Chủ Nhật, 20 tháng 8, 2017

Lậm lý thuyết.

Lậm lý thuyết nghĩa là gì?
Lậm lý thuyết nghĩa là nghe thuyết pháp rất nhiều, đọc kinh sách rất nhiều. Do nghe và đọc nhiều quá thành ra tự kỷ ám thị. Nghĩa là tưởng mình đã thật thấy thật biết đúng như kinh sách hay y như người thuyết pháp đã nói.
Đó là cái thấy cái biết do Ngã tạo ra. Hay nói chính xác là chỉ hiểu rồi tâm đắc rồi tự cho rằng mình đã thật thấy thật biết như vậy. Vì vậy có thể thao thao bất tuyệt. Thuật ngữ chuyên ngành gọi đây chính là Sở Tri Chướng. Vướng vào Sở Tri mà không biết mình vướng vào Sở Tri. Chỉ thấy sao mình có thể đối đáp trôi chảy, thao thao bất tuyệt, hiểu rất rõ vấn đề mình đang nói.

Dấu hiệu cho thấy mình lậm lý thuyết:
1.    Thích lý luận, đặc biệt là lý luận vòng quanh
2.    Thích tìm hết kiến giải này đến kiến giải nọ để tích trữ cho Sở Tri càng thêm dày.
3.    Không biết chỗ kẹt của mình nên không có sự tập trung tâm vào chỗ kẹt ấy, thay vào đó thích thảo luận về đủ mọi đề tài, rồi tích trữ thêm tri kiến của người vào kho.
4.    Thiếu sự quán sát thân tâm nên toàn là thấy người chứ chẳng thấy mình. Cái 4 liên quan đến cái thứ 3. Vì không biết chỗ kẹt của mình nên đi lan man, vì đi lan man nên chỉ thấy người.

Người thật sự có hành pháp luôn biết rõ chỗ kẹt của mình. Vì biết rõ chỗ kẹt nên tập trung cả thân và tâm vào chỗ kẹt ấy để tìm cách thoát. Càng biết rõ chỗ kẹt thì sự tập trung càng cao. Khi sự tập trung cao thì tất cả mọi thứ/mọi điều thâu nhận qua mắt tai mũi họng đều trở thành đối tượng thiền quán để giúp họ ra khỏi chỗ kẹt ấy. Do đó họ chỉ ghi nhận hay tập trung vào những gì có liên quan đến chỗ kẹt hay còn gọi là có liên hệ đến mục đích. Những cái không liên quan thì cho qua, không quan tâm để tránh bị loạn tâm.


Còn người lậm lý thuyết thì do không biết chỗ kẹt nên tâm phân tán tứ tung, vì vậy toàn đi lan man. Thuật ngữ chuyên ngành gọi là tâm phóng dật.

Làm sao biết mình thật sự đến được một cảnh giới trí tuệ nào đó?

Do căn nghiệp mỗi người không giống nhau nên cách đi của mỗi người cũng không giống nhau. Nghĩa là khi đến được một nơi thì cái thấy về nơi ấy là giống nhau, nhưng mỗi người đi mỗi con đường khác nhau. Chính vì đường đi khác nhau nên khi mô tả về nơi ấy và con đường ấy thì mỗi người tả một kiểu tùy theo thân tâm mà mình đã trải qua. Chính vì sự trải nghiệm thân tâm là khác nhau nên khi mô tả không ai giống ai, dù cùng nói về một điều. Còn khi sự mô tả của mình y chang sự mô tả của thầy hay của kinh sách thì có khi đấy chính là Sở tri mô tả, chứ không phải là thật đâu. Đó là lý do vì sao từ khi có kinh sách thì có vô số thuật ngữ khác nhau cho cùng một điều hay một cảnh giới.
Do đó, khi nào thấy sự mô tả của mình thật đúng với sự trải nghiệm của thân tâm thì ấy còn thật. Vì nó thật đúng nên những từ ngữ của mình khó giống người khác.  Còn khi mình cố dùng từ ngữ hay kiến giải cho giống kinh sách hay của thầy thì ấy là cái giả.
Bởi vậy tác hại của kinh sách là vậy đó. Dễ làm Sở tri thêm dày. 

Thứ Bảy, 19 tháng 8, 2017

Dấu hiệu cho thấy mình còn kẹt trong Nhị Nguyên.

Dấu hiệu dễ thấy nhất mà ai cũng có thể tự quán sát được cho dù là người hay chư thiên. Đó là khi nào mình khởi ý hành dâm là khi ấy mình kẹt trong Nhị Nguyên. Vì kẹt trong Nhị Nguyên nên mới có âm có dương. Vì có âm có dương nên mới cần phải cân bằng âm dương. Vì cần phải cân bằng âm dương nên mới có nhu cầu hành dâm bằng tâm ý hay bằng thể xác.
Khi không kẹt trong Nhị Nguyên thì âm dương chỉ là 1. Khi âm dương chỉ là 1 thì không có nhu cầu cân bằng. Khi không có nhu cầu cân bằng thì không khởi ý hành dâm.
Điều này tương tự như trời đất chỉ là một nhưng do mình chia chẻ nên mới có trời có đất.
Mọi thứ từ đúng sai, phải trái, chánh tà, đen trắng, xấu đẹp, hay dở,….đều chỉ là 1. Nhưng do mình chia chẻ nên mới thành 2.

Phải mất đến mấy ngàn năm thì tôi mới thật sự hiểu được câu hỏi của Ngài Xá Lợi Phất, A La Hán đệ nhất trí tuệ, thời Phật Thích Ca, hỏi vị nữ du sĩ: Thế nào là 1?
Vị nữ du sĩ tinh thông tất cả các giáo pháp trên thế gian, đi đến đâu thì đấu pháp đến đó và đã đấu pháp với Ngài Xá Lợi Phất. Vị nữ du sĩ hỏi gì Ngài cũng đáp được, nhưng Ngài chỉ hỏi một câu thôi: “Thế nào là 1?” Vị này quy y Phật Pháp Tăng ngay lập tức và sau đó trở thành A La Hán đệ nhất trí tuệ của Ni đoàn.
Khi biết câu chuyện này, lúc ấy chỉ tin Ngài Xá Lợi Phất, chứ để thật sự thấy và biết Thế nào là một thì phải đến mãi tận hôm nay. Đúng là một chặng đường dài dễ sợ dài!

Cũng vậy, khi khởi ý tri ân thầy thì đó là lúc mình kẹt trong Nhị Nguyên. Vì mình chia chẻ nên thấy thầy và mình là hai, chứ thật ra trí tuệ của thầy và mình chỉ là 1. Cho nên tri ân là một trong những thước đo của người tu. Nhưng khi khởi ý tri ân thì có nghĩa là mình kẹt trong Nhị Nguyên. Sự tri ân tối thắng nhất là hòa vào trí tuệ của thầy.

Khi đến được chỗ này mới thật sự hiểu câu nói: “Tất cả chúng sanh đều là Phật sẽ thành” là như thế nào. Vì tất cả chúng sanh đều hòa trong trí tuệ của Như Lai nên tất cả đều có nhân chủng Phật là vậy đó.

Quả là vi diệu! Quả là vi diệu quá!  

Vì sao có Hành dâm?

Vì tham ái nên có hành dâm.
Cách hành dâm ở cõi Dục giới là hành dâm thông qua sự đụng chạm thể xác.
Cách hành dâm ở các cõi trời là hành dâm thông qua tâm ý.
Cho nên khi Đại Bồ tát đầu thai vào bụng của hoàng hậu Maya, thì không có nghĩa là hoàng hậu Maya đã hành dâm với vua Tịnh Phạn mà mang thai Đại Bồ tát. Khi một vĩ nhân kiệt xuất chào đời thì không thông qua hành dâm bằng thể xác của cha mẹ là điều bình thường.
(Hồi xưa nghe người ta chém gió chửi Mẹ Đồng Trinh quá trời luôn bởi vì nói Mẹ có con rồi mà sao vẫn Đồng Trinh. Nghe họ chém cũng có lý. Bây giờ mới thấy, họ chém vậy là do họ vô minh. Bởi vì có con mà vẫn đồng trinh là chuyện bình thường.)

Bây giờ quay lại chuyện hành dâm. Hành dâm là do tham ái. Tham ái mà không biết mình tham ái cho nên tìm cách ngụy biện cho việc hành dâm bằng đủ mọi cách.
Ngoài ra, hành dâm còn là do chưa hưởng được hương vị của Pháp hỷ nên mới hành dâm. Vì sao?
Vì hương vị của Pháp hỷ là tối thắng. Bất cứ ai thưởng thức được hương vị này rồi thì hương vị do hành dâm mang lại chẳng khác gì sắc đẹp của con khỉ mà đem so với sắc đẹp của chư thiên vậy đó.
Tóm lại khi nào thực sự hưởng được Pháp hỷ thì chẳng thiết đến hành dâm nữa đâu.
Túm lại, hành dâm là do:
1.    Tham ái
2.    Chưa nếm mùi Pháp hỷ

Không hành dâm thì con người có bị tuyệt tự không?
Không hề.  Nếu không hành dâm thì con người trở nên thuần khiết hơn và thai được mang do tâm ý chứ không do sự xúc chạm thể xác nữa.

Chính hành dâm mới dẫn con người đến sự hủy diệt. Khoa học vừa chứng minh rằng tất cả các nền văn minh cổ đại bị phá hủy và tàn hoại chính là do sự hành dâm vô tội vạ của con người.

Làm sao để biết mình có thật sự kiến tánh hay không?

