bông

Trong một ngôi chùa cũ nát, tiểu hòa thượng chán nản thất vọng nói với lão hòa thượng: “Trong cái chùa nhỏ bé này chỉ có hai hòa thượng chúng ta, lúc con đi xuống núi hóa duyên, mọi người đều là nói những lời ác với chúng ta, còn thường xuyên gọi con là hòa thượng hoang. Họ cho chúng ta tiền hương khói càng ngày càng ít đến thê thảm”.

Tiểu hòa thượng nói tiếp: “Hôm nay con đi khất thực, trời lạnh như vậy mà không có một ai mở cửa cho con, đến cơm bố thí cũng được ít. Chùa Bồ Đề chúng ta muốn thành một ngôi chùa ngàn gian, tiếng chuông vang xa không ngớt như Sư Phụ nói, con e là không thể”.

Lão hòa thượng khoác lên mình chiếc áo cà sa không nói lời nào, chỉ nhắm mắt lại lẳng lặng nghe, tiểu hòa thượng cứ nói và cằn nhằn liên miên…

Cuối cùng lão hòa thượng mở mắt to hỏi: “Bây giờ bên ngoài gió bấc thổi mạnh, lại có băng tuyết ngập trời, con có thấy lạnh không?”

Tiểu hòa thượng toàn thân run rẩy nói: “Con lạnh, hai chân con đều tê cóng cả rồi!”

Lão hòa thượng nói: “Vậy chi bằng chúng ta đi ngủ sớm đi”.

Lão hòa thượng và tiểu hòa thượng tắt đèn chui vào trong chăn ngủ.

Một giờ sau, lão hòa thượng hỏi: “Bây giờ con có thấy ấm không?”

Tiểu hòa thượng trả lời: “Đương nhiên là con thấy ấm rồi, giống như ngủ dưới ánh mặt trời vậy!”

Lão hòa thượng nói:

“Khi nãy, chăn bông để ở trên giường là lạnh, thế nhưng khi có người nằm vào lại trở nên ấm áp. Con thử nói xem, là chăn bông sưởi ấm cho người hay là người sưởi ấm cho chăn bông đây?”

Tiểu hòa thượng nghe xong liền nở một nụ cười nói: “Sư phụ, người thật là hồ đồ đó, chăn bông làm sao có thể sưởi ấm cho người được, phải là do con người làm chăn bông ấm lên mới đúng chứ!”

Lão hòa thượng hỏi: “Chăn bông đã không cho chúng ta sự ấm áp lại còn cần chúng ta đi sưởi ấm nó, như thế thì chúng ta còn đắp chăn bông làm gì?”

Tiểu hòa thượng nghĩ nghĩ một lát rồi nói: “Mặc dù chăn bông không sưởi ấm cho chúng ta, nhưng chăn bông dày lại có thể giữ hơi ấm cho chúng ta, khiến cho chúng ta ngủ được thoải mái”.

Trong bóng tối, lão hòa thượng hiểu ý cười cười: “Chúng ta là hòa thượng tụng kinh rung chuông, chẳng phải là giống người nằm dưới chăn bông? Còn những chúng sinh kia chẳng phải họ là một cái chăn bông dày đó sao? Chỉ cần chúng ta một lòng hướng thiện, thì chiếc chăn bông lạnh như băng kia cuối cùng cũng sẽ được chúng ta sưởi ấm. Lúc đó “cái chăn bông” dày kia cũng sẽ biết giữ ấm cho chúng ta. Chúng ta ngủ trong “cái chăn bông” như vậy, chẳng phải rất ấm áp sao? Ngôi chùa ngàn gian, tiếng chuông chùa ngân vang không ngớt, còn có thể là trong mơ được sao?”

Tiểu hòa thượng nghe xong liền bừng tỉnh mà hiểu ra hết.