Người thật sự kiến tánh thì sau khi kiến tánh các tập khí giảm dần theo thời gian. Nếu cho rằng mình đã kiến tánh mà các tập khí chẳng những không giảm mà còn có xu hướng tăng thì đó chính là mình kiến cái Tánh do Nàng Ngã tạo ra rồi.
Mà Ngã thì lúc nào cũng đẹp, ngay cả khi sân cũng đẹp, cho nên cái gì do Ngã tạo cũng rất là đẹp, rất là quyến rũ lòng người.
Nói vầy cho dễ hình dung nha. Cái Tánh do Ngã tạo ra mê ly y như tiếng hát của mỹ nhân ngư ở mũi Hảo Vọng vậy đó. Ai dính vào tiếng hát này rồi thì chỉ có mà phi thẳng thuyền vào, rồi bị đánh chìm, rồi tự mình nạp mạng cho người đẹp.
Bởi vậy lúc nào cũng nhớ kỹ rằng: Người thật sự kiến tánh thì tập khí ngày càng giảm chứ hổng phải ngày càng tăng.

Đó là điểm thứ nhất của kiến tánh. Điểm thứ hai là: Người thật sự kiến tánh thì do đã thấy Tánh rồi, biết chính xác Tánh là gì rồi, hổng có ảo tưởng nữa. Cho nên họ rất sáng suốt và biết luôn nên dùng phương tiện nào để giảm tập khí, khi nào nên dùng phương tiện nào là phù hợp; khi nào cầm lên, khi nào buông xuống, họ biết rất rõ, chứ hổng có mù mờ nữa. Nếu tự cho rằng mình đã kiến tánh mà không biết rõ phương tiện nào nên dùng, dùng như thế nào và khi nào nên bỏ phương tiện ấy thì ấy là mình kiến cái Tánh do Nàng Ngã tạo ra rồi đấy. Vì đó không thật, cho nên rất mờ ảo, chẳng thể rõ ràng là vậy đó.
Phật cao một thước. Ma cao một trượng. Cái Tánh thật thì chỉ có một, ai kiến rồi thì cái thấy giống nhau, không cần phải cãi hay bàn luận làm chi. Còn cái Tánh do Nàng Ngã tạo ra thì mơ mơ hồ hồ, chính vì nó mơ mơ hồ hồ nên mỗi người kiến một kiểu. Chính vì mỗi người kiến một kiểu, cho nên mới phải bàn luận tới lui.
Cái thật thì chỉ có một và giống nhau ở tất cả, còn cái na ná thì là vô số luôn.

Cho nên người thật sự kiến tánh chẳng cần bàn luận dài dòng. Chỉ cần trong vòng một nốt nhạc (thậm chí là chẳng cần nốt nhạc nào) vẫn có thể hiểu nhau là vậy đó.

Thứ Sáu, 18 tháng 8, 2017

BI ÁI

Trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta thường dính phải bi ái mà mình hổng biết, cứ tưởng là mình đang từ bi. Bi ái nghĩa là do Ái nên mới Bi, vì vậy càng Bi thì càng dính là vậy đó.

Làm sao để biết mình dính phải bi ái? Đó là:
1. Khi khởi ý: Thấy thương ghê. Tội nghiệp ghê.
>>> Ý này khởi là do tập khí kiêu mạn. Thường mình chỉ khởi ý này khi thấy người/vật thua kém mình. Nghĩa là mình thấy mình hơn họ thì mới khởi ý như vậy.
2. Khi khởi ý ganh tị. Người thua mình thì mình thương, người hơn mình thì mình ganh tị. Nhưng do mình được học nên biết rằng ganh tị là không tốt. Cho nên khi gặp người hơn mình, ý ganh ghét trỗi lên; nhưng mình tìm cách đè nó xuống bằng cách cố tìm ra điểm nào đó của họ để “Thấy thương ghê. Tội nghiệp ghê.”
3. Khi khởi ý: Vì lòng từ bi nên tôi mới nói/làm/nghĩ,… việc này nha! Khởi ý này là do xuất phát từ Sân. Và để đối trị Sân thì mình khởi ý từ bi.
Cho nên ba dấu hiệu thường thấy khi mình dính bi ái là do tập khí kiêu mạn, ganh tị và sân.

Còn Từ Bi của bậc giác ngộ là Bi với Tâm bất động. Thế nào là bi với tâm bất động?
Bi với Tâm bất động thì Bi khi vắng mặt đi kiêu mạn, ganh tị và sân hận. Khi không có mặt ba đứa này thì từ bi tự hiển lộ. Còn bi mà thấy mình đang bi thì đó là Bi ái.

Bi ái còn thể hiện rất nhiều trong cuộc sống hằng ngày nữa nha!
Ví dụ: Tôi có thói quen, thấy con gì có đuôi là ẳm lên hun chóc chóc rồi nói: “Cưng lắm đó, biết không vậy!” Cái này xuất phát từ tập khí thích sở hữu. Do mình muốn sở hữu nên mình mới nói như vậy.

Khi nghĩ đến đây thì tôi khởi lên sự tri ân tất cả thiện hữu tri thức đã đang trực tiếp và gián tiếp giúp mình đến được chỗ này. Sự tri ân này được khởi lên là do tập khí thích cái gì có lợi cho mình. Vì tôi thấy tôi được lợi cho nên tôi tri ân.

CON RẬN TIẾC CỦA

Như sét từ sắt sinh ...
Câu chuyện này xảy ra khi đức Phật ở tại Kỳ Viên, liên quan đến thầy Tỳ-kheo Tissa.
Ở Xá-vệ, có một chàng trẻ tuổi con nhà quyền quý xuất gia, làm đầy đủ bổn phận, là Thượng tọa Tissa. Lúc thầy còn ở tinh xá trong thành, được cúng dường một tấm vải thô dài tám thước. Sau ngày mãn hạ, thầy về nhà, đưa vải cho chị xem. Chị thầy nghĩ thầm: "Tấm vải này không xứng với em ta". Cô bèn lấy dao bén, rọc vải thành từng mảnh, bỏ vào cối giả đập cho mềm, bỏ những sợi thô, dệt thành tấm vải mới.
Vài hôm sau, thầy Tissa, tìm ra chỉ và kim, rủ thêm vài thầy và vài chú Sa-di biết may y, đến nhà người chị bảo:
- Ðưa em khúc vải, em muốn may y.
Cô lấy khúc vải mịn dài chín mét, đưa cho thầy. Thầy từ chối:
- Vải kia của em là thứ thô xấu, dài tám mét, khúc này đẹp lại dài chín mét, không phải của em. Hãy đưa khúc vải hôm trước ấy.
- Thưa thầy, vải này của thầy đó.
Cô kể lại những việc làm của mình và bảo thầy hãy lấy vải.
Thầy Tissa đem vải về tinh xá, và tìm người may y. Chị thầy sửa soạn cơm canh mang đến cho thợ may, và khi tấm y hoàn thành, trông nó rất đẹp. Thầy Tissa rất thích chiếc y mới, thầy định ngày mai sẽ đắp nó.
Nhưng hôm ấy, thầy bị bội thực và chết, tái sanh làm một con rận trong chiếc y mới của mình. Chị thầy nghe tin, nhào lăn dưới chân các Tỳ-kheo khóc lóc. Các Tỳ-kheo lo tang ma xong, bàn định:
- Không ai hầu cận Tissa khi thầy đau, chiếc y này thuộc Tăng chúng, chúng ta hãy chia phần.
Con rận la hoảng:
- Các thầy tước đoạt tài sản của tôi.
Và nó vừa kêu la vừa bò quanh chiếc y.
Ðức Thế Tôn ngồi trong hương thất, biết việc xảy ra, bèn gọi A-nan:
- Này A-nan, hãy bảo chúng Tăng dời việc chia y bảy ngày.
Tôn giả làm theo lời dạy. Cuối ngày thứ bảy, con rận chết và tái sanh lên cõi trời Ðâu-suất. Ngày thứ tám, đức Phật cho phép chúng Tăng chia y.
Sau khi chia xong, chư Tăng bàn tán:
- Tại sao đức Thế Tôn ra lệnh để chiếc y của Tissa lại bảy hôm, ngày thứ tám mới cho phân chia.
Ðức Phật đến gần các thầy hỏi:
- Các ông tụ họp ở đây bàn tán việc gì?
Và khi các thầy kể lại. Ngài nói:
- Tissa đã tái sanh làm con rận trong y mới của mình. Khi các ông định phân chia y, con rận đã nổi giận. Nó sẽ cự lại các ông, và sẽ đọa địa ngục. Vì lẽ đó Ta bảo để y lại. Hiện nay thì Tissa đã sanh lên cõi trời Ðâu-suất, Ta mới cho phép các ông lấy y đem chia.
Các Tỳ-kheo bạch Phật:
- Bạch Thế Tôn, tham ái thật là một nỗi khổ lớn.
Phật xác nhận:
- Tham ái thật là vấn đề lo lắng lớn của chúng sanh trên quả đất, như gỉ sét phát sanh từ sắt, trở lại ăn mòn sắt, tham ái phát sanh từ chúng sanh và đưa chúng sanh xuống địa ngục.
Phật nói kệ:
(240) Như sét từ sắt sinh,
Sắt sinh lại ăn sắt,
Cũng vậy, quá lợi dưỡng,
Tự nghiệp dẫn cõi ác.