Bắt đầu từ ngày hôm sau, tiểu hòa thượng đều dậy rất sớm đi xuống núi hóa duyên. Tiểu hòa thượng cũng vẫn gặp phải những lời ác như trước đây. Thế nhưng tiểu hòa thượng trước sau gì đều giữ vững thái độ nho nhã và lễ độ đối xử với mọi người.

Mười năm sau…

Chùa Bồ Đề đã trở thành ngôi chùa có diện tích hơn mười km, có rất nhiều hòa thượng, khách hành hương tới không ngớt. Tiểu hòa thượng cũng đã trở thành vị sư trụ trì.

Kỳ thực trên thế giới này, chúng ta đều là đang nằm trong chăn bông, người khác chính là chăn bông của chúng ta. Khi chúng ta dụng tâm đi sưởi ấm chăn bông thì chăn bông cũng sẽ giữ ấm cho chúng ta.

Ngủ…đắp…cả một đời, vậy mà hôm nay mới biết…

Hóa ra mối quan hệ giữa người và chăn bông là như vậy, thật là có đạo lý phải không?

Theo Daikynguyenvn.com

Năm trăm nghìn làm thế nào mua được ô tô?



Có một người phàn nàn với một vị lão hòa thượng: Thưa thầy! Vì sao mà con cố gắng thế nào cũng không thành công? Cũng niệm kinh, làm việc thiện rồi mà số mệnh vẫn không thấy cải biến gì?
Lão hòa thượng: Vậy, ta cho ngươi 500 nghìn có được không?
Người khách: Tiền của hòa thượng con không dám lấy ạ!
Lão hòa thượng: Ta là muốn ngươi làm giúp ta một việc.
Người khách: Thưa thầy, thầy nói làm việc gì con cũng tuyệt đối làm tốt giúp thầy.
Lão hòa thượng: Ngươi hãy giúp ta mua một chiếc xe ô tô.
Người khách (giật mình hoảng hốt): Thưa thầy, 500 nghìn sao có thể mua xe ô tô được chứ!
Lão hòa thượng: Ngươi biết 500 nghìn không mua được xe ô tô? Thế nhưng mà trên đời này có rất nhiều người vắt hết óc để suy nghĩ làm sao chỉ phải trả một chút thôi mà lại muốn đạt được rất nhiều thứ đấy!
Sưu tầm

Có người hỏi: “Khi ở một mình, ngài có ăn thịt không?” Vị hòa thượng trả lời quá hay!

Có người khách tới chùa chơi và hỏi lão hòa thượng: Hòa thượng, tôi muốn hỏi ngài một câu hỏi hơi “bất kính” một chút có được không ạ?
Lão hòa thượng: Xin ông cứ nói!
Người khách: Lúc ở nơi dân chúng đông đúc thì ngài ăn chay, vậy khi ở một mình trong phòng ngài có ăn thịt không?
Lão hòa thượng hỏi người khách: Ông là lái xe tới đây phải không?
Người khách trả lời: Vâng, đúng ạ!
Lão hòa thượng: Khi lái xe phải thắt dây an toàn, xin hỏi ông là ông thắt vì sự an toàn của bản thân hay vì cảnh sát? Nếu như là vì bản thân mình thì có hay không có cảnh sát ông sẽ vẫn thắt thôi.
Người khách: Tôi hiểu rồi!
Rất nhiều người nói rằng không có kỷ luật, không có người đốc thúc thì không thể kiên trì thành công thói quen của mình.
Bây giờ bạn đã hiểu nên làm thế nào chưa?
 Sưu tầm.