(Tích truyện Pháp Cú
Thiền viện Viên Chiếu
Nguyên tác: "Buddhist Legends", Eugene Watson Burlingame)

Thứ Hai, 14 tháng 8, 2017

Các bước tu để vào pháp Như Là/Đang Là

Bước 1: Hạ bản ngã
Thường thì toàn là nhìn thấy người chứ hổng thấy mình. Vì sao? Vì cái ngã của mình lớn đến nỗi nó trở thành trung tâm để quán xét người khác. Cho nên chiếu đến đâu thì thấy người đến đó. Vì vậy, việc tu ở bước này là tìm mọi cách mọi phương tiện để hạ bản ngã xuống. Khi cái ngã được hạ xuống rồi, cái bóng của nó phải nhỏ thì mới có thể thấy được pháp Nhị Nguyên.

Bước 2: Thấu tỏ Nhị Nguyên
Khi thấu tỏ pháp Nhị Nguyên thì hổng thấy người nữa mà chỉ toàn thấy mình thôi. Bất cứ một phản chiếu nào của tâm về người khác đều có gốc từ cái ngã của mình. Những gì mình thấy toàn là những hạt giống đã được gieo sẳn từ trước đó.
Đến đây thì gọi là chỉ thấy lỗi mình không thấy lỗi người.

Bước 3: Vào pháp Vô Ngã
Sau khi thấu tỏ Nhị Nguyên, nghĩa là thấy được nhân quả trong từng suy nghĩ của mình thì bắt đầu vào pháp Vô Ngã. Đến đây thì cả mình lẫn người đều không thấy, chỉ thấy tập khí đang vận hành. Nghĩa là chẳng lỗi ở người, chẳng lỗi ở mình, lỗi ở tập khí.

Bước 4: Vào pháp Như Là
Đến đây thì ngay cả tập khí cũng chẳng thấy luôn. Nghĩa là chẳng lỗi ở người, chẳng lỗi ở mình, chẳng lỗi ở tập khí. Chỉ thấy mọi thứ cứ Như Là (Bước này thì tôi vừa mới vào thôi nên vẫn chưa thấu lắm, phải có thời gian ứng dụng thì mới có thể thấu được.)

Trong các bước thì bước 1 là kinh khủng nhất, mất thời gian nhiều nhất vì cái bản ngã được tích lũy trong vô số vô số kiếp cho nên nó to đến nỗi chẳng gì có thể to hơn. Vậy mà bây giờ buộc phải làm cho nó nhỏ lại. Đó là “nhiệm vụ bất khả thi.” Cho nên bước này là khổ hạnh nhất, trầy da tróc vảy nhất, và cũng là nguy hiểm nhất (vì có thể bị tử nạn. Nói thật đấy, hổng có nói đùa đâu.) Bị nó lừa vô số lần, vì nó dụ cho mình tưởng rằng nó đã nhỏ rồi chứ thật ra không phải, chỉ là ảo tưởng. Cho nên ở bước này là té lên té xuống vô số lần với nó luôn, và bị nó lừa hết tập này đến tập khác. Trong suốt hành trình này có vô số cảm giác, trong đó đáng sợ nhất là cảm giác cô độc, một mình chống mafia. Rất rất rất cô độc. Một sự cô độc bao trùm, không đầu cũng chẳng cuối, cứ thế mà chụp lấy cả thân tâm. Đến đây thì khả năng bỏ cuộc rất rất cao hoặc thậm chí muốn tự tử luôn đấy. Ai từng trải qua sự cô độc này thì mới thật sự hiểu đó là gì.
Hành giả là tráng sĩ.
Cô độc giữa rừng tâm.
Bóng vô minh bao phủ
Trùm kín cả hư không
Lầm lũi trong bóng đêm
Dày đặc và mịt mờ.
Tuy bước 1 là gian nan nhất nhưng cũng là quan trọng nhất để vào các bước kia.

Chủ Nhật, 13 tháng 8, 2017

CHÉM GIÓ

Mục đích của chém gió là để làm gì?
Mục đích của chém gió là để tăng thêm dũng khí.
Tăng thêm dũng khí để làm gì?
Tăng thêm dũng khí để có đủ can đảm tự chém chính mình.
Việc khó khăn nhất là tự chém chính mình, và để làm điều này thì cần có dũng khí rất rất rất lớn. Do đó mà có chém gió. Chém người này chém người kia, chém đủ kiểu, chém đủ phương tiện. Tất cả những cái này là nhằm giúp cho mình thêm tự tin để tự chém chính mình.
Người dám tự chém chính mình là người rất rất rất can đảm. Khi chưa đủ lòng can đảm và sự dũng cảm thì chúng ta mới phải chém người. Khi lòng can đảm đủ lớn thì chúng ta tự chém mình.
Vì sao để chém mình cần có sự can đảm lớn như vậy?
Bởi vì hành trình tự chém mình là hành trình cô độc nhất, một sự cô độc rất rất rất lớn, không gì có thể sánh nổi. Do đó để có thể dấn thân vào hành trình này, hành giả cần có dũng khí rất rất rất lớn.
Nhưng cuối cùng rồi ai cũng phải trải qua cuộc hành trình này thôi. 

DIỆT DỤC

Dục được nói đến ở đây là Dâm Dục. Đây được xem là nỗi đoạn trường cho người tu ở nhiều trường phái, nhiều tôn giáo khác nhau. Vì vậy mà có vô vàn phương pháp để diệt dục khác nhau ví dụ như:
- Nhốt người tu vào hang động với đầy hình ảnh dâm dục, để cho họ ngó riết quen mắt rồi hết muốn dục luôn.
- Cho họ tiếp xúc với các hình ảnh sexy để xem họ có khởi ý dâm dục hay không. Nếu không thì xem như qua ải. Nếu có thì xem như bị vướng, phải tu tiếp.
- Bắt họ phải lao động khổ sai để thân thể uể oải không còn đủ sức mà ham với muốn nữa.
- Bắt họ phải ăn uống thiếu thốn để cho không ham muốn nỗi.
- Bắt họ phải quán thân thể của đối tượng như là đống xương như là hôi thối như là dơ bẩn để họ không thèm khởi ý dục nữa.
- Bắt họ phải xa lánh tránh tiếp xúc cả trực tiếp lẫn gián tiếp với người khác giới để tránh khởi ý dục.
- Bắt họ phải cách ly với tất cả những thứ có thể gây kích thích.
Vân vân và vân vân.
Tuy nhiên có một phương pháp Diệt Dục triệt để, cực kỳ hiệu quả, rất nhẹ nhàng mà vô cùng hữu hiệu. Đó là pháp Vô Ngã.
Muốn Diệt Dục thì hãy vào pháp Vô Ngã đi nha mọi người! Khi vào pháp Vô Ngã rồi, hổng thấy người hổng thấy ta, chỉ thấy tập khí thôi. Dục cũng là một tập khí. Khi thấy tập khí Dục thì tập khí tự diệt, hổng cần làm gì cả.
Do đó chỉ có vào Vô Ngã mới là Diệt Dục tận gốc. Và cũng chẳng còn chỗ cho tình yêu trai gái nam nữ luôn. Chỉ thấy tập khí thôi, có thấy người nữa đâu mà yêu với đương. Khi tình yêu trai gái nam nữ đoạn diệt thì ấy chính là tình yêu được mở rộng ra khắp vũ trụ mà mọi người hay gọi là Từ Bi đấy. Từ Bi đến từ việc đoạn diệt Ái Dục và tình cảm lứa đôi. Và tình cảm này đoạn diệt khi ở trong Vô Ngã.

Đó mới là Diệt Dục tận gốc đấy mọi người!

Pháp Hỷ

Pháp Hỷ là tối thắng trong mọi Hỷ.
Giờ mới hiểu vì sao môi Phật lúc nào cũng mỉm cười. Cái mỉm cười này hổng phải là cái cười do tác ý mà đó là cái cười tự nhiên của thân. Khi Pháp Hỷ thấm sâu vào từng tế bào từng mạch máu và hằng như vậy thì các cơ các tế bào các mạch máu tự tạo ra nụ cười trên môi, cho nên lúc nào cũng thấy cười là vậy đó. Cái mình thấy ông Phật là bậc giác ngộ lúc nào cũng cười cho nên mình bắt chước lúc nào mình cũng cười giống vậy. Nhưng cái cười của mình là cái cười do mình tác ý, mình cố làm cho giống bậc giác ngộ, cho nên đó là cái cười do bản ngã tạo thành. Còn cái mỉm cười của ông Phật là cái cười Vô Ngã, cái cười do thân sắc tạo thành.
Vì ổng giác ngộ rồi ổng mới cười (hay nói chính xác là thân ổng cười), còn mình muốn giác ngộ cho nên mình cười (hay nói chính xác là ý mình cười). Mình chỉ là bắt chước cái hình tướng của ổng thôi. Cho nên nếu lỡ bắt chước rồi thì nên bắt chước cho trọn luôn. Cái cười phải xuất phát từ thân chứ không phải vì ý mình muốn cười.
Pháp Hỷ là tối thắng trong mọi Hỷ. Cái ông Phật ổng thấy mình mê Dục Hỷ quá, cho nên ổng lấy Pháp Hỷ ra làm mồi câu ổng dụ mình. Tại mình tham ăn cho nên thấy Hỷ là đớp. Đớp xong cái mình thấy sao cái Hỷ này nó ngon nó ngọt hơn cái Hỷ kia. Cái mình tham ăn quá nên mình tự nguyện đớp tiếp, mà để đớp thì mình phải đi dần dần về phía ông Phật, cái mình đi ra khỏi nhà lửa hồi nào hổng hay luôn.
Túm lại, ông Phật là bậc thầy về câu cá. Lấy mồi dụ cho cá đớp. Cá đớp xong còn tri ân cảm ơn ổng rối rít. Còn người chưa được đớp thì cầu niệm tên ổng suốt để ổng thả mồi cho mình đớp theo kiểu: Ông câu ai cũng vậy, ông câu giùm con, con cảm ơn.
Có ai đi câu cá mà được cá cảm ơn tri ân, còn cầu niệm cho được câu không vậy?