Thứ Ba, 29 tháng 9, 2015

"CUỘC ĐỐI THOẠI GIỮA DIÊM VƯƠNG VÀ KẺ ĂN MÀY "

Tận mắt thấy người chạy nạn ngày một nhiều, Vương Lão Lục cũng vác trên lưng tất cả tài sản của mình là một túi khoai lang, gia nhập vào dòng người chạy nạn.
Đi đến nửa đường, lão Lục gặp hai cha con đang đói lả, trên lưng người cha cũng cõng một cái túi rất nặng.
Người này thấy lão Lục cõng nhiều khoai lang trên lưng như vậy, liền hỏi xin lão một củ cho con ăn nhưng lão Lục không chịu.
Người này bèn nói: “Vậy ông bán cho tôi được không?”, vừa nói vừa đẩy toàn bộ túi bạc trên lưng mình xuống đất.
Lão Lục nhìn không chớp mắt vì cả đời lão ta nằm mơ cũng chưa bao giờ thấy nhiều bạc như vậy.
Lão liền vứt túi khoai lang xuống, cõng ngay túi bạc lên lưng vội vã lên đường vì sợ hai cha con người này đổi ý.
Vài ngày sau, rốt cục lão không đi được nữa vì quá đói, trên đường đi lão không tìm được bất kể thứ gì để mua ăn.
Hai cha con người đã mua khoai lang, rất nhanh đã vượt qua lão.
Lão nhìn túi khoai trên lưng của người kia thì bắt đầu hối hận, bèn bước lên phía trước hỏi mua lại số khoai lang trên, thế nhưng vô luận như thế nào người đó cũng không chịu bán.
Lão Lục thất vọng ngồi rạp xuống đất, ôm túi bạc trong người, đói khát mà chết.
Lão Lục đi gặp Diêm Vương.
Diêm Vương nói: “Ta vốn định cho ngươi một cơ hội phát tài, không muốn lấy mạng của ngươi. Thế nhưng, người thật sự là vì tiền mà chết, chim vì thức ăn mà vong mạng!”
Lão Lục nói: “Kiếp trước tôi nghèo kiết xác, kiếp này tôi không muốn lại làm người nghèo nữa”.
Diêm Vương nói: “Kỳ thực, kiếp trước của ngươi cũng không phải nghèo, bởi chỉ cần ngươi bán một nửa khoai lang và lấy nửa túi bạc kia. Ai bảo ngươi bán toàn bộ số khoai đó? Vậy thôi, nói chuyện kiếp này vậy, ta hỏi người, kiếp này ngươi có hai lựa chọn, một là vạn người nuôi sống một mình ngươi, hai là một mình ngươi nuôi sống vạn người, ngươi muốn cái nào?”
Lão Lục nghe xong, không lưỡng lự đáp: “Nhất định là người được vạn người nuôi sống!”. Sau đó, lão vui vẻ nghìn lần cảm tạ thiên ân mà rời đi.
30 năm sau, lão Lục lại trở lại trước mặt Diêm Vương, ca thán rằng Diêm Vương lừa gạt lão.
Diêm Vương cười nói: “Sao lại nói ta lừa gạt ngươi?”
Lão Lục nói: “Nghe lời của ngài, tôi cả đời là tên ăn mày”.
Diêm Vương nói: “Vậy là đúng rồi! Vạn người nuôi sống một người chẳng là ăn mày thì còn là gì! Ngươi không thể trách ta, chỉ có thể trách ngươi quá tham lam”.
Lão Lục nghe xong, liền cầu xin Diêm Vương: “Diêm Vương lão gia, đời kế tiếp của tôi, cầu xin ngài nhất định cho tôi những ngày tháng tốt lành!”
Diêm Vương nói: “Vậy nhé! Hiện nay ngươi có hai con đường: Một là trông coi một núi vàng, hai là trông coi một mảnh đất, ngươi muốn cái nào?”
Lão Lục lúc này cẩn thận chọn lựa, nghĩ ngợi, cảm thấy trông coi núi vàng vẫn là tốt hơn.
Diêm Vương nhìn bóng dáng lão Lục đã đi xa, bèn nói: “Con người này đúng là mệnh nghèo mà!”
Chúng tiểu quỷ hỏi tại sao? Diêm Vương liền nói: “Trông coi mảnh đất, trên thực tế là làm một vị quan lớn; mà trông coi núi vàng kia, lại chỉ là làm một con chuột, ngồi mà coi kho thóc thôi!”
***
Cuộc đời bạn do chính chính bạn mà ra. Trên cùng một con đường, có người đi chậm, có người chạy băng băng, có người thì đi xe,… Phương thức khác nhau, kết quả sẽ khác nhau. Vận mệnh giống nhau, có người cười mà chống chọi, có người lại khóc cầu xin, có người im lặng chấp nhận,… đều là thái độ khác nhau, kết quả sẽ khác nhau. Không ai có thể quy định cách sống của bạn, hết thảy đều là do bạn lựa chọn cho chính mình. Con người với tính cách khác nhau, lựa chọn sẽ khác nhau, lựa chọn khác nhau thì vận mệnh cũng sẽ theo đó mà khác nhau.