Không, chỉ có mình ông Phật mới làm được thôi, cho nên ổng đúng là đệ nhất câu cá.

Cái việc ngộ pháp nó lạ lắm nha mọi người!

Chỉ ai trải qua cái ngộ ấy mới có thể đồng cảm được với nhau! Khi đã đồng cảm rồi thì có khi chẳng cần nói chỉ cần một cử chỉ nhỏ thì đã có thể thấu hiểu rồi.
Cái này nó giống như người đau đẻ vậy đó. Chỉ có ai đau đẻ rồi thì mới thật sự đồng cảm được với nhau. Vì sao lại như vậy? Vì cho dù các nhà khoa học có dùng các dụng cụ thiết bị kỹ thuật tối tân đến mức nào để cố đo đạc cường độ đau rồi cố hết sức tạo ra những cơn đau y chang như vậy. Nhưng cũng không thể nào giống được. Vì sao? Vì cảm xúc thì không thể giả tạo được. Người đau đẻ thì ngoài cơn đau còn có thêm cảm xúc về đứa con cho nên dù có tạo ra cường độ cơn đau giống y chang nhưng cảm xúc thì không thể giả được. Cho nên chỉ có ai thật sự đau đẻ rồi mới có thể đồng cảm nhau là vậy đó.
Có người bảo còn cảm thọ vui mừng thì vẫn chưa được. Cảm thọ vui mừng là cảm thọ của thân. Phật Thích Ca sau khi giác ngộ trở thành Phật toàn giác, sự vui mừng lớn đến nỗi Phật trải qua 7 ngày đêm ngồi nhìn chăm chăm vào cây bồ đề. Sau đó di chuyển sang những địa điểm gần cây bồ đề và mỗi nơi đều ngồi tĩnh tọa 7 ngày để “tự sướng.”

Cho nên tự sướng là việc bình thường. Nhưng Pháp hỷ khác với Dục hỷ. Không có Dục hỷ nào có thể tối thắng hơn Pháp hỷ. Cho nên chỉ có ai thực sự trải nghiệm Pháp hỷ rồi mới hiểu đó là gì.

Ứng dụng pháp Vô Ngã vào cuộc sống

Vào pháp Vô Ngã không có nghĩa là không làm gì cả, mà vẫn làm việc bình thường như mọi người, nhưng cái khác biệt giữa người vào pháp Vô Ngã và người chưa vào pháp Vô Ngã là khi dùng Vô Ngã để nhìn thì thấy gì cũng là cái thấy thật, khi dùng Vô ngã để nghe thì nghe gì cũng là nghe thật. Chính vì thấy thật và nghe thật cho nên làm gì cũng hiệu quả hơn người bình thường. Người thường thấy và nghe qua vọng tưởng, mà vọng tưởng thì lúc thế này lúc thế nọ, còn dùng pháp Vô Ngã thì do thấy thật và nghe thật cho nên giải quyết công việc vừa nhanh vừa gọn vừa thấu đáo, không có sai sót, vì vậy mà làm việc cực kỳ hiệu quả, có thể làm gấp 4-5 lần người bình thường (thậm chí gấp hơn nhiều lần) mà vẫn thong thả, ung dung, hổng có chạy xấc bấc xan bang.
Hèn chi mà ông thiền sư U Ba Khin (là thầy của ông thiền sư Goenka) vừa làm thiền sư (nghĩa là vừa hướng dẫn thiền cho thiền sinh tại nhà) vừa làm Bộ trưởng của 4 bộ, nghĩa là làm công việc của 4 bộ trưởng cùng lúc. Vậy mà mọi việc vẫn trơn tru như thường, thậm chí còn trơn tru hơn so với 4 người 4 chức nữa chứ. Đến tận hôm nay mới thật sự thấu hiểu được cảm xúc ấy. Làm xong công việc của mấy người cùng lúc mà vẫn thấy như chưa làm gì cả.

Cho nên cách duy nhất để có thể làm công việc hàng ngày hiệu quả nhất là hãy vào pháp Vô Ngã đi nha mọi người! Đúng là Vô Ngã muôn năm!

Đừng ngại kể ra trải nghiệm của mình!

Thỉnh thoảng có nghe một số vị nói sợ kể trải nghiệm sẽ bị cười, bị nói này nói nọ, cho nên im luôn. Nếu mình im luôn thì mình sẽ đứng hoài ở chỗ đó. Nếu mình kể ra thì sẽ có vô vàn thái độ khác nhau đối với trải nghiệm ấy. Những thái độ đó chỉ có hai hướng hoặc là cùng hướng hoặc là ngược hướng. Cái nào cùng hướng thì mình suy tư rồi từ đó đi tiếp. Cái nào ngược hướng (đó là một dạng phản biện) thì mình xem xét. Cái gì cũng phải được nhìn dưới nhiều góc độ thì mới có thể bao quát được. Nếu chỉ một mình mình nhìn thì có khi lại là chủ quan mà mình hổng biết. Cho nên để vào được đạo cần có dũng khí là vậy đó. Nếu không đủ dũng khí đối diện với những phản biện của người khác thì mình sẽ không bao giờ có đủ dũng khí để đối diện với chính mình. Đối diện với chính mình là việc làm khó nhất, nhưng nếu không làm được thì mình không thể nào hưởng hương vị pháp. Cái gì càng khó thì quả của nó càng ngọt, hương vị của nó càng thơm ngát. Cho nên dũng cảm nói ra mọi trải nghiệm của mình để cho người phản biện là bước khởi đầu cho việc dám đương đầu với chính mình. 
Bởi vậy mọi người cứ việc kể ra đi, thuật ngữ chuyên ngành cho việc làm này là TRÌNH PHÁP. Thiện tri thức ở khắp nơi hà, quan trọng là mình có chịu mở mắt ra để tiếp nhận sự khai thị của họ hay không mà thôi.
Tâm chân thật là con đường duy nhất để thể nhập Đạo. Dân gian có câu “Thật thà là cha quỷ quái” là vậy đó.


Ngoài ra, có một tập khí là khi thấy ai nói trái ý mình thì mình có xu hướng né luôn. Việc này có thể có tác dụng trong một giai đoạn quán nào đó, khi mình cần có sự nhất tâm, không muốn bị ảnh hưởng bởi những tư duy trái chiều. Nhưng khi qua xong giai đoạn này thì sẽ đến giai đoạn cần tư duy trái chiều để phản biện. Khi đến được đây thì chính những tư duy trái chiều lại là Đại Thiện Tri Thức đó nha. Nhờ những cái này mà mình đi rất nhanh. Vậy mà mình vô tình đuổi hết đại thiện tri thức đi để rước Ma vương vào làm bạn. Sau một thời gian thấy mình sao cứ mãi dậm chân tại chỗ mà hổng biết lý do luôn. Tu hành có bạn. Nghĩa là tu hành cần có đại thiện tri thức phản biện thì mới không đi chệch hướng. Ngay cả Phật Thích Ca còn tuyên bố Đề Bà Đạt Đa là đại thiện tri thức của mình mừ. Cho nên khi tu đến giai đoạn nào đó thì đại thiện tri thức mới chính là người nói không giống ý mình, còn người nói giống ý mình có khi lại là Ma Vương mà mình hổng biết hì hì hì. 
Bởi vậy nếu việc tu hành dễ thì làm gì có khái niệm “Lội ngược dòng.”

Thứ Sáu, 11 tháng 8, 2017

Con vật cũng là đại bồ tát đó nha mọi người!