Sưu tầm.

Thứ Sáu, 25 tháng 9, 2015

Sướng và Khổ

Có một đề thi dành cho các thí sinh thuộc mọi lứa tuổi như sau: “Bạn hãy chứng minh bạn khổ.”
Thí sinh thứ nhất, một người đàn ông chừng sáu mươi, chứng minh: “Tôi lớn lên trong một gia đình nông dân nghèo. Bố mẹ tôi quanh năm ‘bán mặt cho đất – bán lưng cho trời’. Vì nhà nghèo nên tôi phải nghỉ học sớm để đi làm kiếm tiền mưu sinh. Nghĩ mà tủi thân!...”
Thí sinh thứ hai, một phụ nữ trẻ, dẫn chứng: “Tôi là người kém sức khoẻ. Từ nhỏ đã hay đau yếu. Mỗi lần trái gió trở trời là tôi lại xụt xịt. Rất khó chịu!...”
Thí sinh thứ ba, một thanh niên tuổi chừng hăm mấy, viết ngay không chần chừ: “Tôi chẳng có tài cán gì. Giữa đám đông bạn bè, tôi chẳng biết ca hát. Mấy đứa bạn cứ trêu chọc bảo tôi giọng ngang như cua bò. Bực tức và chán ghê!...”
Thí sinh thứ tư toan đặt bút xuống viết thì khựng lại. Rồi anh suy nghĩ có vẻ rất căng thẳng. Cuối cùng, quyết định nộp giấy trắng.
Kết quả cuộc thi: Ba thí sinh đầu tiên được 1 điểm an ủi vì đã có… công viết. Còn thí sinh thứ tư thì phải lên gặp thầy để trình bày rõ lý do tại sao lại để giấy trắng.
Trong giờ sửa bài, giáo sư nhận xét chung:
- Các bạn không được điểm cao vì bài các bạn không thể hiện được tư duy sâu sắc. Các bạn chỉ liệt kê những điều không như ý xảy ra trong cuộc đời. Ai cũng làm được như thế. Thực ra nó không đủ chứng minh rằng các bạn khổ vì góc nhìn đó quá hẹp.
Rồi giáo sư quay sang thí sinh thứ tư và hỏi:
- Tại sao bạn để giấy trắng?
- Thưa giáo sư, thoạt đầu tôi cũng có khuynh hướng vội vàng liệt kê như các bạn kia. Nhưng tôi chợt giật mình…
- Sao bạn lại giật mình?
- Dạ, xin cho phép tôi đứng lên trước mọi người để trình bày được dễ dàng hơn.
Thế rồi cậu khập khiễng bước lên trên. Quay xuống nhìn mọi người, cậu nở một nụ cười thân thiện. Người ta thấy mặt cậu một bên bị nám đen. Cậu nói:
- Hồi tôi còn nhỏ, bố mẹ phải đi làm ngoài đồng, chỉ có chị tôi và tôi ở nhà. Một hôm, chị đang nấu cơm thì bị cháy nhà. Như quý vị thấy, tôi bị phỏng nặng, bây giờ vẫn còn dấu cháy trên mặt. Năm tôi lên bảy, bố tôi qua đời. Một buổi tôi đi học, một buổi tôi phải đi bán vé số ở khu chợ gần nhà để phụ mẹ. Cách đây ít năm, trên đường đi nhà thờ về, có một chú kia nhậu say lái xe tông vào tôi khiến chân tôi bị tật từ hồi đó. Bây giờ mỗi khi trời trở lạnh, chân tôi cũng khá đau. Gần đây, tôi thú thật là tôi yêu một người con gái, nhưng tôi thế này thì làm sao xứng với người ta được!
Trong phòng lúc ấy có nhiều người. Giọng cậu yếu ớt nhưng ai cũng nghe rõ vì bầu khí lặng im đến lạ thường.
- Nhưng sao bạn không viết những điều đau khổ này vào bài thi?
- Dạ không, vì tôi giật mình. Tôi giật mình khi tôi chợt nhớ lại lời của bạn tôi trong nhà thờ hôm Chúa Nhật. Anh ấy nói với mấy người nghèo khổ rằng: “Anh em thật có phúc.” Thế là tôi khựng lại để suy nghĩ.
Rồi tôi nhận ra: để chứng minh tôi thực sự khổ thì tôi phải chứng minh cho được rằng tôi không có gì để hạnh phúc.
Mọi người càng chăm chú. Vị giáo sư lên tiếng:
- Hay! Xin lỗi bạn, tôi không phải là Kitô hữu, vậy cho tôi hỏi anh bạn gì gì đó của bạn nói như thế nào về việc may phúc khiến bạn thay đổi cách nhìn như thế?
- Dạ thưa giáo sư, bạn tôi tên là Giêsu. Anh ấy nói: “Mắt anh em thật có phúc vì được thấy những điều đang thấy, tai anh em thật có phúc vì được nghe những điều đang nghe. Nhiều người mong mỏi được như anh em mà không được.” (Mt 13:16-17).
Thưa giáo sư, lúc ấy tôi chợt nhìn thấy và nghe được nhiều điều may mắn trong cuộc sống của tôi.
Tôi có mẹ, có chị. Nhà chúng tôi tuy chẳng kín cổng cao tường nhưng đùm bọc nhau ấm áp. Tôi có trái tim biết rung động. Tôi có lòng quảng đại. Tôi có lương tâm. Tôi có bạn bè nói chuyện. Tôi có nhiều người cầu nguyện cho tôi. Tôi được đi học. Tôi có trí khôn để nhận ra trong cái xui có cái hên, tức là trong nghịch cảnh có ân sủng.
Ví dụ, vì lớn lên trong cảnh khó khăn, tôi thấy mình biết cảm thương với người nghèo hơn. Vì mang tật nguyền trên mình, tôi hiểu được nỗi đau của tha nhân. Vì thấy mình giới hạn, tôi đặt niềm tin vào Chúa nhiều hơn. À, cuối tuần nào tôi cũng được cùng mẹ và chị đi Lễ với bà con chòm xóm để nghe Lời Chúa.
Vì thế tôi không thể chứng minh là tôi khổ
 Sưu tầm.