Chuyện là thế này: Có thời gian tự nhiên tôi có số mát tay nuôi mèo hoang. Cứ đứa nào chửa hoang thì chạy đến chỗ tôi méo mèo meo kể lể tâm sự, vậy cái tôi nuôi tới chừng nó đẻ em luôn. Tiếng lành đồn xa hay sao ấy mà tụi nó bầu hoang rồi chạy tới méo mèo meo. Kệ, toàn là con gái cưng không hà! Nhờ trực tiếp chăm sóc và nói chuyện với bọn nó mà tôi được bọn nó dạy cho nhiều điều lắm đó. Ví dụ:
Tụi nó dạy tôi nói tiếng mèo, cho nên tôi biết thêm 1 ngoại ngữ mèo nè! hihihi
Tụi nó dạy tôi về cái chết. Một số mèo con chết vì bị giảm bạch cầu (đây là bệnh nan y của loài mèo) cho nên chết trên tay tôi luôn. Mèo chết y như con người, thở hắt ra hơi cuối cùng thật mạnh, cứ thế mà đi luôn. Bởi vậy tôi học được rằng: Thở vào mà không thở ra thì đi là cái chắc.
Có lần tôi ngồi trên võng đung đưa ngắm cảnh hoàng hôn, cái một cô mèo ngồi kế bên tôi, nhìn về hướng tôi nhìn, im lặng y như ngắm cảnh vậy đó. Tôi mắc cười quá nên khởi ý: “Con cũng biết ngắm hoàng hôn nữa sao con gái cưng?” Vừa mới khởi ý chưa kịp thốt ra lời để ghẹo con mèo thì đột nhiên toàn cảnh trước mặt tôi biến mất, toàn thể tan biến vào hư không và trước mắt tôi chỉ là khoảng hư không sáng rực mênh mông không ranh giới, tất cả mọi thứ đều biến mất ngoại trừ cái hư không sáng rực này. Việc xảy ra chưa đến 1 giây. Tôi bàng hoàng nhận ra rằng hóa cái thấy của mình và của con mèo là y chang nhau nhưng do nghiệp người nên mình nhìn ra cảnh hoàng hôn, còn con mèo thì do nghiệp mèo nên nó nhìn ra cảnh gì đó, nhưng cái thấy thì cũng chỉ có một. Tôi vui mừng vô cùng và bàng hoàng nhìn sang con mèo, một đại bồ tát vừa trợ duyên cho mình. Còn con mèo nó vẫn ung dung ngồi ngắm cảnh như thể chẳng có chuyện xảy ra vậy đó. Lúc đó thật sự tôi rất muốn quỳ xuống lạy tạ ơn nó luôn đó. Lần đó tưởng mình kiến tánh rồi chớ. Nhưng hóa ra vẫn không phải.
Cái có một lần khác, tôi thủng tha thủng thỉnh ra vườn, vừa đi vừa chánh niệm, đi thì biết mình đang đi, bước bước nào thì biết biết đó, cái nghe tiếng con chim hót, tôi vừa ngẩng đầu lên nhìn thì tự dưng cảnh vật lại rõ ràng hơn, tươi sáng hơn, đẹp đẽ hơn, rực rỡ, lộng lẫy hơn, và mọi thứ y chang như được tả trong Kinh A Di Đà vậy đó. Bàng hoàng ghê luôn! Hóa ra cảnh A Di Đà là có thật.
Từ đó tôi ngộ ra rằng chánh niệm có 2 mức: mức 1 là đi thấy mình đi, ăn thấy mình ăn, nói thấy mình nói, nghĩa là làm thì biết mình đang làm gì, nghĩ thì biết mình đang nghĩ gì, nói thì biết mình đang nói gì, nhưng cái này chỉ mới ở mức thô thôi. Chánh niệm mức 2 thì tương đương cảnh giới A Di Đà. Tưởng vậy là ngộ xong rồi. Vậy mà vừa đến giữa vườn cái thấy con mèo ngồi rình con rắn nước. Vậy là vào được chánh niệm mức 3. Đó là dù mắt chăm chú nhìn vào một vật nhưng không gì thoát khỏi cái thấy, dù chỉ nghe một âm thanh nhưng không âm thanh nào có thể lọt khỏi cái nghe. Do mình chỉ chăm chăm vào một cái nên mình nghĩ mình chỉ có thể thấy một cái chứ thật ra mình có thể thấy bao quát toàn cảnh luôn đó. Lúc đó cũng tưởng là đã kiến tánh rồi chớ, nhưng thật ra cũng chưa phải.
Khi phát hiện ra 3 mức độ của chánh niệm tự nhiên thấy vui không thể tả (cộng thêm lúc đó tưởng kiến tánh nữa chớ), niềm vui cứ len lỏi vào từng thớ thịt. Vậy mà niềm vui vẫn chưa dừng ở đây. Tối ấy một cách vô tình đột nhiên nghe được một bài thuyết pháp của sư Viên Minh, một bài pháp nói về 3 mức độ chánh niệm này. Dĩ nhiên là sư Viên Minh dùng ngôn ngữ khác để diễn đạt nhưng ý thì hoàn toàn y như vậy. Vậy là niềm vui tăng lên gấp bội, bóp nghẹt cả tim luôn. Không ngờ cái thấy của mình lại có người đồng cảm đến như vậy. Nghe đến đâu thì ngộ đến nấy bởi vì y chang cái mình đã trải nghiệm. Vui thiệt là vui!!!
Bởi vậy đối với tôi mèo là đại bồ tát là như vậy đó mọi người!
Ngoài đại bồ tát mèo, tôi còn có các đại bồ tát khác trong vai các con vật khác nhau như gà, vịt, ngỗng, khỉ, sóc, kiến,….. Bởi vậy mới nói là thiện tri thức ở khắp nơi, trong đủ thứ hình dạng, đóng đủ mọi vai trò sẳn sàng trợ duyên cho mình hưởng được hương vị pháp.

Đâu đâu cũng là thiện tri thức, đâu đâu cũng là bồ tát. Quan trọng là mình có chịu nhìn ra họ hay không mà thôi!

Thứ Năm, 10 tháng 8, 2017

Kể tiếp chuyện người điên nghe nha mọi người!

Làm việc ở trại tâm thần rất dễ bị đánh, có thể bị đánh bất cứ lúc nào, bất cứ nơi đâu. Ai đánh. Người điên họ đánh mình đó. Mà khi họ lên cơn, họ cực khỏe, họ đánh rất rất rất đau. Tôi số đỏ, nên chưa bao giờ bị họ đánh, nhưng những người khác thì bị rồi. Có vị đang lui cui quét dọn phòng của người điên. Họ ăn sáng xong rồi, mỗi người ôm một góc ngồi ngó. Cô này đang lui cui quét dọn như thường lệ, hổng để ý đến xung quanh. Cái một người điên theo dõi cô ấy, rồi nhích từ từ về phía cô ấy. Cô ấy thấy nhưng hổng để ý. Rồi từ phía sau lưng đột nhiên lao tới tát một phát vào mặt cô ấy tóe lửa, 5 ngón tay còn in trên gò má rướm máu. Đau quá trời đau, cô ấy khóc rống lên, chạy đi tìm người phụ trách bù lu bù loa: “Con hổng làm ở chỗ này nữa đâu, đau quá trời đau.” Rồi vị phụ trách phải chuyển cô ấy qua trại người neo đơn cho cổ bình tâm lại.
Còn một vị khác vừa mua xong cặp kính viễn thị như ý, hôm ấy vào phòng y tế phát thuốc cho người điên, đây là công việc làm hàng ngày, mỗi ngày 2 lần sáng và chiều. Cái có một anh điên bị lên cơn, nên vị này ép anh ta uống cho xuống cơn. Anh ta càng lên cơn, giang tay tát một phát như trời giáng làm cặp mắt kính mới mua cái gọng văng đằng này, hai cái tròng mỗi cái văng một góc. Rồi xong đời luôn cặp kính! Vị này sau đó kể lại rằng ngay khi bị tát thấy toàn là đom đóm trước mặt, lần đầu tiên trong đời bị một cái tát mạnh như vậy, từ đó hiểu luôn thế nào cái tát như trời giáng.
Nhưng nhờ người điên mà chúng tôi học được bài học này. Đó là sau khi mình làm gì đó cho người khác, họ hổng oánh mình đã là may mắn lắm rồi, đừng mong chờ thêm gì nữa.
Tuy người điên dễ lên cơn nhưng trái tim họ trong veo hà mọi người! Tôi là một trong những người may mắn được đặc cách ngủ lại trại người điên, nhưng hổng có ngủ chung phòng họ. Có lần tôi ngủ trong phòng ăn tập thể. Tôi trải chiếu rồi giăng mùng ngủ. Phòng ăn là nơi mà bất cứ ai cũng có thể ra vào. Nhưng khu vực người điên ngủ thường tối có khóa cửa để họ khỏi ra ngoài. Tối đó vị phụ trách quên khóa cửa. Tôi đang ngủ, hôm đó hơi bị cảm nên không có mở quạt trần dù trời hơi nóng nực. Cái khoảng 12h giờ đêm, tôi nghe có tiếng lục đục đẩy cửa vào phòng ăn, rồi bóng một người lẻn thật nhanh vào, tiến về phía tôi. Mọi người biết người này làm gì không. Người này đi về phía công tắc, mở quạt lên cho tôi, rồi lại nhanh chân chạy mất trước khi tôi nhận diện ra đó là ai. Sáng, tôi báo cáo lại cho vị phụ trách, vị ấy mới sực nhớ là tối qua mình quên khóa cửa.
Còn một chuyện khác là do tôi ở lại 24/24 ăn ở ngủ làm việc tại phòng ăn (vì đây là phòng lớn nhất của trại), cái mấy cô tâm thần rất chăm lo cho việc ăn uống của tôi, họ hay giấu thức ăn để phần cho tôi, hoặc họ chôm thức ăn từ mấy vị phát thức ăn, canh người ta sơ ý là chỉa nải chuối rồi giấu vào giỏ của tôi, sau đó khều khều tôi bảo tôi ăn đi cho khỏi đói. Dễ cưng chưa!
Còn nữa nha, thường bữa trưa, nhân viên và tình nguyện viên ăn lúc 1-2h trưa, còn người tâm thần ăn lúc 11h 30 sáng. Nghĩa là họ ăn xong rồi thì chúng tôi mới được ăn. Cái người điên họ hổng thấy tôi ăn giống họ, họ sợ tôi bị đói, họ chạy tới chạy lui bảo tôi lấy thức ăn ăn đi, họ còn bắt người phát thức ăn phải để dành thức ăn cho tôi nữa. Cái tôi phải giải thích rằng tôi ăn sau họ. Sau khi ăn họ phải đi ngủ nhưng họ hổng ngủ chờ xem tận mắt cảnh tôi ăn trưa xong rồi mới ngủ. Cưng chưa! Do tôi ở chung họ 24/24 cho nên được họ đặc cách quan tâm vậy đó hê hê hê.
Cho nên ở trại tâm thần dù nguy cơ bị đánh và thỉnh thoàng bị hăm giết rất cao nhưng vẫn vui lắm, cái gì nó cũng trong veo hết á. Hổng có vụ nói một đằng làm một nẻo hay nghĩ cái này lại nói cái khác. Người điên họ thích là họ biểu lộ thích, hổng thích thì họ cũng biểu lộ luôn, mạnh nhất là oánh hoặc rượt chạy vòng vòng thôi hà.

Thứ Tư, 9 tháng 8, 2017

Người điên cũng là đại bồ tát đấy mọi người!

Có thời gian tôi làm tình nguyện viên ở nhà Mẹ Teresa. Nơi này tựu trung người điên, người già neo đơn, trẻ mồ côi, người khuyết tật. Tóm lại là đủ mọi thành phần mà xã hội và ngay cả gia đình họ từng chối bỏ, muốn vứt họ ra đường cho rảnh mắt, hoặc tệ hơn nữa là chẳng có người thân để mà vứt vì họ đến từ thùng rác.
Vậy mà không ngờ họ dạy cho tôi vô số điều mà người bình thường không dạy được. Một trong những điều ấy là: Thân thể tự vận hành mà không cần ý muốn của mình.
Ví dụ: Khi mình muốn ăn thì mình đi lấy thức ăn mình ăn, rồi mình khởi ý nhai, rồi khởi ý nuốt. Vì hành động này cứ lặp đi lặp lại cho nên làm cho mình lầm tưởng rằng nếu mình không khởi ý muốn thì cơ thể chẳng thể vận hành. Cái mỗi ngày tôi được giao nhiệm vụ đút cơm cho ngưởi tâm thần ăn, trong đó có một đại bồ tát. Vị bồ tát này là thanh niên thân thể to lớn tráng kiện, tay bị khèo nên chẳng thể dùng, răng thì đầy đủ nhưng do miệng chẳng bao giờ khép lại, cứ hả ra miết thì lấy gì mà nhai cơm, cho nên cơm đút cho vị này phải được xay nhiễn hoặc nghiền nhiễn rồi đút. Vậy mà đút vào miệng thì thức ăn tự trôi xuống. Chỉ cần có người giúp để thức ăn vào mồm thôi thì cơ thể tự thực hiện chức năng của nó. Tôi kinh ngạc dễ sợ luôn. Sau đó, tôi bắt chước thử. Tôi lấy một miếng bánh mì trắng ngậm vào miệng, cứ để vậy và không nhai. Nước miếng tự thấm vào bánh mì làm cho bánh mềm nhũn thành nước, khi thành nước rồi thì cổ họng tự nuốt. Tóm lại là chỉ ngậm bánh mì vào miệng rồi không làm gì cả, chỉ quán sát cơ thể tự vận hành thôi. Đúng là không ngờ luôn!
Nhờ học được bài học đắt giá từ vị đại bồ tát trong vai người tâm thần bị khuyết tật mà sau này tôi có thể vượt qua 1 giờ ngồi thiền im lìm như pho tượng không được đổi tư thế tại trung tâm thiền Goenka. Tôi vận dụng lý “Cơ thể tự vận hành” nghĩa là không cần mình tác ý khởi ý gì cả, cơ thể tự thân vận động, cơ thể biết tự chăm sóc nó. Lúc đầu ngồi khi cơn đau lên đến đỉnh điểm, tưởng như không chịu nổi, cái tôi nói rằng: “Ủa cơ thể, mày tự sống độc lập được mừ, mày tự vận hành mừ, mày đâu có cần tao đâu mà sao bây giờ mày nhiều chuyện quá vậy. Mày đau thì kệ mày nha, mày có gãy xương thì cũng kệ mày nha, hổng có liên quan đến tao.” Ha ha ha. Trời, vậy mà cơ thể nó cũng tự biết thân biết phận thấy ghê luôn. Khi thấy mình bỏ nó rồi, hổng có thèm để ý nó nữa, cái nó hổng thèm đau nữa, vậy là cơn đau từ từ giảm. Khi nó giảm, cái mình ngạc nhiên, mình tự hỏi: “Ủa sao mày giảm vậy, hổng đau nữa sao cưng!” Cái nó ghét nó đau trở lại. Hehehe. Vui ghê!
Đấy mọi người thấy chưa, cơ thể có thể tự vận hành độc lập, biết tự chăm sóc nó, hổng cần mình đâu. Cái này khoa học chứng minh luôn rồi nè! Cơ thể có chức năng tự chữa bệnh.

Lưu ý: Hôm nào mọi người thử ngậm thức ăn vào miệng và không nhai không nuốt để cho cơ thể tự vận hành thử xem sao! Tôi phải mất vài chục phút với một miếng bánh mì nhỏ đó. Nhưng ăn kiểu này rất lâu đói trở lại và đỡ tốn thức ăn lắm đó. Nghĩa là ăn ít mà no lâu.

NGŨ UẨN

Ngũ uẩn gồm sắc, thọ, tưởng, hành, thức.
Sắc khác với sắc uẩn. Thọ khác với thọ uẩn. Tưởng khác với tưởng uẩn. Hành khác với hành uẩn. Thức khác với thức uẩn.
Niệm thứ nhất liên quan đến Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức.
Niệm thứ hai liên quan đến Sắc Uẩn, Thọ Uẩn, Tưởng Uẩn, Hành Uẩn, Thức Uẩn.
Sắc Thọ Tưởng Hành Thức tự hoạt động, không liên quan gì đến bản ngã cả. Nhưng do bản chất của bản ngã là nhiều chuyện, thích xen vào hoạt động của Sắc Thọ Tưởng Hành Thức thành ra mới thành Sắc Uẩn, Thọ Uẩn, Tưởng Uẩn, Hành Uẩn, Thức Uẩn, luân hồi từ ấy mà sanh ra.
Mắt thấy sắc, đó là việc của mắt.
Thân thấy vui buồn giận hờn, đó là việc của thân.
Tưởng Thức là việc của não bộ.
Hành là việc của hành.
Tất cả đều hoạt động dưới sự tác ý của Tánh Giác. Vì vậy mà bình đẳng như nhau. Khi gặp nguy hiểm thì cảm thọ sợ nỗi dậy, khi được an toàn thì cảm thọ thoải mái, vui mừng nỗi dậy. Ai cũng như ai, vì đây là bình đẳng tánh.
Tất cả mọi thứ tự vận hành, không cần có sự xen vào của bản ngã. Không mợ chợ cũng đông.
Nhưng bản ngã thích chen vào, không bao giờ muốn ở riêng. Cho nên, Mắt thấy sắc, đó là việc của mắt. Nhưng bản ngã thích vơ vào mình nên cho rằng mắt là của mình.
Thân thấy vui buồn giận hờn, đó là việc của thân. Nhưng bản ngã thích vơ vào mình nên cho rằng thân là của mình, vì thân là của mình, nên cảm thọ cũng là của mình.
Tưởng Thức là việc của não bộ. Nhưng bản ngã thích vơ vào mình nên cho rằng tưởng thức là việc của mình.
Hành là việc của hành. Nhưng bản ngã lại vơ vào cho đó là của mình.
Sắc Thọ Tưởng Hành Thức hoạt động độc lập không liên quan tới bản ngã.
Cuối cùng, Tòa tuyên án như sau:
Luân hồi sanh tử là do sự nhiều chuyện (của bản ngã) chứ chẳng liên quan gì đến Sắc Thọ Tưởng Hành Thức cả. Để chấm dứt luân hồi sanh tử thì sắc thọ tưởng hành thức cần ly dị bản ngã, không có con chung (Uẩn).
Kết luận: Hai đứa nó ly dị nhau, vậy là xong chuyện! Đơn giản quá, khỏe re!
Bài tiếp theo: Người điên cũng là đại bồ tát đấy mọi người!

Sự tri ân

Tri ân ở đây là sự tri ân thật sự, chứ không phải là sự tri ân ở nơi lời nói hay ý nghĩ. Khi sự tri ân thật sự đến thì toàn thân chúng ta sẽ bị rúng động, khiến chúng ta có thể rơi vào trạng thái bất động trong vài giây. Sự tri ân thấm đẫm toàn bộ cơ thể, mỗi tế bào đều rung lên vì lòng tri ân ấy. Đấy mới gọi là tri ân.
Sự tri ân thật sự chỉ có ở người chân thật cầu đạo giải thoát. Khi họ thật sự tri ân nghĩa là họ đã từ bỏ bản ngã, sẳn sàng quy phục, sẳn sàng học hỏi, sẳn sàng tiếp nhận mưa pháp từ người mà họ tri ân. Khi ấy thì mọi lời nói, mọi lời thuyết pháp, mọi lời khai thị của người ấy sẽ có tác động sâu sắc đến với họ. Do vậy mà họ có thể tiếp thu, có thể tinh tấn, và quyết liệt dụng công để không phụ lòng người mà họ tri ân. Nhờ vậy mà họ có thể tiến rất xa trên con đường họ đi.
Đấy cũng là lời Đức Phật dạy các tỳ kheo. Lòng tri ân lớn nhất mà các thầy tỳ kheo có thể dành cho Như Lai, đó là dụng công tu hành để tự mình hưởng hương vị Pháp. Không có sự tri ân nào lớn hơn điều này.
Nghĩa là lòng tri ân lớn nhất là trở thành tri kỷ của Như Lai. Trở thành tri kỷ của Như Lai nghĩa là phải hiểu Như Lai. Hiểu Như Lai nghĩa là phải vào được cảnh giới Như Lai. Do đó chỉ có vào được cảnh giới của thầy mới là lòng tri ân lớn nhất mà một người học trò có thể trao tặng cho thầy mình.

Thứ Ba, 8 tháng 8, 2017

Nguồn gốc của khởi niệm

Bài trước: Các bước vào pháp Vô Ngã
Bài trước: Khởi niệm

Mỗi ngày mình khởi lên biết bao nhiêu là niệm. Tất cả các niệm này được khởi lên từ hai gốc. Thứ nhất là niệm khởi từ Vô Ngã gọi là niệm ban đầu. Thứ hai là niệm khởi lên từ Bản Ngã gọi là niệm thứ hai.

Khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần thì niệm khởi lên là điều tự nhiên. Niệm khởi lên từ Vô Ngã. Ngôn ngữ dân gian gọi niệm này là Trực giác hay linh tính/linh cảm. Nếu mình luôn hành động theo niệm này thì không hề có ác khẩu hay hành động bất thiện. Tất cả những gì xuất ra đều là thiện, và mình luôn nói năng cư xử hành động theo Bát Chánh Đạo, các giới tự giữ, không có sự khởi ý giữ giới.

Nhưng do tập khí nên mình không nhận ra được niệm ban đầu huống chi là hành động theo nó. Thường mình ăn nói hành động cư xử theo niệm thứ hai, gọi là niệm khởi lên từ Hữu Ngã. Tại vì mình làm theo niệm này cho nên mới xảy ra chuyện xấu này chuyện xấu nọ. Và để dung hòa lại những cái xấu ấy thì mình khởi niệm thứ hai tiếp theo là cố ép mình sống theo Bát Chánh Đạo hay cố ép mình giữ giới để dung hòa lại cái xấu cái ác đã xảy ra. Cho nên tất cả những giới này đều được gọi là điều học, vì là cái từ bên ngoài vào. Còn giới tự giữ do mình hành động theo niệm ban đầu thì gọi là giới thể, hay giới tự tánh, bởi giới tự giữ chứ không hề có sự xen vào của hữu ngã.

Vào được pháp Vô Ngã không có nghĩa là bản ngã hoàn toàn bị triệt tiêu. Mà Vô Ngã chính là phương tiện giúp mình thấy rõ đâu là niệm ban đầu, đâu là niệm thứ hai. Khi mình nói năng cư xử hành động thì biết mình đang nói năng cư xử hành động theo niệm thứ nhất hay theo niệm thứ hai. Đó là chức năng của Vô Ngã, chứ chức năng của Vô Ngã không phải là để triệt tiêu bản ngã. 

KHỞI NIỆM

Bài trước: Các bước vào pháp Vô Ngã

Khi bị gai đâm vào chân thì khởi lên cảm thọ đau. Khi bị mắng chửi chỉ trích thì khởi lên cảm thọ buồn. Cảm thọ đau cảm thọ buồn là bình thường mà mọi người. Hễ có thân thì có cảm thọ. Có bộ não thì có tư duy, có tưởng. Cho nên thọ và tưởng thì liên quan đến thân. Vậy khi đối cảnh thì khởi niệm là dĩ nhiên rồi. Có xác thân và não bộ thì có thọ có tưởng, có thọ có tưởng thì có niệm. Điều này là tự nhiên. Cố ép cho không khởi niệm mới là việc làm trái tự nhiên.

Khi mắt tôi nhìn thấy một con vật đang nằm ngủ thì tôi khởi lên niệm muốn vuốt ve con vật ấy. Việc khởi niệm này là bình thường. Khi mắt tiếp xúc với con vật thì tánh giác báo động cho biết con vật là an toàn, khi ấy toàn thân rung lên sự thoải mái, sự thoải mái được truyền về não bộ; từ não bộ khởi lên ý nghĩ muốn vuốt ve con vật. Khi ấy thì dẫn đến hành động là đến gần và vuốt ve. Niệm được khởi đến đây được gọi là niệm thứ nhất hay niệm ban đầu. Niệm này khởi từ tự tánh, do tự tánh báo động về độ an toàn thì mới khởi niệm vuốt ve. Hay còn gọi là niệm khởi từ Vô Ngã.

Khi vuốt ve con vật xong rồi thôi, thì gọi là dừng ở niệm thứ nhất. Nhưng vuốt ve xong lại khởi lên niệm tiếp theo. Niệm này đến từ những kinh nghiệm tích lũy trước đó. Trước đó nếu từng vuốt con vật có bộ lông mượt mà hơn thì so sánh: Lông con này không mượt, không sạch, vuốt nhám tay. Vậy là sanh ra ý Không Thích. Cái này được ghim vào tàng thức. Lần sau nhìn thấy con vật thì niệm 1 lại khởi lên nhưng tàng thức sống dậy ngăn không cho tiến đến và vuốt con vật. Cho nên niệm thứ hai là niệm hữu ngã. Chính niệm này mới dẫn ta đi luân hồi sanh tử. Còn niệm 1, niệm khởi từ tự tánh là bình thường mà.

Niệm 1 là bình đẳng tánh vì ai ai cũng như nhau, không khác biệt. Niệm 2 là niệm sai biệt tánh vì kinh nghiệm mỗi người đều khác nhau.

Phải chăng đây là lý do mà:

Thiền sư Linh Quang tịch, Hoà thượng Tuyết Phong hỏi đồ chúng:"Hồi Linh Quang còn tại thế, dạy bảo người học thế nào?"

Chúng đáp :"Ngài chỉ bảo chớ khởi niệm thứ hai "

Bài tiếp theo: Nguồn gốc của khởi niệm

Thứ Hai, 7 tháng 8, 2017

Các bước đi vào pháp Vô Ngã:

Bước 1: Khi có người nói tôi NGU, thì tôi khởi lên ý “Họ đang nói chính họ.” Do khởi ý “Họ đang nói chính họ” mà hạt giống Sân Hận không có cơ hội sanh khởi.
Bước 2: Khi tôi khởi lên ý “Họ đang nói chính họ” thì ý tiếp theo được khởi lên là “Tôi đang nói chính tôi.” Do khởi ý “Tôi đang nói chính tôi” mà hạt giống kiêu mạn không có cơ hội sanh khởi.
Bước 3: Khi tôi khởi lên ý “Tôi đang nói chính tôi” thì tôi không thấy Họ, không thấy Tôi, chỉ thấy NGU đang hiện diện.
Bước 4: Chỉ là rõ biết cái NGU ấy, nó sẽ tan biến hòa vào thể tánh rỗng lặng.
Vì phải phân tích từng bước nên thấy dài dòng chứ thật ra 4 bước này xảy ra rất nhanh; trước khi mình kịp ý thức thì nó đã hoàn thành.

Bài liên quan 1: Khởi niệm
Bài liên quan 2: Nguồn gốc của khởi niệm

Chủ Nhật, 6 tháng 8, 2017

Quán pháp hai chiều

Hôm nay tôi ngộ ra cách quán pháp theo hai chiều luôn đó nha mọi người!
-Khi khởi ý muốn khai thị cho người hay muốn thay đổi người thì ngay tại đó gieo nhân vô minh.
-Khi khởi ý tranh cãi để ra chân lý thì ngay tại đó gieo nhân sân hận.
-Khi khởi ý muốn người có cái thấy cái biết giống mình thì ngay tại đó gieo nhân tham chấp.
Đây là một chiều, khởi ý là nhân, gieo nhân vô minh/sân hận/tham chấp là quả. Đây là một pháp nhân quả.
Nhưng khi quán tiếp thì thấy rằng:
-Khi khởi ý muốn khai thị cho người hay muốn thay đổi người thì ĐÃ gieo nhân vô minh. Nghĩa là do vô minh mới khởi ý.
-Khi khởi ý tranh cãi để ra chân lý thì ĐÃ gieo nhân sân hận. Do sân hận mới khởi ý.
-Khi khởi ý muốn người có cái thấy cái biết giống mình thì ĐÃ gieo nhân tham chấp. Do tham chấp mới khởi ý.
Đây là nhân quả chiều ngược lại, nghĩa là Đã gieo nhân vô minh/sân hận/tham chấp là nhân, khởi ý là quả.

Quán xong chợt thấy rùng mình vì nhân quả diễn ra khít khao từng chút một.

Thứ Bảy, 5 tháng 8, 2017

Nhân chi sơ tính có bổn thiện hay không?

Có. Nhưng đó là cái thiện của Nhị Nguyên. Vì là cái thiện của Nhị Nguyên nên Nhân chi sơ chẳng những có tính bổn thiện mà Nhân chi sơ còn có tính bổn ác nữa.
Một đứa trẻ thơ có tham có sân hay không? Có. Hãy quán sát thật kỹ một đứa bé bú mẹ ta sẽ thấy nó vẫn tham vẫn sân. Khi đói mà không được bú, nó thể hiện sân bằng cách khóc ré lên, quẫy đạp đủ kiểu. Khi được mẹ  đưa vú vào miệng. Có đứa vẫn chưa hết sân đâu nhé! Nó cào cấu nhai cắn núm vú mẹ khiến mẹ phải đau đớn vô cùng. Và cái tham của một đứa trẻ thể hiện ở chỗ là khi đói nó ngấu nghiến ngậm lấy vú mẹ mà bú lấy bú để.
Cho nên một người tu để trở về cảnh giới của một đứa trẻ thơ thì người ấy vẫn còn kẹt trong Nhị nguyên.

Nhưng vì sao người ta vẫn hay so sánh một người tu đắc đạo (nghĩa là đã Kiến tánh/ nghĩa là đã Nhập Dòng) với một đứa trẻ?

Đó là vì chưa đủ duyên để hiện ra ngoài cho nên cái tham cái sân của một đứa trẻ thơ thuộc mức độ vi tế và siêu vi tế. Và một người tu đắc đạo cũng vậy. Họ qua được cái tham sân thô chứ cái vi tế và siêu vi tế vẫn còn ẩn nấp bên trong. Đó là lý do vì sao những vị tu thiền định đạt đến mức thiền cao nhất, vào được cảnh vô sắc giới nhưng họ vẫn không thành Phật được dù họ cực thiện. Là vì cái tham của họ đi vào mức siêu vi tế rồi. Cho nên cái thiện của họ vẫn là cái thiện của Nhị Nguyên, không phải cái thiện của thực tánh.