Thứ Hai, 21 tháng 9, 2015

Bài học về 3 cạm bẫy cuộc đời

Có ba tên trộm đã nhìn thấy một thiếu phụ, một tên trong số đó nói: “Tôi sẽ đi ăn trộm con dê rừng mà thiếu phụ kia sẽ không hay biết gì cả”.
Một tên trộm khác nói: “Tôi sẽ dắt trộm con lừa ngay từ trong tay người thiếu phụ kia”.
Tên trộm thứ ba nói: “Cái này có khó gì, tôi có thể lấy trộm hết toàn bộ quần áo đang mặc trên người thiếu phụ kia”.

Tên trộm thứ nhất ngay tại chỗ rẽ của con đường đã lén lén đến gần con dê rừng, cởi bỏ cái lục lạc xuống, buộc vào đuôi con lừa, sau đó dắt con dê rừng đi. Người thiếu phụ nhìn quanh một lượt, phát hiện dê rừng không thấy đâu nữa, liền bắt đầu tìm kiếm.
Lúc này, tên trộm thứ hai đi đến trước mặt thiếu phụ, hỏi bà đang tìm kiếm gì, thiếu phụ nói bà đã bị mất một con dê rừng. Tên trộm nói: “Tôi đã nhìn thấy, vừa nãy có một người dắt theo một con dê rừng đi ra khỏi khu rừng này, bây giờ vẫn còn có thể đuổi kịp được”.
Thiếu phụ cầu khẩn người này dắt con lừa thay bà, còn mình thì đuổi theo lấy lại con dê rừng. Tên trộm thứ hai đã nhân cơ hội dắt trộm con lừa đi mất.
Người thiếu phụ từ trong rừng trở về, con lừa cũng không thấy đâu nữa.
Bà vừa đi đường vừa khóc, đang đi đang đi, bà nhìn thấy bên cái đầm nước có một người ngồi đó, cũng đang khóc. Thiếu phụ hỏi anh ta đã xảy ra chuyện gì.
Người đó liền nói, anh ta đã làm rớt một cái túi xuống hồ, ai mà giúp anh ta nhặt lên thì sẽ tặng cho người đó hai mươi thỏi vàng.
Người kia nói: “Ông chủ nhờ tôi đem một túi vàng vào trong thành, vì đi đường quá mệt mỏi, tôi bèn ngồi nghỉ ở bên đầm này, không ngờ đã ngủ quên mất, trong giấc mơ đã ném cái túi đó xuống đầm nước rồi”.
Thiếu phụ hỏi sao anh không xuống vớt cái túi đó lên. Người đó nói: “Tôi sợ nước, bởi vì tôi vốn không biết bơi, nếu ai có thể vớt túi vàng này lên đây. Tôi hứa sẽ tặng cho người đó hai mươi thỏi vàng”.
Người thiếu phụ mừng rỡ, nghĩ thầm trong lòng rằng: “Chính là vì người ta đã lấy trộm mất con dê rừng và lừa của mình, nên ông trời mới ban hạnh phúc cho mình”.
Thế là, bà liền cởi bỏ quần áo bên ngoài, lặn xuống nước, nhưng dù cố gắng đến mấy bà cũng tìm không thấy túi vàng kia đâu.
Khi bà từ dưới nước bò lên bờ, thì phát hiện quần áo không thấy đâu nữa.
Thì ra tên trộm thứ ba đã lấy trộm quần áo của bà đi mất.

Đây chính là ba cạm bẫy lớn của đời người: sơ suất, cả tin và tham lam.

Sưu tầm.

Chủ Nhật, 20 tháng 9, 2015

ĐỐI TRƯỚC MỘT CẢNH THẤY ĐƯỢC CÁC PHÁP TU.

Cùng một cảnh mà nhìn thấy khác nhau tùy theo pháp tu. Chủ yếu phá vô minh dẹp ái thủ,  đức Phật dạy mỗi trình  độ có lối quán sát khác nhau. Như một hôm Thiền sư Vân Môn thượng đường, đưa cây gậy lên bảo chúng: "Phàm phu gọi nó là thật, Nhị thừa phân tích nó là không, Duyên giác gọi nó là huyễn có, Bồ-tát thì  đương thể tức không, Thiền gia thì thấy cây gậy gọi là cây gậy, đi chỉ đi, ngồi chỉ ngồi, không được động đến."

Phàm phu thấy cây gậy cho là thật nên khởi tâm phân biệt  đẹp xấu, đẹp thì ái (yêu), xấu thì tắng (ghét). Nếu ái thì muốn được về mình, là thủ; có ái có thủ là nhân sanh ra hữu và sanh lão tử của  đời vị lai. Hẳn đây là gốc mầm của sanh già bệnh chết.  Để dứt cái ái thủ này, đức Phật dạy hàng Nhị thừa phải dùng trí quán sát thấy cây gậy là vô thường, ngày nay nó như thế, mai kia nó sẽ cũ, sẽ mục, rồi trở thành không. Biết rõ như vậy thì lòng tham ái cây gậy sẽ dứt.  Đây là dùng trí quán sự vật trôi theo dòng thời gian biến hoại  để dứt ái thủ.