Trước đây tôi từng ảo tưởng về kiểu tu để trở về cảnh giới của trẻ thơ. Nhưng khi được thiện tri thức khai thị cho pháp Nhị Nguyên mới biết được rằng cảnh giới ấy chỉ là bước khởi đầu cho con đường tu mà thôi, chưa phải là đích đến.

CHIÊU CẢM

Nếu mình thường xuyên suy nghĩ tiêu cực, nói lời tiêu cực, phán xét lỗi người này người nọ thì một thời gian sau mình toàn gặp chuyện xấu chuyện tiêu cực. Vì sao lại như vậy?

Trong mỗi người luôn có những hạt giống từ thiện đến ác, từ cực thiện đến cực ác. Cứ người ta có cái xấu gì thì mình có cái xấu ấy. Nhưng do hạt giống xấu của họ đủ duyên rồi nên nó mới trổ, còn hạt giống xấu của mình chưa đủ duyên nên nó ẩn. Cho nên ai xấu cái gì thì mình xấu cái nấy chứ mình đâu có tốt hơn hay thiện lành hơn ai đâu. Nhưng hạt thiện hay xấu chỉ trổ khi đủ duyên. Hạt xấu của mình chưa đủ duyên để trổ nhưng tối ngày mình thay vì tưới nước cho hạt thiện thì mình không tưới, mình cứ nhắm hạt xấu mà tưới miết thì khi đủ duyên quả tự trổ là điều dĩ nhiên rồi.

Cứ để ý thì thấy, cứ mình hay chê bai một điều xấu nào đó của người khác thì thời gian sau mình cũng hành động xấu y chang vậy luôn. Cái này tôi từng trải nghiệm rồi nè! Cứ tôi chê bai ai cái gì thì thời gian sau tôi dính vào cái xấu đó luôn.

Cái này người đời gọi là tự mình chiêu cảm quả xấu đến với mình!

Ứng dụng pháp nhị nguyên thì sẽ biết rằng khi mình thấy một điều xấu của người nào đó thì nên biết rằng mình cũng có cái xấu ấy. Khi biết mình cũng xấu giống họ thì không dám tùy tiện mà chê bai người, khi không dám tùy tiện chê bai người thì không có tưới tẩm cho hạt giống xấu, khi hạt giống không được tưới tẩm thì làm sao đủ duyên mà trổ quả.


Cho nên khi thấy bất cứ điều gì bất như ý thì hãy thu tâm lại để tự thấy mình cũng giống y như vậy khi đủ duyên!

Thứ Sáu, 4 tháng 8, 2017

Thoát khỏi thiện ác tốt xấu

Khi còn trong nhị biên thì tất phải chịu ảnh hưởng của thiện ác tốt xấu. Nhưng bản chất ai cũng muốn mình thiện mình tốt cho nên tìm cách thể hiện ra ngoài toàn cái thiện cái tốt, còn cái xấu thì tìm cách giấu vào bên trong. Nhưng cái xấu khi được giấu vào trong thì chỉ là đá đè cỏ mong chờ cơ hội được bùng phát ra ngoài. Hễ càng đè thì càng bức xúc cho nên chúng ta hay dùng đủ mọi cách để cho cái xấu xì hơi bớt ra ngoài (chứ cứ giấu nó ở bên trong miết thì chịu gì nỗi).

Ví dụ cụ thể là khi vào các trang mạng xã hội, chúng ta hay sử dụng nhiều nick cùng lúc. Cái nick chính thức thì rất tốt và đạo mạo, còn những nick mà người thân hay người quen không biết thì chúng ta sử dụng để xì bớt cái xấu ra ngoài. Còn ngoài đời thì bộ mặt lúc ở công sở khác với bộ mặt lúc ở nhà, khác với bộ mặt lúc ở quán nhậu,…… Do vậy mà có câu nói một người có nhiều mặt hay có nhiều vai diễn là thế đó.

Nếu cứ phải xoay quần với các vai diễn với các bộ mặt, với sự thiện ác tốt xấu như vậy thì rất là mệt mỏi và cũng chẳng thể giải quyết rốt ráo gì cả.

Khi chúng ta đi vào pháp nhị nguyên thì cứ cái gì nổi lên bề mặt, chúng ta tập quán chiếu mặt đối lập của nó ở bên trong. Khi nhìn thấy được cả hai mặt thì tự nhiên mọi thứ quay về với thực tánh hay với bản thể. Vậy là thoát khỏi tốt xấu thiện ác.

Ví dụ có bạn hỏi: “Tôn trọng người chính là tôn trọng mình. Yêu thương nguời chính là đang yêu thương mình điều đó có đúng không?”

Trả lời: Thực tánh của chúng ta đã là tôn trọng và yêu thương rồi. Do chúng ta đề cao bản ngã của mình quá nên mới sinh ra cái gọi là không tôn trọng và không yêu thương. Và để đối trị lại điều ấy thì chúng ta tìm cách tôn trọng và yêu thương. Luôn cố gắng như vậy sẽ rất mệt mỏi. Khi trở về với thực tánh thì điều ấy là tự nhiên, không cần phải làm gì cả. Làm sao để trở về? Đó là thấu cho được nhị biên. Khi ép mình phải tôn trọng và yêu thương thì có nghĩa là bên trong đã có sự không tôn trọng và không yêu thương. Nhìn ra được hai mặt đối lập này thì thực tánh mới hiện ra được.

Nhị biên/Nhị nguyên nghĩa là: cái gì cũng đi nguyên cặp đối lập mà ko thể tách rời, ví dụ: vui buồn, xấu đẹp, đúng sai, thiện ác, chánh tà, được mất, thành bại, phàm thánh, sanh tử, khỏe bệnh, sanh lão...vvv


Thứ Tư, 2 tháng 8, 2017

Kể truyện trường thiền cho mọi người nghe nha!

Ở một trường thiền nọ, có một vị thiền sư hướng dẫn thiền cho thiền sinh quốc tế. Nghĩa là mạnh ai nói tiếng nấy. Để hiểu thì thông qua ngôn ngữ thứ 3. Vi diệu là vị sư này không rành ngôn ngữ thứ 3 lắm!

Ai cũng phải câm nín, không được giao tiếp nói chuyện gì cả. Mỗi ngày vào buổi trưa có 2 tiếng đồng hồ, vị sư già sẽ đến cho mọi thiền sinh trình pháp. Ai có vấn đề thắc mắc câu hỏi gì thì nêu ra cho thầy. Trên đời này 1 trong những điều khó khăn nhất là đối diện với thầy. Đặc biệt là người mê ăn ham ngủ thì càng không dám nên mỗi ngày có 2 h kinh hoàng như vậy. Vậy mà vị sư phụ trách thiền sinh chẳng hiểu gì về nỗi kinh hoàng này cả, ngày nào cũng đi dạo dạo mấy cái cốc lôi đầu từng người bắt phải đến trình pháp với thầy. Trời, có hành mới có cái mà trình chớ, toàn ăn với ngủ không thì biết gì mà trình. Nhưng mà bị ép quá nên phải nặn óc cho ra cái gì đó để trình. Mà để có gì đó để trình thì chỉ còn cách là phải hành thiền. Vậy là buộc phải hành thiền.

Vi diệu ở chỗ trò ngồi trò trình, trò nói gì là chuyện của trò, thầy chỉ ngồi im lặng nhìn trò. Vậy là xong, câu hỏi nêu ra không có câu trả lời, trò tự hỏi tự trả lời luôn. Trò ngồi nói quá trời, thầy chỉ nói 1-2 từ, khá hơn thì 1-2 câu, vậy là xong. Nhưng mà cái vi diệu nằm ở chỗ, chỉ cần trò có trình thì trong khoảng thời gian rất ngắn trò tự có câu trả lời luôn. Có khi câu hỏi nêu ra vừa dứt thì câu trả lời tự đến luôn, không cần thầy phải nói gì cả, thầy chỉ ngồi nghe thôi. Còn hôm nào lười lười không trình, giấu vấn đề trở vào trong tự nghiền ngầm tìm câu trả lời thì phải mất thời gian rất lâu, có khi từ 1-2 ngày. Vậy mà khi trình với thầy thì câu trả lời đến ngay trong ngày hôm đó dù thầy chẳng nói gì cả.

Mọi người thấy vi diệu chưa! Thật ra cái vi diệu này nằm ở chỗ, trò được “thế giới ngầm” hỗ trợ, nghĩa là được thiện tri thức giúp đỡ. Thiện tri thức ở đây có nghĩa rất rộng. Hay nói cách khác là khi chạm được vào pháp thân của chư Phật, chư Thánh và chư Bồ tát thì được hỗ trợ cho nên vấn đề được giải quyết rất nhanh. Làm sao để chạm vào pháp thân của thiện tri thức?

Thứ nhất cần phải có định, nghĩa là tâm không loạn, do đó không được hý luận. Hý luận rất lãng phí năng lượng và thời gian. Tâm định thôi cũng chưa đủ mà còn cần có tâm chân thật. Định với tâm chân thật thì đó là chánh định. Khi đạt được chánh định rồi thì sẽ chạm vào được pháp thân của thiện tri thức.

Túm lại, mục đích tôi viết bài này là để trả lời cho câu hỏi một vị hỏi tôi rằng có phải tôi thường viết bài là để giúp mọi người ra khỏi chỗ kẹt không. Không phải như vậy. Ai kẹt thì tự tìm cách ra, đâu có liên quan gì đến tôi đâu. Tôi viết là để trình pháp cho thiện tri thức hihihi.