Cũng mục đích phá dẹp ái thủ, đức Phật dạy hàng Duyên giác quán sát cây gậy do nhân duyên sanh. Do đất nước gió lửa chung hợp sanh ra cây gậy, cây gậy đợi duyên hợp mới có, thì cái có này không thật, như huyễn, như hóa. Hàng Duyên giác thấy cây gậy như huyễn hóa thì đâu còn tâm tham ái. Thế là ái thủ dứt, dòng sanh tử cũng dừng ngang đây.

Bồ-tát  đã thấy tột lý nhân duyên không cần quán sát nữa, thấy cây gậy biết rõ
không thật tánh, nên nói  đương thể tức không. Bởi thấy không thật tánh nên Bồ-tát  đâu còn tâm luyến ái cây gậy, do đó dòng sanh tử dứt.

Đến thiền gia thấy cây gậy là cây gậy. Tại sao? Bởi vì người thấu đạt lý thiền, tâm không còn chạy theo cảnh, đối cảnh tâm như như nên nói cây gậy là cây gậy.

Hơn nữa, thấy cây gậy chạy xuôi theo dòng thời gian quán sát từ có biến hoại đến không là khái niệm khuôn theo lối Phật vạch sẵn. Nhìn theo khái niệm định sẵn của mình, chối bỏ sự hiện hữu của cây gậy. Chính khái niệm lệ thuộc theo thời gian khiến hàng Nhị thừa dễ bi quan. Tuy  đó cũng là trí thấy xa, song nó vượt hẳn thực tế.  Đến Duyên giác thấy cây gậy do duyên sanh, tuy có mà không thật, như huyễn hóa.  Đây cũng là lối nhìn theo khuôn cũ lối mòn Phật định sẵn. Khái niệm này nhìn theo sự tập hợp của nhân duyên trong không gian.  Đã tập hợp thì không có chủ, không chủ thì làm sao có thật. Thế cũng
phủ nhận sựhiện hữu của cây gậy. Khái niệm nhân duyên là do huân tập lời Phật dạy, cũng là tướng sanh diệt. Bồ-tát không cần quán sát, vì tâm  đã thuần thục, thấy cây gậy liền biết tức không. Song đây cũng là khuôn đúc đã thành hình, ráp từ những lời Phật dạy. Thiền gia không thế, nhìn cây gậy là cây gậy, không bị khái niệm nào chen vào, không bị khuôn cũ lối mòn nào  định sẵn. Nhìn thẳng sựhiện hữu của cây gậy, bằng tâm như như của mình. Cảnh và tâm, tâm và cảnh, không có gì gián cách. Tâm không khởi niệm, làm
gì có thấy thật, thấy giả; đã không thật giả còn gì tham ái hay chán ghét. Nếu không ái thì đâu có thủ, đây là giải thoát sanh già bệnh chết chớ gì. Chủ yếu của Thiền gia là trực diện đối cảnh, cốt tâm không khởi niệm. Cho nên câu chót bài kệ CưTrần Lạc  Đạo của Trúc Lâm nói "Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền" (Đối cảnh không tâm, chớ hỏi thiền). Quả là định nghĩa thiền một cách cụ thể. Cái cao siêu tuyệt vời của Thiền là trút sạch khái niệm, dù khái niệm đúng như lời Phật dạy, lột hết mọi kiến giải  đã huân tập, nhìn sự vật như sự
vật, không vì một lý do gì mà thêm bớt vào.  Đây là một con người tự do tự tại, không bị kiến thức nào trói buộc. Bởi vậy nên nói "Sanh không thích thiên đường, tử không sợ  địa ngục. Buông tay  đi ngang ngoài tam giới, mặc tình vươn bổng nào buộc ràng" (Thiền sư Đạo Giai).

Trích chương 1, Thiền Tông Việt Nam cuối thế kỷ 20.
HT. Thích Thanh Từ.